Bản tin cải cách hành chính ngày 01/4/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. TPHCM: Zalo góp phần đẩy nhanh tiến độ làm căn cước công dân

3. Công ty nước ngoài “thán phục” hiệu suất làm việc cực nhanh của Quảng Ninh

4. An Giang tăng cường công tác cải cách hành chính

5. Bắc Ninh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Bộ Công an: Hạn chế hồ sơ giấy tờ, tiết kiệm thời gian cho dân

7. Ngành Y tế: Phát triển nhờ ứng dụng công nghệ thông tin

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Tăng lương hưu thêm 10% từ 1/7/2021 khó khả thi?

9. Để việc kê khai tài sản không còn là... hình thức

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. Tỉ lệ hồ sơ giấy vẫn chiếm trên 93%

11. Khai thông thủ tục hành chính

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình – Trưởng ban Chỉ đạo cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ vừa ký Quyết định  ban hành Kế hoạch hoạt động năm 2021 của Ban.

Năm 2021, Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ sẽ triển khai một loạt các nhiệm vụ về công tác chỉ đạo, điều hành; xây dựng thể chế, chính sách và tổ chức triển khai thực hiện về cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh và cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức…

Trong đó, Ban Chỉ đạo CCHC của Chính phủ sẽ tiếp tục triển khai đồng bộ các nội dung CCHC; đề cao trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất sáng kiến CCHC đối với các thành viên được giao chủ trì chương trình CCHC theo phân công của Chính phủ; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đề xuất xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp của các bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ giải quyết thủ tục hành chính.

Về môi trường đầu tư, kinh doanh, thực hiện đơn giản hóa, công khai, minh bạch mọi thủ tục hành chính tạo thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp thực hiện và giám sát, kịp thời tháo gỡ những điểm nghẽn. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện thủ tục hành chính và kiến nghị sửa đổi những quy định về thủ tục không còn phù hợp gây vướng mắc, khó khăn cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện. (Baophapluat.vn 01/4, Việt Nga)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Zalo góp phần đẩy nhanh tiến độ làm căn cước công dân

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công an về triển khai sản xuất, cấp và quản lý thẻ căn cước công dân gắn chip, nhiều tỉnh thành sử dụng kênh Zalo để đẩy nhanh tiến độ, đảm bảo kế hoạch.

Tại TP.HCM, Công an quận 4 và quận Tân Phú là hai đơn vị đầu tiên ứng dụng công nghệ thông tin để giảm thiểu việc đi lại cho người dân. Cụ thể, Công an quận 4 cho phép dân kê khai, đặt lịch nộp hồ sơ làm căn cước công dân (CCCD) tại nhà qua tài khoản Zalo. Sau khi “Quan tâm” tài khoản “Công an quận 4”, người dân có thể điền hồ sơ trực tuyến tại chức năng “Thủ tục”, sau đó đặt lịch lên cơ quan công an để chụp ảnh, lấy vân tay, nộp lệ phí.

Trong khi đó, tài khoản Zalo “Công an quận Tân Phú - TP.HCM” vừa triển khai thêm 2 tính năng gồm “Bấm số tự động làm CCCD” và “Hỏi đáp CCCD”. Người dân thắc mắc về đối tượng ưu tiên cấp căn cước gắn chip điện tử, hồ sơ cần chuẩn bị, thời gian làm việc, địa điểm cấp, mức lệ phí… đều được tài khoản Zalo tự động giải đáp.

Đặc biệt, người dân có nhu cầu làm CCCD có thể sử dụng tính năng “Bấm số tự động” để lấy số tại nhà, sau đó lên trụ sở theo lịch hẹn để tránh mất thời gian chờ đợi.

Ông Nguyễn Duy Đông - Phó trưởng Công an quận Tân Phú chia sẻ: “Nhận thấy người dân thường xuyên tương tác với trang Zalo công an quận nên ban chấp hành quyết định triển khai thêm tính năng, tiện ích nhằm phục vụ nhân dân, nhất là giai đoạn cấp thẻ CCCD gắn chip điện tử. Công an quận nhận thấy, Zalo là mạng xã hội ngày càng phổ biến và gần gũi, một trong những ứng dụng hiệu quả, dễ dàng tiếp cận, chia sẻ và chọn lọc thông tin. Do đó, việc sử dụng mạng Zalo hợp lý mang lại hiệu quả công việc cao".

Bên cạnh đó, trang Zalo “Công an thành phố Buôn Ma Thuột” tích hợp 2 tính năng dành riêng cho thủ tục cấp CCCD gắn chip là “Thông báo cấp căn cước công dân” và “Giải đáp về CCCD”. Người dân chọn thông tin muốn tìm hiểu, trang Zalo tự động trả về kết quả tương ứng. Các thông tin do lực lượng công an cung cấp đầy đủ, chi tiết và cụ thể như triển khai tăng ca cấp CCCD lưu động, lịch cấp, thời gian, địa điểm, hồ sơ…

Dịch Covid-19 khiến Hải Dương gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai cấp CCCD gắn chip. Thời gian giãn cách xã hội cũng như thực hiện các biện pháp phòng dịch khiến quá trình thực hiện chậm trễ hơn địa phương khác. Để đảm bảo tiến độ, Công an Hải Dương sử dụng Zalo cập nhật các thông tin, hướng dẫn về địa điểm, trình tự làm thủ tục căn cước tại tài khoản chính thức của công an tỉnh.

Thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách thủ tục hành chính của các cơ quan nhà nước mang lại nhiều kết quả tích cực. Trong đó, việc ứng dụng Zalo trong cấp CCCD góp phần rút ngắn thời gian, giảm phiền hà, được đánh giá là cách làm hay, sáng tạo, nhận sự đồng tình và ủng hộ từ người dân. (Zingnews.vn 31/3)Về đầu trang

Công ty nước ngoài “thán phục” hiệu suất làm việc cực nhanh của Quảng Ninh

Ngày 31/3, tỉnh Quảng Ninh tổ chức Lễ trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Dự án công nghệ tế bào quang điện Jinko Solar PV Việt Nam có tổng mức đầu tư 500 triệu USD cho Công ty Jinko Solar Hong Kong. Đây là nhà đầu tư thứ cấp đầu tiên đầu tư vào KCN Sông Khoai, TX Quảng Yên.

Theo kế hoạch, dự án sẽ được đầu tư, đi vào hoạt động chính thức sau 7 tháng kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Dây chuyển công nghệ và máy móc, thiết bị của dự án sử dụng hệ thống máy móc thiết bị mới 100%, nhập khẩu đồng bộ từ nước ngoài; doanh thu bình quân năm đạt gần 1.300 triệu USD; tạo việc làm cho trên 2.000 lao động.

Phát biểu tại lễ trao giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh bày tỏ vui mừng được đón, hợp tác với Công ty Jinko Solar Hong Kong. Đây là tín hiệu vui, bước khởi đầu tốt đẹp để Quảng Ninh bước sang nhiệm kỳ mới với nhiều thành công mới.

Lãnh đạo tỉnh đề nghị nhà đầu tư hạ tầng KCN Sông Khoai là Tập đoàn Amata chủ động, khẩn trương triển khai đúng tiến độ thực hiện dự án để tiếp tục thu hút thêm các nhà đầu tư thứ cấp.

Đại diện Jinko Solar Hong Kong đã đánh giá rất cao hiệu suất làm việc và mức độ chuyên nghiệp của tỉnh Quảng Ninh. Đồng thời, tin tưởng sự kết hợp hoàn hảo giữa hiệu suất của Quảng Ninh và tốc độ của Jinko chắc chắn sẽ thúc đẩy việc làm và kinh tế địa phương, cải thiện đời sống của người dân địa phương. Jinko Solar Hong Kong cam kết sẽ tuân thủ nghiêm ngặt luật pháp và các quy định của Việt Nam.

Dự kiến, dự án sẽ động thổ vào giữa đến cuối tháng 4 và chính thức đi vào sản xuất cuối tháng 10 năm nay. (Nongnghiep.vn 01/4, Cường Vũ)Về đầu trang

An Giang tăng cường công tác cải cách hành chính

10 năm thực hiện công tác cải cách hành chính (CCHC) giai đoạn 2011-2020 ở An Giang đạt nhiều kết quả khả quan, triển khai đồng bộ, đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực, góp phần nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp (DN) đối với CCHC của tỉnh.

Ban Chỉ đạo CCHC đã thực hiện tốt vai trò quản lý, điều hành, tham mưu UBND tỉnh triển khai nhiều nội dung CCHC đạt kết quả quan trọng. Các cơ quan, ban, ngành tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố tích cực tự nghiên cứu, áp dụng hoặc nghiên cứu, học hỏi từ nơi khác để vận dụng, triển khai những giải pháp, mô hình hay. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, hướng đến mục tiêu xây dựng chính quyền kiến tạo, phục vụ.

Việc công khai và đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC) theo quy định của Chính phủ, bộ, ngành tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, DN. TTHC được công khai, minh bạch, đơn giản hóa đã xóa bỏ những rào cản, giảm chi phí thực hiện cho người dân, DN, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Việc tiếp nhận, trả kết quả TTHC qua đường bưu điện bước đầu đã mang lại hiệu quả nhất định.

An Giang cũng đã ban hành, triển khai đánh giá, xác định chỉ số CCHC đối với các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã hàng năm. Đây là cơ sở để đánh giá khách quan mức độ hoàn thành nhiệm vụ, sự quan tâm, chỉ đạo của thủ trưởng các cơ quan, địa phương đối với CCHC, tạo động lực thi đua giữa các ngành, các cấp trong tỉnh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước các cấp tại An Giang thời gian qua đáp ứng yêu cầu của cuộc công nghiệp 4.0 gắn với đẩy mạnh hiệu quả CCHC. Số TTHC liên quan đến cá nhân, tổ chức được cải cách theo hướng tinh giản, giảm chi phí, thời gian thực hiện.

TTHC được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của người dân và DN đạt trên 90% (năm 2020). Tổ chức thực hiện hiệu quả Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; kiểm soát chặt chẽ việc quy định TTHC ngay từ khâu dự thảo. Do đó, từ năm 2016 đến nay, tỉnh không ban hành văn bản có quy định TTHC; 100% cơ quan hành chính trong tỉnh thực hiện cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” trong giải quyết TTHC; giảm 20% trong tổng thời gian giải quyết TTHC trên cơ sở giảm bớt giấy tờ, rút ngắn thời gian, quy trình giải quyết, thông qua mạng Internet, bưu chính, phân cấp thẩm quyền giải quyết cho cấp cơ sở; 100% Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp tỉnh, cấp huyện hợp đồng trả kết quả TTHC đến tận nhà người dân qua dịch vụ bưu chính.

Hiệu quả CCHC thể hiện rõ nét qua kết quả đánh giá, xếp hạng: chỉ số CCHC của tỉnh tăng từ hạng 36/63 tỉnh, thành phố (năm 2016) lên hạng 8 (năm 2017, 2018) và hiện đứng hạng 11/63 tỉnh, thành phố. Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh tăng từ hạng 39 (năm 2015) lên hạng 21/63 tỉnh, thành phố. Chỉ số quản trị hành chính công từ hạng 57/63 lên hạng 21/63 tỉnh, thành phố. Chỉ số hài lòng của người dân đứng hạng 8/63 tỉnh, thành phố trong cả nước. (Baoangiang.com.vn 01/4, Hữu Huynh)Về đầu trang

Bắc Ninh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư

Bước vào năm 2021, nhằm triển khai hiệu quả mục tiêu cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh ban hành, thực thi nhiều giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, chính quyền, gắn trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong lĩnh vực công tác này.

Theo đó, toàn tỉnh thực hiện nghiêm túc các kết luận của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy và rà soát các cơ chế, chính sách của tỉnh ban hành trong lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội; nhất là lĩnh vực đất đai, xây dựng cơ bản, tài chính ngân sách, bảo đảm đúng quy định của Ðảng và pháp luật Nhà nước. Ban Cán sự đảng UBND tỉnh chỉ đạo rà soát các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trong giai đoạn mới, theo hướng ưu tiên thu hút các tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong nước và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực: Công nghiệp công nghệ cao; tài chính; thương mại - dịch vụ; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, khu vui chơi, giải trí quy mô lớn; nông nghiệp công nghệ cao… chuẩn bị các điều kiện tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2021; bảo đảm thực hiện tốt các chương trình đề ra, kết nối doanh nghiệp trong nước và ngoài nước; phát triển kinh tế tư nhân.

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức triển khai nhiều nội dung cụ thể nhằm tiếp tục rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính. Ðồng thời, tỉnh đẩy mạnh công tác giám sát, phản biện xã hội; tổ chức hiệu quả các cuộc vận động và phong trào do MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội phát động. Quá trình này, yêu cầu các Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành, cấp ủy viên được phân công phụ trách theo dõi địa bàn, lĩnh vực thường xuyên giữ mối liên hệ, nắm chắc tình hình, cùng với địa phương, đơn vị, theo thẩm quyền đề xuất, xử lý kịp thời các vấn đề phức tạp, "điểm nghẽn" cần tháo gỡ. (Nhân dân 01/4)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Công an: Hạn chế hồ sơ giấy tờ, tiết kiệm thời gian cho dân

Ngày 31-3, Bộ Công an tổ chức họp bàn, kiểm tra tiến độ triển khai kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGDC) với các cơ sở dữ liệu nghiệp vụ của ngành công an. Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc, Thứ trưởng Bộ Công an chủ trì cuộc họp.

Theo báo cáo, một số đơn vị nghiệp vụ đã kết nối, chia sẻ dữ liệu thành công với CSDLQGDC và đang trong quá trình chuẩn hóa, hoàn thiện và bổ sung một số nội dung liên quan như sửa đổi, bổ sung trường thông tin, biểu mẫu cũng như đề xuất xây dựng các văn bản pháp lý liên quan để phục vụ công tác đặc thù của đơn vị.

Về cơ sở hạ tầng, hệ thống đường truyền dẫn bảo mật đã được triển khai đến các đơn vị nghiệp vụ có nhu cầu cần kết nối. Song song với đó, về mặt kỹ thuật, Trung tâm dữ liệu quốc gia về dân cư có cổng đồng bộ thông tin hoàn toàn có thể đáp ứng được việc kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu của các đơn vị nghiệp vụ.

Cũng tại cuộc họp, một vấn đề được đưa ra là hiện nay các cục nghiệp vụ có cơ sở dữ liệu mang đặc thù riêng, được xây dựng trên nền tảng khác nhau cũng như việc quản lý, sử dụng những cơ sở dữ liệu được này điều chỉnh bởi những văn bản pháp luật khác nhau; còn nhiều hồ sơ, tài liệu vẫn chưa được số hóa điện tử…

Do vậy, đại diện lãnh đạo các đơn vị đã thảo luận và thống nhất các giải pháp và quyết tâm hoàn thành triển khai kết nối với cơ sở dữ liệu dân cư trong thời gian sớm nhất.

Phát biểu chỉ đạo, Thứ trưởng Nguyễn Duy Ngọc yêu cầu các đơn vị phải tiếp tục bám sát, tổ chức thực hiện hiệu quả các nội dung công việc đã được phân công đảm bảo đúng tiến độ đã đề ra.

Thứ trưởng yêu cầu các đơn vị không được phép chậm trễ, phải quyết tâm thực hiện trước mốc thời gian khi Luật Cư trú có hiệu lực trong tháng 7-2021, trong đó có yêu cầu về hạn chế sử dụng hồ sơ giấy tờ, tiết kiệm thời gian thực hiện thủ tục hành chính cho người dân.

Thời gian tới, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội sẽ chủ trì làm việc với các đơn vị liên quan để thống nhất về nội dung, giải pháp kết nối, chia sẻ CSDLQGDC; đồng thời tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an báo cáo Chính phủ về lộ trình triển khai chia sẻ dữ liệu và ban hành các văn bản quy định về việc quản lý, sử dụng CSDLQGDC trên “mạng ngoài” (chia sẻ với các Bộ, ngành khác), cũng như trên “mạng trong” (mạng nội bộ của lực lượng công an). (Plo.vn 31/3, Tuyến Phan)Về đầu trang

Ngành Y tế: Phát triển nhờ ứng dụng công nghệ thông tin

Theo số liệu thống kê mới nhất từ Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế, Bộ Y tế đã công bố 100% thủ tục hành chính được cung cấp trực tuyến mức độ 4, 100% dịch vụ công trực tuyến của Bộ Y tế đã được kết nối với Cổng dịch vụ công Bộ Y tế.

Đối với ngành Dược, Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế cho hay, toàn bộ hồ sơ cấp số đăng ký của Cục Quản lý Dược đã được hoàn thiện trên cổng dịch vụ công cấp độ 4, do đó doanh nghiệp có thể ở nhà tra cứu được tình trạng của hồ sơ của đơn vị mình.

Bên cạnh đó, 100% bệnh viện đã triển khai hệ thống thông tin bệnh viện (HIS). Đã có 99,5% cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc đã kết nối liên thông với hệ thống giám định của Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.

Y tế từ xa cũng có bước phát triển vượt bậc, cùng với hệ thống công nghệ thông tin bệnh viện đã từng bước đưa y tế Việt Nam vươn cao, vươn xa. Hiện toàn bộ 63 tỉnh, thành phố đã có bệnh viện đăng ký, trong đó nước bạn Lào (02 bệnh viện) và Campuchia (01 bệnh viện) đăng ký làm bệnh viện tuyến dưới, một số bệnh viện/trung tâm y tế tại vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo cũng đã đăng ký tham gia Đề án Khám chữa bệnh từ xa.

TS Cao Hưng Thái - Phó Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế chia sẻ: “Tới nay, hệ thống mạng lưới khám, chữa bệnh từ xa từ trung ương, địa phương tới các bệnh viện huyện, cũng như trung tâm y tế trên cả nước đã được kết nối. Các bệnh viện tham gia Đề án của tuyến trên đã không ngừng mở rộng, dành thời gian thường quy để hội chẩn trực tuyến, trao đổi chuyên môn với tuyến dưới. Đề án đã phát huy hiệu quả rõ rệt trong công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Rút ngắn khoảng cách của y tế tuyến trên và tuyến dưới, thậm chí là tuyến huyện. Hàng nghìn buổi tư vấn, hỗ trợ, đào tạo chuyên môn, chẩn đoán và tư vấn điều trị trực tuyến đã được tổ chức. Hàng vài chục ca bệnh nặng, khó đã được cấp cúu kịp thời ngay tại tuyến dưới với sự hỗ trợ từ xa của chuyên gia tuyến trên. Hàng vài chục ca bệnh được hướng dẫn xứ trí trước khi chuyển tuyến một cách an toàn”.

Tại cuộc họp về ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành y tế mới được tổ chức, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long nhấn mạnh, hồ sơ sức khoẻ người dân là trung tâm của mọi trung tâm. Hiện đã có hơn 97,5 triệu hồ sơ sức khoẻ cá nhân. Đây là trung tâm để triển khai các dịch vụ khác như đăng ký khám chữa bệnh online, quản lý thông tin chống dịch...

Lấy ví dụ từ lĩnh vục y tế dự phòng, Bộ trưởng Nguyễn Thanh Long nhắc lại yêu cầu về việc tiêm chủng online, có nghĩa là cập nhật thông tin tiêm chủng vaccine của mỗi người lên hệ thống QR-code để tiến hành thực hiện “hồ sơ vắc xin”. Thông tin này sẽ cập nhật đầy đủ lịch trình tiêm chủng của mỗi người dân, link với hồ sơ sức khoẻ điện tử. (Daidoanket.vn 01/4, Đức Trân) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tăng lương hưu thêm 10% từ 1/7/2021 khó khả thi?

Bộ LĐ-TB-XH đang lấy ý kiến về đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hàng tháng đối với 8 nhóm đối tượng gồm cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động; quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng.

Đề xuất này đưa ra 2 phương án tăng lương hưu, trợ cấp. Theo đó, phương án 1, điều chỉnh tăng từ ngày 1/7/2021, với mức tăng dự kiến là 10%. Mức tăng này nhằm bù đắp trượt giá, chia sẻ một phần thành quả từ phát triển kinh tế năm 2019 và năm 2020 không điều chỉnh lương hưu cũng như trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp.

Ước tính, theo phương án này, sẽ có khoảng hơn 925.000 người được điều chỉnh từ ngân sách Nhà nước. Dự kiến, kinh phí tăng thêm trong 6 tháng còn lại của năm 2021 là 44.538 tỷ đồng, bao gồm cả tiền đóng bảo hiểm y tế.

Số người được thụ hưởng từ nguồn Quỹ Bảo hiểm xã hội khoảng 2,15 triệu người, với mức dự kiến kinh phí tăng thêm khoảng 144.585 tỷ đồng.

Phương án 2 là điều chỉnh tăng từ ngày 1/1/2022 với mức 15%. Theo lý giải của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, đề xuất mức điều chỉnh là 15% nhằm đảm bảo bù đắp trượt giá để duy trì giá trị của khoản lương hưu, trợ cấp hiện hưởng của người thụ hưởng do tác động bởi yếu tố lạm phát. Mức này để chia sẻ một phần thành quả từ phát triển kinh tế của 3 năm 2019, 2020 và năm 2021 do trong năm 2020 và năm 2021 không thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội.

Mức điều chỉnh trên thấp hơn mức lãi suất đầu tư Quỹ Bảo hiểm xã hội trong 3 năm 2019, 2020 và năm 2021 (khoảng gần 17%), như vậy phù hợp với tốc độ tăng trưởng đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội.

Thực hiện theo phương án này thì số đối tượng được điều chỉnh từ nguồn ngân sách Nhà nước chi trả ước là 896.823 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 47.226 tỷ đồng (bao gồm cả khoản đóng bảo hiểm y tế). Số đối tượng được điều chỉnh từ nguồn Quỹ Bảo hiểm xã hội chi trả ước là 2.283.819 người, dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 168.045 tỷ đồng.

Việc thực hiện điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng đối với nhóm đối tượng nghỉ hưu trước năm 1995 và có mức lương hưu đang hưởng thấp hơn 2,5 triệu đồng/tháng thì có khoảng 426.000 người được điều chỉnh. Dự kiến kinh phí tăng thêm nếu thực hiện điều chỉnh từ ngày 1/1/2022 là 700 tỷ đồng.

Ông Phạm Minh Huân, nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH ủng hộ việc tăng lương hưu do sẽ góp phần cải thiện lời sống của nhóm người hết độ tuổi lao động. Tuy nhiên, ông Phạm Minh Huân cho rằng, việc tăng lương hưu cần tính đến 3 vấn đề chính gồm mức tăng, thời điểm tăng và chọn phương án tăng nào.

“Lương hưu nằm trong tổng thể chính sách cải cách bảo hiểm xã hội, thuộc đề án về chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công. Việc tăng lương hưu cần được tính toán cân nhắc để phù hợp với từng nhóm đối tượng hưu trí. Nếu lương hưu có lộ trình tăng riêng, thì ban chỉ đạo cải cách chính sách tiền lương cần có tham mưu cho Chính phủ, vì ngoài đối tượng hưởng lương hưu còn những người đang tại chức”, ông Phạm Minh Huân nói.

Nguyên Thứ trưởng Bộ LĐ-TB-XH cũng cho rằng, khi tăng lương hưu cần cân nhắc kỹ về nguồn tăng. Theo đó nguồn để tăng lương hưu hiện nay có 2 phần. Với nhóm lao động về hưu trước 1/1/1995, nguồn để tăng lương sẽ do ngân sách Nhà nước chi trả. Với những người nghỉ hưu từ 1/1/1995 trở lại đây sẽ do quỹ Bảo hiểm xã hội chi trả. Việc tăng lương hưu cần tính toán kỹ để không ảnh hưởng quá nhiều đến ngân sách Nhà nước.

Ông Phạm Minh Huân cũng cho rằng, dựa vào tình hình kinh tế, diễn biến dịch bệnh còn phức tạp, khó lường, nên việc tăng lương hưu thêm 10% trong năm nay là khó khả quan. Do đó cần tính để có phương án tăng thêm 15% vào năm 2022.

“Quốc hội đã có Nghị quyết để lùi việc tăng lương cơ sở do kinh tế khó khăn. Ưu tiên cho đối tượng đã nghỉ hưu trước là tốt, song cũng cần hài hòa lợi ích giữa những người đã về hưu và những lao động đang tại chức ra sao. Nếu năm 2022 tăng lương hưu thêm 15%, thì cũng cần tính đến bài toán tăng lương cho người lao động đang công tác, làm việc thêm bao nhiêu cho tương xứng?”, ông Huân nhấn mạnh.

Chuyên gia này cũng cho rằng, chuyện cải thiện đời sống của người nghỉ hưu cần thực hiện từng bước, song bên cạnh đó cần có những chính sách đảm bảo mức lương thực tế, kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng ở mức ổn định. (Vov.vn 31/3, Nguyễn Trang)Về đầu trang

Để việc kê khai tài sản không còn là... hình thức

Theo Nghị định 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, thì các cơ quan, tổ chức, đơn vị tổ chức thực hiện việc kê khai, công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập lần đầu xong trước ngày 31/3/2021. Ước tính số cán bộ công chức, viên chức phải kê khai tài sản thu nhập lần đầu có thể lên tới 4 triệu người.

Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 và Nghị định 130/2020/NĐ-CP có nhiều điểm mới, trong đó quy định cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập được bổ sung nhiều thẩm quyền hơn, trong đó có thẩm quyền yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm, như: Các ngân hàng, tổ chức tín dụng, cơ quan thuế, công an, hải quan, những cơ quan tổ chức khác phải cung cấp thông tin có liên quan để phục vụ cho việc xác minh tài sản, thu nhập.

Hằng năm sẽ chọn 20% số cơ quan thuộc diện mình kiểm soát. Trong từng cơ quan thì đặt ra mục tiêu xác minh được 10% số cán bộ, công chức thuộc diện kê khai hằng năm. Và trong số 10% được xác minh thì sẽ có một người đứng đầu hoặc cấp phó của cơ quan đó rồi bốc thăm để tìm ra người ngẫu nhiên vào diện xác minh; quy định về hình thức xử lý, chế tài đối với các đối tượng không trung thực.

Bên cạnh đó, Chương trình công tác năm 2021 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ bổ sung nhiệm vụ xây dựng Nghị định quy định Cơ sở dữ liệuquốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

Mặc dù được bổ sung nhiều điểm mới, nhưng nhiều người vẫn tỏ ra nghi ngờ về hiệu quả phòng ngừa tham nhũng thông qua việc kiểm soát tài sản, thu nhập.

Bởi, việc cán bộ, công chức phải kê khai tài sản, thu nhập đã được thực hiện hơn chục năm qua, những số liệu về tài sản đã khai suốt những năm qua chúng ta sẽ bỏ hết để khai lại từ đầu đã khiến nhiều người băn khoăn, thắc mắc, liệu có phải là “xí xóa” hay không?

Theo quy định, người kê khai lần đầu mà tài sản có giá trị hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng thì vẫn không phải giải trình. Vậy, tài sản do tham nhũng mà có sẽ trở thành tài sản hợp pháp trong tương lai?

Nhân dân thấy không ít cán bộ, công chức của chúng ta giàu có, phô trương. Họ sở hữu những căn hộ đắt tiền, xe hơi sang trọng và con cái ngay từ bé đã học trong các trường quốc tế danh tiếng, lớn lên thì đi du học nước ngoài... Vậy mà các cơ quan chức năng không thể phát hiện được những sai phạm trong kê khai tài sản, thu nhập để xử lý. Vì sao? Phải chăng công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát tổ chức kê khai tài sản, thu nhập dường như vẫn còn mang nặng tính hình thức.

Việc tổ chức kê khai tài sản, thu nhập được tiến hành trong thời gian qua vẫn nặng về có kê khai mà không chú ý tới việc công khai và chỉ được công khai trong phạm vi hẹp. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc so sánh, đánh giá đúng những tài sản mà người có nghĩa vụ kê khai đang sở hữu.

Do đó, việc kê khai đúng hay không, hợp lý hay không hợp lý khó định danh được chính xác, mà chủ yếu là trông chờ vào sự tự giác, trung thực của cán bộ, công chức, mà chưa tính đến nền công vụ phải có kiểm soát mang tính cưỡng chế.

Lần kê khai này, mỗi người phải nộp 2 bản khai, mỗi bản là 5 trang A4, thì sẽ có 40 triệu trang, vị chi là 80 nghìn tập giấy, giá mỗi tập giấy ước tính khoảng 60 nghìn đồng. Như vậy sẽ mất khoảng gần 5 tỷ đồng tiền giấy. Cộng với đó, mỗi cán bộ, công chức phải tốn ít nhất nửa ngày làm việc để hoàn thành bản kê khai. Vị chi, để hoàn tất 4 triệu bản kê khai ước tính phải mất hàng chục tỷ đồng và những thông tin trong bản kê khai không được công khai sẽ trôi vào nằm chất kệ, chất đống trong các kho lưu trữ... liệu những cụm từ “hình thức”, “đối phó”, “kê nhưng không khai”, “lãng phí và tốn kém”... còn được nhắc nhiều nữa hay không?

Việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức chỉ mới là một trong những giải pháp bước đầu, không phải là duy nhất để phòng ngừa tham nhũng.

Do vậy, các cơ quan lập pháp cũng cần nghiên cứu để hoàn thiện những giải pháp khác, đồng bộ hơn để Nhà nước có thể quản lý được tài sản của toàn xã hội; hạn chế được việc giao dịch bằng tiền mặt; mở rộng phạm vi công khai bản kê khai, cung cấp thông tin cho nhiều người biết; có quy định cụ thể việc giám sát của nhân dân đối với việc kê khai tài sản thu nhập của cán bộ, công chức; quy định rõ cán bộ, công chức phải thực hiện việc đăng ký bất động sản; quy định về xử lý tài sản không rõ nguồn gốc… đồng thời có chế tài mạnh để xử lý đối với những người kê khai gian dối.

Có như vậy thì việc phòng ngừa tham nhũng của chúng ta mới phát huy được hiệu quả như mong đợi. Đừng để 4 triệu bản kê khai trở thành giấy vụn, rồi làm mồi cho mối, mọt. (Vnca.cand.com.vn 01/4, Cù Tất Dũng)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Tỉ lệ hồ sơ giấy vẫn chiếm trên 93%

Theo ông Ngô Hải Phan - Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) (Văn phòng Chính phủ), đến nay, có 59 địa phương tổ chức Trung tâm hành chính công; 100% các bộ, ngành, địa phương đã kiện toàn hệ thống một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, giải quyết TTHC; chất lượng giải quyết hồ sơ đã có sự cải thiện rõ rệt, hầu hết các địa phương tỉ lệ giải quyết đúng hạn từ 90% trở lên.

Tuy nhiên, so với yêu cầu về đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia một cách toàn diện, sâu rộng của Đảng, Chính phủ thì việc tổ chức thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC hiện nay còn có một số hạn chế.

Hạn chế đầu tiên là việc tiếp nhận, giải quyết TTHC vẫn chủ yếu theo phương thức truyền thống, hồ sơ giấy. “Theo báo cáo của các bộ, ngành, địa phương, nhất là tại các địa phương tỉ lệ hồ sơ giấy chiếm 93,7%; hồ sơ điện tử 6,3%”, ông Ngô Hải Phan cho biết.

Việc tiếp nhận, giải quyết TTHC vẫn trên cơ sở hồ sơ giấy dẫn đến khó kiểm soát, đánh giá, dễ phát sinh tiêu cực; đồng thời, khó tạo dựng, duy trì, phát triển được các cơ sở dữ liệu do thông tin, kết quả thực hiện TTHC vừa là đầu vào, đầu ra, vừa giúp chuẩn hóa, cập nhật dữ liệu trên các cơ sở dữ liệu.

Bên cạnh đó, cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, hồ sơ, giấy tờ trong thực hiện TTHC tại các Bộ phận một cửa các cấp trên cơ sở kết nối chia sẻ dữ liệu của các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành với Hệ thống một cửa điện tử để sử dụng lại các hồ sơ, giấy tờ điện tử, giảm các thủ tục kiểm tra, xác nhận… chưa được thực hiện. Điều này dẫn đến vừa không phát huy được hiệu quả của các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, mà còn không khuyến khích được người dân, doanh nghiệp tham gia vào quá trình chuyển đổi số.

Nội dung công việc, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức trong việc tham gia vào quá trình số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết TTHC chưa được làm rõ; chưa có quy định về lưu trữ điện tử đối với hồ sơ TTHC dẫn đến việc lúng túng, thiếu thống nhất, chậm trễ trong thực hiện số hóa.

Trong hơn 1 năm qua, qua Cổng Dịch vụ công quốc gia, việc tiếp nhận, giải quyết hồ sơ TTHC (kể cả hồ sơ nộp trực tiếp) theo hướng không phụ thuộc địa giới hành chính đã được triển khai ở một số lĩnh vực có cơ sở dữ liệu tập trung tiêu biểu như: Nộp tiền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (thí điểm tại 5 địa phương là Hà Nội, TPHCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Thuận); Nộp lệ phí trước bạ ô tô, xe gắn máy (thí điểm tại Hà Nội và TPHCM); Nộp thuế cá nhân; Nộp thuế doanh nghiệp…

Theo ông Ngô Hải Phan, cải cách thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia có hiệu quả rất lớn đối với xã hội nên cần nghiên cứu mở rộng, nhất là khi triển khai số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết TTHC với nhiều cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thông tin được đưa vào vận hành và có sự kết nối, chia sẻ dữ liệu với nhau.

Bên cạnh đó, việc giám sát, đánh giá chất lượng giải quyết TTHC và đánh giá mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đã được triển khai, tuy nhiên chưa hình thành được cơ chế giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC đồng bộ theo thời gian thực từ hệ thống một cửa các cấp dẫn đến chưa thật sự kịp thời cung cấp thông tin cho chỉ đạo, điều hành, nhất là xử lý kịp thời hạn chế, bất cập, các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực.

Chính vì vậy, việc ban hành và triển khai thực hiện “Đề án đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC” sẽ nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ, góp phần thực hiện thành công chương trình chuyển đổi số quốc gia là cần thiết. (Baochinhphu.vn 31/3, Gia Huy)Về đầu trang

Khai thông thủ tục hành chính

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính” (gọi tắt là Đề án). Với quan điểm lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm để phục vụ; sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo chất lượng, hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền, Đề án được kỳ vọng góp phần quan trọng khắc phục những tồn tại, hạn chế trong giải quyết thủ tục hành chính (TTHC), hình thành công dân số, doanh nghiệp số trong xây dựng Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số.

Cách đây gần 3 năm, Chính phủ ban hành Nghị định số 61 quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC. Thực tiễn cho thấy, cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã góp phần tạo chuyển biến cơ bản trong quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và công dân, đơn giản hóa các TTHC, giảm phiền hà, chi phí, thời gian, công sức...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả, thành tựu đã đạt được, việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông còn những hạn chế, như: Thẩm quyền giải quyết các TTHC còn cắt khúc nhiều cửa và khâu trung gian; cách thức giải quyết TTHC còn mang tính truyền thống, thủ công, chưa tích cực áp dụng những tiến bộ công nghệ tin học để phù hợp với nhu cầu trong điều kiện hội nhập quốc tế. Việc thực hiện dịch vụ công trực tuyến còn nhiều bất cập, số lượng hồ sơ thực hiện thấp. Các hệ thống thông tin dữ liệu liên quan đến việc giải quyết TTHC còn cục bộ, chưa có sự kết nối, chia sẻ, liên thông, đồng bộ, thống nhất...

Trước những bất cập trên, Văn phòng Chính phủ đã chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính và các cơ quan, địa phương liên quan xây dựng Đề án theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, không theo địa giới hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm thời gian đi lại, chi phí xã hội và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhận được sự ủng hộ của nhiều người dân, tổ chức, doanh nghiệp với quan điểm chỉ đạo: Đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong hoạt động quản lý, cung cấp dịch vụ công, thay đổi cách thức quản trị hành chính từ truyền thống sang hiện đại; hiện thực hóa chủ trương đẩy mạnh việc chuyển giao một số nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công mà Nhà nước không nhất thiết phải thực hiện cho doanh nghiệp, các tổ chức xã hội đảm nhiệm.

Đề án đặt mục tiêu: Năm 2023-2025, có 80% người dân, doanh nghiệp khi thực hiện TTHC không phải cung cấp lại các thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được chấp nhận khi thực hiện thành công TTHC (trước đó), mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết TTHC đang quản lý hoặc thông tin, giấy tờ, tài liệu đã được cơ quan nhà nước kết nối, chia sẻ; 100% hồ sơ TTHC đã giải quyết thành công được số hóa, lưu trữ và có giá trị tái sử dụng... Có thể nói, những mục tiêu đó làm thỏa mãn số đông người dân, tổ chức, doanh nghiệp nếu thực sự hiện hữu trong thực tiễn, như Đề án đã xác định.

Còn vấn đề trước mắt được “chủ thể” của sự đổi mới ấy trông đợi, chính là hoàn thiện thể chế, với việc rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan để bảo đảm tính phù hợp, thống nhất, tạo hành lang pháp lý trong thực hiện Đề án. Vấn đề quan trọng tiếp theo là nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các hệ thống công nghệ thông tin; tổ chức thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành... qua trục liên thông văn bản quốc gia phục vụ giải quyết TTHC.

Vào năm 2025, mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với chất lượng cung cấp dịch vụ công đạt tối thiểu 95%-mục tiêu đó của Đề án có được hiện thực hóa hay không, bên cạnh những giải pháp cơ bản đã được hoạch định, thì không thể thiếu vai trò của công tác giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông; cùng với đó là xử lý nghiêm những trường hợp gây khó khăn, chậm trễ cho việc triển khai thực hiện Đề án. (Qdnd.vn 01/4, Đào Hồng)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.016.800 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này