Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 06/01/2022
1. Nâng cao vị trí đất nước trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh
2. Đơn giản hóa từ những thủ tục nhỏ nhất
3. Hà Nội: Tỷ lệ hồ sơ quy hoạch - kiến trúc giải quyết trước và đúng hạn đạt 84,89%
4. Quảng Ninh: Đào tạo nguồn "nhân lực số" và xây dựng "công dân số"
5. Thanh Hóa tinh giản được 45.262 biên chế
6. Ngành Tài chính tiên phong, đột phá trong cải cách thủ tục hành chính
7. Đề xuất quy định xếp loại cán bộ, công chức khi bị xử lý kỷ luật
8. Nghệ An: Yêu cầu các ban, ngành, cơ quan tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính
9. Quảng Nam thi hành kỷ luật hơn 420 đảng viên vi phạm
10. Đồng Nai: Tỷ lệ đảng viên và tổ chức Đảng bị xử lý kỷ luật giảm
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Nâng cao vị trí đất nước trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh
Sáng 5/1, Chính phủ tổ chức Hội nghị Chính phủ với địa phương triển khai kết luận của Trung ương và Nghị quyết của Quốc hội khóa XV về triển khai kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2022. Theo sự phân công của Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái đã trình bày dự thảo Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022.
Dự thảo nêu rõ, từ năm 2012, Chính phủ đã xác định cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hướng tới phát triển bền vững là một trọng tâm cải cách là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên.
Theo đó, hằng năm Chính phủ ban hành Nghị quyết về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nghị quyết số 19 các năm 2014-2018 và Nghị quyết số 02 các năm 2019-2022) với các mục tiêu, giải pháp cụ thể, bám sát các chỉ số xếp hạng của các tổ chức quốc tế có uy tín.
Thực hiện các nghị quyết nêu trên, các bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực tháo gỡ nhiều rào cản, khó khăn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực trong xã hội nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Nhờ vậy, Việt Nam luôn được coi là một điểm đến đầu tư hấp dẫn và là nền kinh tế năng động, có độ mở lớn và duy trì tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao trên thế giới.
Qua 8 năm nỗ lực cải cách, vị trí của Việt Nam trên các bảng xếp hạng uy tín toàn cầu được nâng lên. Cụ thể là: Năng lực cạnh tranh 4.0 (của Diễn đàn kinh tế thế giới – WEF) xếp thứ 67/141 năm 2019, tăng 10 bậc so với năm 2018 (năm 2020, 2021 do tác động của dịch bệnh COVID-19, nhiều tổ chức quốc tế không công bố báo cáo xếp hạng thường niên, trong đó có WEF); Đổi mới sáng tạo (của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới – WIPO) giữ thứ hạng tốt, năm 2021 ở vị trí 44/132; Chính phủ điện tử (của Liên Hợp Quốc – UN) xếp thứ 86 năm 2020 tăng 2 bậc so với năm 2018 (2 năm công bố 1 lần); Phát triển bền vững (UN) giữ vị trí 51/165 năm 2021, tăng 37 bậc so với năm 2016; An toàn an ninh mạng (của Liên minh Viễn thông quốc tế - ITU) xếp thứ 25/194 (năm 2020), tăng 25 bậc so với năm 2018.
Dự thảo nêu rõ, bên cạnh những kết quả đã đạt được, từ năm 2020, cải cách môi trường kinh doanh ở nước ta có xu hướng chững lại; trên bảng xếp hạng toàn cầu, một số chỉ tiêu cải thiện chưa bền vững và còn không ít chỉ tiêu cụ thể mà chất lượng và thứ hạng của Việt Nam còn thấp hoặc không được cải thiện, thậm chí giảm bậc,…
Nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra theo Nghị quyết của Quốc hội, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển sản xuất, kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với dịch COVID-19, Chính phủ ban hành Nghị quyết này tiếp nối các nghị quyết trước đó về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là nâng cao vị trí của nước ta trên các bảng xếp hạng quốc tế về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh nhằm thích ứng với xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 và tăng sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh dịch COVID-19.
Cải thiện mạnh mẽ môi trường kinh doanh, tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập, giảm tỷ lệ doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động; giảm chi phí đầu vào, chi phí cơ hội, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp và người dân. Đẩy mạnh tháo gỡ khó khăn, vướng mắc do tác động tiêu cực của dịch bệnh COVID-19; kịp thời hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh, thích ứng linh hoạt, hiệu quả với dịch bệnh.
Phấn đấu đến năm 2025 chỉ số: Năng lực cạnh tranh 4.0 (của WEF) thuộc nhóm 50 nước đứng đầu; Phát triển bền vững (UN) thuộc nhóm 40 nước đứng đầu; Năng lực đổi mới sáng tạo (WIPO) thuộc nhóm 40 nước đứng đầu; Chính phủ điện tử (UN) thuộc nhóm 60 nước đứng đầu; chỉ số logistics (của WB) tăng ít nhất 4 bậc,… Đồng thời, dự thảo cũng nêu các mục tiêu cụ thể trong năm 2022.
Để thực hiện các mục tiêu trên, Chính phủ xác định cần phải tăng cường trách nhiệm của các Bộ được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện chỉ số và các Bộ được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần; tiếp tục cải thiện các yếu tố môi trường kinh doanh theo hướng giảm số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.
Trong đó chú trọng thực hiện các nhiệm vụ giải pháp trọng tâm như: Cắt giảm danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và cải cách điều kiện kinh doanh; tập trung dỡ bỏ rào cản đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh do chồng chéo, mâu thuẫn, không hợp lý, khác biệt của quy định pháp luật; tiếp tục thúc đẩy cải cách quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; đẩy mạnh cải cách về đăng ký tài sản và đổi mới quản lý hành chính đất đai; tăng cường cải cách, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính; tiếp tục chú trọng hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, khắc phục các tác động tiêu cực của dịch COVID-19,…
Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả thực hiện nghị quyết này và các Nghị quyết của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia… (VTV.vn 05/01)Về đầu trang
Đơn giản hóa từ những thủ tục nhỏ nhất
Ngày 22/6/2021 là dấu mốc lịch sử của chiến dịch thần tốc, quyết liệt và hiệu quả khi Bộ Công an công bố vận hành chính thức hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống sản xuất, cấp và quản lý căn cước công dân gắn chíp điện tử từ ngày 1/7/2021.
Cho đến thời điểm hiện tại, công an các địa phương đã thu thập và đồng bộ vào hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hơn 102 triệu phiếu DC01 (phiếu thu thập thông tin dân cư) từ các nguồn; chỉ đạo công an các địa phương rà soát, “làm sạch” dữ liệu trên hệ thống phần mềm và củng cố hồ sơ sổ sách; tàng thư hồ sơ hộ khẩu được hơn 98 triệu nhân khẩu. Đồng thời, trên cơ sở dữ liệu dân cư được làm sạch, Bộ Công an đã cấp số định danh cho công dân trên toàn quốc đang có trên hệ thống, đây là cơ sở quan trọng để xác lập danh tính điện tử của công dân, góp phần thực hiện chuyển đổi số quốc gia.
Đối với chiến dịch cấp căn cước công dân gắn chíp điện tử, Bộ Công an đã hoàn thành thu nhận khoảng 63 triệu hồ sơ, in và trả hơn 50 triệu thẻ căn cước công dân cho người dân.
Với những kết quả nêu trên, “trái tim” của Chính phủ số bước đầu đã được định hình khá rõ nét. Sau khi hoàn thành thu thập dữ liệu dân cư, Bộ Công an đã chủ động khai thác, phát huy hiệu quả ngay trong phòng, chống dịch Covid-19 thời gian qua, nhất là kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu về tiêm chủng, xét nghiệm, quản lý người nhiễm Covid-19 để triển khai thống nhất việc ứng dụng mã QR trên căn cước công dân phục vụ hiệu quả công tác truy xét, quản lý, điều trị đối tượng nhiễm, nghi nhiễm Covid-19. Đến nay, Trung tâm Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã sẵn sàng kết nối với các bộ, ban, ngành và địa phương.
Về lâu dài, người dân, doanh nghiệp, các bộ, ngành vẫn kỳ vọng hơn nữa vào các tiện ích, những cải tiến rõ rệt mà Cơ sở dữ liệu quốc gia mang lại. Vì chỉ khi những dữ liệu đã thu thập, lưu trữ có thể áp dụng vào cuộc sống, khiến những thủ tục hành chính trở nên đơn giản tiện lợi mới cho thấy hiệu quả từ công cuộc chuyển đổi số mà Chính phủ đã và đang nỗ lực thực hiện.
Đơn cử như việc cấp lại giấy khai sinh cho người dân không may bị mất, bị thất lạc, nếu Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã hoàn thiện, có mã định danh, có thông tin về một con người từ khi sinh ra đến nơi ở hiện tại thì rõ ràng cần đơn giản hóa ngay việc cấp lại giấy khai sinh. Nên hướng tới hoàn thiện những khâu nhỏ nhất trước khi nghĩ tới những kế hoạch lớn, dài hơi.
Thời gian tới, Bộ Công an cần thực hiện những “chỉ tiêu” mà Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã đề ra tại kết luận về việc phát triển ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ chuyển đổi số và phát triển kinh tế. Đó là, lựa chọn một số dịch vụ công trực tuyến thiết yếu mức độ 4 để ưu tiên triển khai thống nhất, đồng bộ, kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia, xác thực thông tin người dân dựa trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để rút kinh nghiệm, báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ, phấn đấu cung cấp tất cả dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đủ điều kiện ngay trong năm 2022 để phục vụ người dân, doanh nghiệp. Những yêu cầu của Phó Thủ tướng cũng là nguyện vọng chung của người dân và doanh nghiệp kỳ vọng vào sự vận hành của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. (Nhandan.vn 06/01, Lê Tú)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Hà Nội: Tỷ lệ hồ sơ quy hoạch - kiến trúc giải quyết trước và đúng hạn đạt 84,89%
Thông tin về kết quả giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực quy hoạch - kiến trúc năm 2021, Sở Quy hoạch - Kiến trúc Hà Nội cho biết, Sở đã tiếp nhận, giải quyết tổng cộng 1.541 hồ sơ, thủ tục hành chính. Trong đó, có 1.100 hồ sơ thông tin quy hoạch và chỉ giới đường đỏ; 161 hồ sơ chấp thuận tổng mặt bằng; 49 hồ sơ giới thiệu địa điểm; 160 hồ sơ thẩm định đồ án; 71 hồ sơ tham gia góp ý, thẩm định nhiệm vụ quy hoạch.
Các hồ sơ giải quyết trước hạn và đúng hạn đạt khoảng 84,89%, tăng so với năm 2020 (khoảng 79,42%). Hồ sơ quá hạn và chậm muộn khoảng 10,66% (trong đó có nguyên nhân khách quan là 6,64%), giảm so với năm 2020 (khoảng 17,48%). Sở cũng thực hiện nghiêm cơ chế xin lỗi tổ chức, cá nhân khi giải quyết thủ tục hành chính trễ hẹn, có sai sót trong tiếp nhận, giải quyết. (Hanoimoi.com.vn 06/01, Phong Châu) Về đầu trang
Quảng Ninh: Đào tạo nguồn "nhân lực số" và xây dựng "công dân số"
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao luôn được tỉnh Quảng Ninh xác định là một trong 3 đột phá chiến lược, là yếu tố quan trọng, là nền tảng vững chắc để tạo đà cho sự phát triển bền vững. Đặc biệt, trong tiến trình chuyển đổi số mà tỉnh đang bắt tay vào thực hiện, xây dựng nguồn “nhân lực số” và “công dân số” đáp ứng được yêu cầu của việc sáng tạo, quản trị, vận hành và khai thác hiệu quả các nền tảng số của tỉnh càng là yêu cầu được đặt ra cấp thiết.
Từ năm 2014, tỉnh đã ban hành và thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 15-NQ/TU (ngày 9/6/2014) về Đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh; UBND tỉnh cũng đã ban hành Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Đến năm 2015, tỉnh cũng đã tập trung triển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện nguồn nhân lực tỉnh đến năm 2020 với phạm vi, quy mô toàn tỉnh.
Với sự vào cuộc hiệu quả, cùng các giải pháp quyết liệt, thực tế trong đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, những năm gần đây, chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét, tỷ trọng lao động các khu vực kinh tế có sự chuyển dịch đúng hướng.
Đến nay, quy mô nguồn nhân lực của tỉnh có gần 800.000 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 85%, trong đó lao động có bằng cấp, chứng chỉ đạt 45,5%, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước. Cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực theo đúng định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đó là: Khu vực nông nghiệp 23,8%; công nghiệp, xây dựng 31%; dịch vụ 45,2%...
Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã xác định, trong nhiệm kỳ 2020-2025 phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với tăng nhanh quy mô và nâng cao chất lượng dân số là một trong 3 khâu đột phá chiến lược, coi đây là yếu tố quan trọng, là nền tảng vững chắc để tạo đà cho sự phát triển bền vững của tỉnh trong giai đoạn mới. Trong đó, gắn với một trong những nội dung công tác trọng tâm trong giai đoạn mới là chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, tỉnh xác định việc xây dựng nguồn “nhân lực số” sẽ là một nhiệm vụ trọng yếu.
Đề án Chuyển đổi số toàn diện tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2025, 100% cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC) trong các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng thành thạo các ứng dụng của chính quyền số; trên 60% dân số có tài khoản thanh toán điện tử và sử dụng thành thạo các dịch vụ đô thị thông minh; 100% người dân có định danh số… Đến năm 2030, 100% CBCCVC cấp huyện, xã xử lý công việc trên nền tảng số; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử và sử dụng các dịch vụ số đạt trên 90%...
Để đạt được những mục tiêu trên, tỉnh đã và đang lên kế hoạch tổng thể cho việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng công nghệ cho CBCCVC, người dân và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao về CNTT để phục vụ tiến trình chuyển đổi số. Trong đó, trọng tâm đổi mới và hiện đại hóa các cơ sở giáo dục để đào tạo nguồn “nhân lực số” ngay từ trên ghế nhà trường; gắn chặt với việc đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức và phát triển kỹ năng số trong các cơ quan nhà nước và trong khu vực tư nhân. Đồng thời, nhanh chóng nghiên cứu, tham mưu, ban hành và triển khai thực thi các cơ chế, chính sách tìm kiếm, thu hút và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực CNTT làm việc cho tỉnh.
Hiện tỉnh đang tích cực phối hợp với Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ KH&ĐT) xây dựng Đề án phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030, kinh phí dự kiến hơn 1.100 tỷ đồng, thực hiện trong giai đoạn 2021-2025. Theo đó, sẽ tập trung vào việc phân tích thực trạng nguồn nhân lực của tỉnh, học hỏi kinh nghiệm của các địa phương có cùng đặc điểm kinh tế - xã hội và phát triển, đề án sẽ đề xuất các nhóm giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực của tỉnh về cơ chế chính sách, nâng cao năng lực cơ sở đào tạo, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu nhân lực... (Baoquangninh.com.vn 06/01, Minh Hà)Về đầu trang
Thanh Hóa tinh giản được 45.262 biên chế
Năm 2021, Ban Tổ chức Tỉnh ủy Thanh Hóa tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy quyết định giao 2.114 biên chế cho các cơ quan khối thể đảng, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện, giảm tương ứng 10% so với năm 2015.
Thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW, ngày 17-5-2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đến nay Thanh Hóa đã tinh giản được 45.262 biên chế, trong đó cấp tỉnh, cấp huyện giảm 13.051 người (khối đảng, đoàn thể giảm 300 người; khối hành chính 1.635 người, khối sự nghiệp 11.116 người); cấp xã giảm 8.863 biên chế, những người hoạt động không chuyên trách ở thôn giảm 23.348 người.
Trong năm, công tác sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gắn với tinh giản biên chế và nâng cao lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan Đảng, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị xã hội cấp cấp được Ban Tổ chức Tỉnh ủy, ban tổ chức cấp ủy cấp huyện tham mưu triển khai thực hiện và đạt kết quả quan trọng; đã tham mưu ban hành danh mục việc làm, bản mô tả vị trí việc làm công chức, viên chức khối đảng, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện; ban hành 42 kết luận phê duyệt Đề án vị trí việc làm ngạch cán bộ, công chức của các cơ quan, đơn vị khối đoàn thể; ban hành khung số lượng cấp phó các sở, cơ quan ngang sở…
Đồng thời, đã giảm 96 phòng, chi cục và tương đương thuộc các cơ quan đảng, các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, UBND cấp huyện; giảm 267 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc các cơ quan cấp tỉnh và UBND cấp huyện. Sắp xếp, chuyển giao 43 tổ chức đảng từ trực thuộc Đảng bộ Khối cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh về các huyện ủy, thành ủy cho đảm bảo phù hợp với quy định Đảng. (Baothanhhoa.vn 06/01, Minh Hiếu)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Ngành Tài chính tiên phong, đột phá trong cải cách thủ tục hành chính
Tiên phong, đột phá trong cải cách thủ tục hành chính để giữ các “mốc” đã đạt được trong thời gian qua là nỗ lực không ngừng nghỉ của Bộ Tài chính. Năm 2021, bên cạnh việc tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng Vietnam ICT Index; giữ vị trí thứ 2 Par Index, Bộ Tài chính lần đầu tiên được vinh danh xếp vị trí thứ nhất về mức độ chuyển đổi số năm 2020.
Bộ Tài chính luôn coi công tác cải cách hành chính là động lực để phát triển. Trong năm 2021, Bộ Tài chính đứng thứ 2 trong bảng xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) 2020, đóng góp vào thành tích 7 năm liên tiếp (từ 2014 - 2020) Bộ Tài chính đứng trong nhóm 3 Bộ đứng đầu về Par Index.
Ngày 19/10/2021, lần đầu tiên Bộ Tài chính được vinh danh xếp vị trí thứ Nhất về mức độ chuyển đổi số năm 2020 (với giá trị DTI 0,4944) trong 18 bộ, ngành cung cấp dịch vụ công.
Trong năm 2021, Bộ Tài chính tiếp tục dẫn đầu bảng xếp hạng Vietnam ICT Index (chỉ số sẵn sàng cho phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin) khối các bộ, ngành do Bộ Thông tin - Truyền thông phối hợp với Hội Tin học Việt Nam đánh giá và công bố. Đây là năm thứ 8 liên tiếp (từ 2013 - 2020), Bộ Tài chính giữ vững ngôi vị này.
Để đạt được các kết quả nêu trên đã khó, giữ vững các vị trí trong top đầu khối các bộ, ngành lại càng khó hơn. Là bộ đa ngành, đa lĩnh vực với phạm vi quản lý rộng trên cả nước, có nhiều lĩnh vực liên quan trực tiếp tới người dân, nên Bộ Tài chính rất được “để ý” đến. Doanh nghiệp và người dân càng kỳ vọng thì Bộ Tài chính càng phải nỗ lực vượt lên chính bản thân mình.
Sở dĩ nói rằng vượt lên chính bản thân mình, vì công tác cải cách hành chính ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất hơn. Đến nay không còn những thông tin về cắt giảm con số khủng các thủ tục hành chính nữa mà do phải thực hiện cắt giảm ngay từ khâu ban hành, nên số các thủ tục được rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa ngày càng ít đi.
Theo TS. Lê Duy Bình - Giám đốc điều hành Economica Vietnam, Bộ Tài chính là cơ quan tiếp xúc với doanh nghiệp nhiều nhất trong tất cả các bộ, ngành. Để hài lòng người dân và doanh nghiệp, thời gian qua, Bộ Tài chính đã nỗ lực thực hiện cải cách hành chính trong các lĩnh vực do Bộ quản lý. Điều này mang tại những thay đổi lớn trong cách thức làm việc của cơ quan thuộc Bộ cũng như các doanh nghiệp.
Ông Lê Duy Bình cho rằng, cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận Bộ Tài chính là đơn vị có tốc độ cải cách hành chính nhanh, khối lượng dịch vụ được cải cách lớn, góp phần giảm chi phí, thủ tục hành chính cho các doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh.
Thời gian gần đây, trước ảnh hưởng của dịch Covid-19, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ thực hiện giãn, giảm tiền thuế, tiền thuê đất cho nhiều đối tượng doanh nghiệp. Để chính sách sớm đi vào cuộc sống, Bộ Tài chính đã cắt giảm tối đa các thủ tục để hỗ trợ doanh nghiệp được nhanh nhất, sớm nhất. Nhiều nghị định được ban hành theo hình thức rút gọn, các thủ tục nhận hỗ trợ đều được hướng dẫn thực hiện cụ thể, nghị định ban hành và có hiệu lực thực thi ngay lập tức.
Nhiều doanh nghiệp đánh giá cao nỗ lực này của Bộ Tài chính. Khi dịch Covid-19 ảnh hưởng trăm bề, làm tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, doanh thu của doanh nghiệp, thì đây chính là nguồn động viên rất lớn cả về vật chất và tinh thần. Các cục thuế địa phương cũng nhanh chóng vào cuộc, tận tình hướng dẫn hỗ trợ doanh nghiệp, coi việc của doanh nghiệp cũng chính là việc của mình. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 05/01)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Đề xuất quy định xếp loại cán bộ, công chức khi bị xử lý kỷ luật
Bộ Nội vụ đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số quy định của Chính phủ về cán bộ, công chức, viên chức.
Theo đó, đối với Nghị định quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức, Bộ Nội vụ đề nghị bổ sung khoản 5 Điều 2 quy định về nguyên tắc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.
Nội dung cụ thể như sau: Cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật đảng hoặc kỷ luật hành chính trong năm đánh giá thì xếp loại chất lượng ở mức độ không hoàn thành nhiệm vụ.
Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên, bị xử lý kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính về cùng một hành vi vi phạm, nhưng quyết định kỷ luật đảng và hành chính được ban hành trong 02 năm khác nhau thì hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật chỉ tính làm căn cứ xếp loại chất lượng ở 01 năm đánh giá.
Theo Bộ Nội vụ, việc bổ sung quy định này nhằm làm rõ nguyên tắc đã bị xử lý kỷ luật thì đương nhiên không hoàn thành nhiệm vụ, kể cả trường hợp bị xử lý kỷ luật về hành vi không liên quan đến hoạt động công vụ.
Ngoài quy định trên, Bộ Nội vụ cũng đề xuất sửa đổi điều khoản quy định tiêu chí chung đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức và quy định về việc tổ chức thực hiện việc đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức. (Anninhthudo.vn 05/01, P.P)Về đầu trang
Nghệ An: Yêu cầu các ban, ngành, cơ quan tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính
UBND tỉnh Nghệ An vừa ban hành Văn bản số 103/UBND-KSTT, yêu cầu các ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong năm 2022.
Theo đánh giá của UBND tỉnh, trong thời gian qua, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có sự chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của người đứng đầu và cán bộ, công chức, viên chức. Từng bước xây dựng được phong cách ứng xử, lề lối làm việc, đạo đức, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nền hành chính phục vụ.
Tuy nhiên, một số cơ quan, đơn vị, tổ chức không có văn bản phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân. Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, lịch công tác định kỳ hàng tháng để triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao của một số cơ quan, đơn vị chưa đạt yêu cầu: Chương trình, lịch công tác ít có nội dung, nhiệm vụ trọng tâm thực hiện, không bố trí lịch tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Việc đánh giá kết quả thực hiện chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng chưa cụ thể, chưa chỉ rõ được hạn chế, khuyết điểm và trách nhiệm cá nhân; một số UBND cấp xã chưa ban hành được thông báo kết luận phiên họp thường kỳ UBND hàng tháng;
Bộ phận Một cửa của nhiều cơ quan, đơn vị chưa thông báo, niêm yết công khai đầy đủ các thông tin cần thiết theo quy định như: Thời gian làm việc; số điện thoại đường dây nóng về cải cách hành chính; nội dung, địa chỉ, số điện thoại tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính; thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết để tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân đến giao dịch tra cứu và tổ chức thực hiện. Việc thực hiện quy chế văn hóa công sở có nơi chưa nghiêm; vẫn còn tình trạng cán bộ, công chức, viên chức không đeo thẻ khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ và chưa chấp hành đúng quy định về thời gian làm việc…
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế trên và tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh trong năm 2022, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã tiếp tục làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến và tổ chức thực hiện các quy định của Đảng và Nhà nước về chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính. Tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 05/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp, Đề án Văn hóa công vụ được phê duyệt tại Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ, Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 02/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 và các Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh về tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính.
Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cải cách hành chính, đạo đức công vụ và văn hóa công sở. Nâng cao tính tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành quy chế, quy trình làm việc nội bộ, chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, đơn vị và của từng cá nhân để đảm bảo triển khai đầy đủ, kịp thời nhiệm vụ được giao; quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm trong thực hiện, phối hợp thực hiện nhiệm vụ của từng tổ chức, cá nhân và định kỳ hàng tháng, cuối năm có đánh giá, phân loại rõ kết quả thực hiện. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ tốt cho công tác quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ, công vụ; giảm hội họp, thời gian giải quyết công việc… (Baonghean.vn 05/01) Về đầu trang
Quảng Nam thi hành kỷ luật hơn 420 đảng viên vi phạm
Chiều 5/1, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức hội nghị trực tuyến tổng kết công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng năm 2021. Trong năm qua, tỉnh Quảng Nam đã thi hành kỷ luật Đảng với 423 đảng viên vi phạm; trong đó, có 11 đảng viên bị xử lý hình sự.
Trong năm 2021, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam luôn quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát theo Điều 32 Điều lệ Đảng, trong năm 2021, Ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm 82 tổ chức đảng và 242 đảng viên. Qua kiểm tra, kết luận có 79 tổ chức đảng và 227 đảng viên có khuyết điểm, vi phạm; trong đó, phải thi hành kỷ luật 2 tổ chức và 85 đảng viên.
Đối với công tác kiểm tra, giám sát theo Điều 30 Điều lệ Đảng, năm qua, các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp đã kiểm tra 736 tổ chức đảng và 2.096 đảng viên. Qua đó, đã phát hiện và thi hành kỷ luật 1 đảng viên; đồng thời chuyển kiểm tra dấu hiệu vi phạm 2 tổ chức đảng và 3 đảng viên.
Đồng chí Nguyễn Quang Khánh, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy cho biết, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm luôn được Ban Thường vụ Tỉnh ủy quan tâm chỉ đạo thường xuyên. Trong năm 2021, các cấp và chi bộ đã thi hành kỷ luật 3 tố chức đảng và 337 đảng viên vi phạm; trong đó, cách chức 9 và khai trừ 3 đảng viên.
Ủy ban kiểm tra các cấp cũng đã thi hành kỷ luật 51 đảng viên; trong đó, 10 trường hợp khai trừ, 16 trường hợp cảnh cáo và 25 trường hợp khiển trách. Mặt khác, cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp huyện và tương đuơng đã đình chỉ sinh hoạt đảng 18 đảng viên; xử lý kỷ luật về hành chính có 24 đảng viên và có 11 đảng viên bị xử lý hình sự.
Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Dũng nhấn mạnh, công tác giám sát, kiểm tra phải thực hiện mạnh mẽ, thường xuyên, liên tục hơn nữa. Ở đâu có quyền lực thì ở đó phải có kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật Đảng theo phương châm: Giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm.
Trước hết, cấp ủy, Ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp cần tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức hơn nữa về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng. Tiếp tục rà soát, ban hành, sửa đổi những nội dung không còn phù hợp, bổ sung cụ thể hóa các quy định của Trung ương, nghị quyết của Tỉnh ủy về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng; đồng thời tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát.
Đồng chí Lê Văn Dũng lưu ý, Ủy ban kiểm tra cấp ủy các cấp tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; chú trọng kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp và đảng viên là cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ cấp ủy cùng cấp quản lý. Khi cần thiết, cần kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới cách cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện tổ chức đảng cấp dưới quản lý, khắc phục tình trạng “trông chờ, nghe ngóng, ỷ lại”, “trên nóng dưới lạnh”.
Các cấp ủy đảng cần tập trung, thường xuyên kiện toàn tổ chức bộ máy; đầu tư đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ những người làm công tác kiểm tra, giám sát; thực hiện luân chuyển cán bộ của Ủy ban kiểm tra theo quy định của Đảng.
Dịp này, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Dũng đã trao Cờ thì đua của UBND tỉnh tặng Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Đại Lộc và Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Hiệp Đức đã có thành tích xuất sắc trong công tác, dẫn đầu phong trào thi đua ngành Kiểm tra Đảng trong năm 2021. Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy cũng đã tặng giấy khen cho 22 tập thể và cá nhân hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát năm 2021. (Nhandan.vn 05/01, Tấn Nguyên)Về đầu trang
Đồng Nai: Tỷ lệ đảng viên và tổ chức Đảng bị xử lý kỷ luật giảm
Theo báo cáo của Tỉnh ủy, thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII về Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Ban TVTU và các cấp ủy trực thuộc tỉnh luôn quan tâm chỉ đạo cấp ủy, tổ chức Đảng cấp dưới tăng cường các biện pháp nhằm đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Từ năm 2016 đến nay, tổng số đảng viên của Đảng bộ tỉnh bị thi hành kỷ luật là 1.695 người (trong đó có 424 cấp ủy viên). Các đảng viên đã bị thi hành kỷ luật bằng các hình thức: khiển trách 1.216 trường hợp, cảnh cáo 293 trường hợp, cách chức 62 trường hợp và khai trừ 124 trường hợp. Nội dung vi phạm chủ yếu là chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo; chấp hành chưa nghiêm nghị quyết, chỉ thị của Đảng và những điều đảng viên không được làm; phẩm chất đạo đức, lối sống; cố ý làm trái, tham nhũng… Vừa bị xử lý kỷ luật của Đảng, có 49/1.695 trường hợp còn bị xử lý hình sự và 299 trường hợp bị xử lý hành chính.
Về tổ chức Đảng, đã thi hành kỷ luật 16 tổ chức Đảng do vi phạm việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận của Đảng; quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ, mất đoàn kết nội bộ. Như vậy, so với những năm trước, số tổ chức Đảng vi phạm bị kỷ luật giảm 20% và số đảng viên vi phạm bị kỷ luật giảm 0,08%. (Baodongnai.com.vn 05/01, Dương An)Về đầu trang ./.