Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 30/3/2022
1. Khai thác tối đa tiện ích từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
2. Chuyển đổi số - Xu thế tất yếu của thời đại 4.0.
3. TPHCM: Chú ý tiêu chí về sự hài lòng của người dân.
4. Công an Thanh Hóa cấp hơn 6.000 tài khoản định danh điện tử cho công dân.
5. Đồng Hới, Quảng Bình: Áp dụng hệ thống camera để xử lý vi phạm giao thông.
6. TP. Vũng Tàu: Xây dựng chính quyền số, xã hội số, kinh tế số.
7. Nộp phạt vi phạm giao thông trực tuyến: Tiện trăm bề.
8. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của Bộ Tài chính vượt yêu cầu, đạt gần 60%..
9. Công văn, thông tư: Sinh ra để hướng dẫn nhưng lại làm khổ doanh nghiệp.
10. Làm sao hạn chế việc ban hành thông tư, công văn tùy ý?.
Khai thác tối đa tiện ích từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư
Ngay trong quý I/2022, hàng loạt tiện ích được khai thác từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư sẽ được Bộ Công an phối hợp cùng các đơn vị liên quan hoàn thành và đưa vào ứng dụng trong thực tế để đơn giản hóa các thủ tục hành chính giúp tiết kiệm thời gian, chi phí cho người dân và doanh nghiệp.
Năm 2022 có ý nghĩa rất quan trọng, là năm bản lề hiện thực hóa cam kết của Chính phủ trong việc xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp nối những thành công trong năm 2021, Bộ Công an phối hợp chặt chẽ Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành liên quan triển khai Đề án "Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030" (Đề án) nhằm nhanh chóng khai thác, ứng dụng giá trị của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Bộ Công an cho biết, mục tiêu tổng quát của Đề án là ứng dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Hệ thống định danh và xác thực điện tử, căn cước công dân, để phục vụ năm nhóm tiện ích tập trung vào giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công trực tuyến; phục vụ phát triển kinh tế, xã hội; hoàn thiện hệ sinh thái chính phủ số; phục vụ chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo các cấp và phục vụ công dân số. Trong các nhóm tiện ích đó, Bộ Công an đặt trọng tâm mục tiêu hướng tới phục vụ lợi ích của người dân và doanh nghiệp, giải quyết thủ tục hành chính một cách thuận lợi nhất và cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
Theo đó, người dân, doanh nghiệp có thể sử dụng dịch vụ số theo nhu cầu cá thể hóa, theo suốt cuộc đời, khi cần, theo cách thuận tiện, trực tuyến hoặc trực tiếp, dễ dàng, đơn giản, nhanh chóng, không giấy tờ, không cần sự hiện diện nếu pháp luật không yêu cầu. 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện theo quy định của pháp luật được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và được định danh, xác thực điện tử hoặc xác thực, chia sẻ dữ liệu dân cư.
Mục tiêu cụ thể trong năm 2022, hoàn thành tích hợp, cung cấp dịch vụ xác thực thông tin về số chứng minh nhân dân (9 số) với căn cước công dân trên cổng Dịch vụ công quốc gia để 100% tài khoản định danh điện tử của cá nhân đã được tạo lập bởi Cổng Dịch vụ công quốc gia, cổng dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh, thực hiện được việc xác thực với danh tính điện tử do Bộ Công an cung cấp. Hoàn thành việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và Cơ sở dữ liệu thuế trong quý I/2022 phục vụ xác thực thông tin về người nộp thuế trong giải quyết thủ tục hành chính lĩnh vực thuế, giúp 100% người nộp thuế không phải khai báo lại các thông tin thay đổi đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.
Các vấn đề lớn trong phát triển kinh tế, xã hội sẽ được giải quyết hiệu quả khi triển khai rộng rãi việc ứng dụng các tính năng của chip điện tử trên căn cước công dân đối với các lĩnh vực tài chính, hoạt động ngân hàng (mở tài khoản, nhận biết khách hàng, thanh toán, cho vay, ví điện tử…) và một số lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội khác. Tích hợp, phát triển các ứng dụng trên nền tảng hệ thống định danh và xác thực điện tử với các ứng dụng cốt lõi như: Ví điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, chứng khoán, điện, nước… lên ứng dụng VN-eID, mã QR của thẻ căn cước công dân gắn chip điện tử.
Theo Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Công an, sau khi đã hoàn thành các nhiệm vụ của năm 2022, bước vào giai đoạn 2023-2025 sẽ hoàn thành mục tiêu tối thiểu 90% số người dân, doanh nghiệp hài lòng việc giải quyết thủ tục hành chính về cư trú, hộ tịch, xuất nhập cảnh, căn cước công dân.
Bên cạnh cơ sở dữ liệu dân cư, Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06, Bộ Công an) đang tiếp tục phát triển các "trường thông tin" tích hợp vào thẻ căn cước công dân gắn chip điện tử. Đến thời điểm hiện tại, dù công tác trả thẻ căn cước công dân đến tay người dân ở một số nơi còn bị chậm do tác động của dịch Covid-19 và một số nguyên nhân khách quan, nhưng với sự nỗ lực, đến nay, Bộ Công an đã in và trả về cho công an các địa phương gần 60 triệu thẻ căn cước công dân gắn chip điện tử của công dân thu nhận trong năm 2021.
Một trong những điểm ưu việt của thẻ căn cước công dân mới chính là tích hợp được nhiều thông tin của công dân trên thẻ hơn so với thẻ căn cước công dân mã vạch trước đây. Khi đó, người dân đi làm các thủ tục hành chính hoặc các giao dịch khác, chỉ cần mang thẻ căn cước công dân gắn chip. Hiện tại, thẻ căn cước công dân gắn chíp đã được tích hợp những tiện ích như: thông tin thẻ xanh Covid-19, thông tin tiêm chủng, giấy đi đường, thông tin xét nghiệm, giấy phép lái xe, thông tin về người được hưởng chính sách theo Nghị quyết 68 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do dịch Covid-19...; thông tin người phụ thuộc đi cùng với người có căn cước công dân gắn chip (con chưa đủ 14 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự…).
Ngay trong năm 2022, C06 sẽ tiến tới nghiên cứu, xây dựng phương án kỹ thuật, tích hợp các tiện ích, thông tin "mở rộng", dữ liệu đa ngành vào thẻ căn cước công dân gắn chip như bảo hiểm, bằng lái xe, thông tin tiêm chủng, giấy chứng nhận đăng ký phương tiện, đối tượng thuộc diện hỗ trợ…, tạo thuận lợi cho công dân trong thực hiện, giải quyết các thủ tục hành chính, giảm giấy tờ tùy thân, tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức. Chip điện tử cũng được tích hợp các "trường thông tin" cơ bản của công dân, có chứa thông tin sinh trắc học, ảnh chân dung và vân tay theo tiêu chuẩn ICAO. Tất cả các thông tin được lưu trữ đều được bảo mật, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin bởi Ban Cơ yếu Chính phủ.
Khi người dân đã có thẻ căn cước công dân gắn chip, thông qua hệ thống máy quét chuyên dụng lắp đặt tại cửa ra vào các trụ sở, cơ quan, doanh nghiệp, siêu thị, bến xe, sân vận động, nơi công cộng..., chỉ với thao tác quét mã QR, người dân có thể dễ dàng, nhanh chóng khai báo y tế, cung cấp thông tin tiêm chủng, hạn chế tiếp xúc phục vụ phòng, chống dịch bệnh. Dữ liệu công dân được đối sánh với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư qua quy trình xác minh, bảo đảm chính xác, đúng đối tượng. Đồng thời, doanh nghiệp, tổ chức cũng dễ dàng theo dõi, quản lý các yếu tố dịch tễ, nguy cơ lây nhiễm Covid-19 của cán bộ, nhân viên và khách ra vào trụ sở cơ quan để chủ động đưa ra các biện pháp phòng, chống dịch hiệu quả, kịp thời. (Nhandan.vn 30/3, Gia Hân)Về đầu trang
Chuyển đổi số - Xu thế tất yếu của thời đại 4.0
Trong thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, việc chuyển đổi số là xu hướng tất yếu, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay cả nước đang đối diện “thách thức kép” là vừa chống dịch vừa chủ động thích ứng an toàn, linh hoạt hiệu quả để phục hồi phát triển kinh tế - xã hội.
Để triển khai kế hoạch và thực hiện việc chuyển đổi số, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 146/QĐ- TTg phê duyệt đề án “nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến 2030”. Mục tiêu của Đề án nhằm tạo sư chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của lãnh đạo và các bộ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để thúc đẩy thực hiện chuyển đổi số trong tương lai.
Theo kế hoạch, trong Đề án mục tiêu đến năm 2025, thì lãnh đạo các cấp ngành trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phải nhận thức sâu sắc về chuyển đổi số. Bên cạnh đó, mọi người dân phải cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức về đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chuyển đổi số trên các phương tiện truyền thông, mạng xã hội.
Theo đó, mục tiêu đên năm 2025 thì 100% cán bộ lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan nhà nước, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hàng năm được đào tạo về chuyển đổi số, kỹ năng số, công nghệ số; 100% cá bộ phụ trách chuyển đổi số công nghệ thông tin hàng năm được đào tạo về công nghệ số.
Đối với người dân trong độ tuổi lao động phải biết và có kỹ năng sử dụng các loại hình dịch vụ trực tuyến và dịch vụ một số loại hình thiết yếu trong đời sống: các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông, ngân hàng… Về lĩnh vực giáo dục hoàn thiện mô hình “ Giáo dục số” sau đó triển khai mô hình tại một số cơ sở giáo dục đại học.
Khuyến khích các trường đại học dân lập tham gia mô hình này để nhân rộng trên toàn quốc. Về cơ sở giáo dục các cấp tiểu học, trung học phổ thông có tổ chức các hoạt động STEM và kỹ năng số. Để được những mục tiêu trên thì việc đào tạo nguồn nhân lực vô cùng quan trọng thì đội ngũ kỹ sư, cử nhân thực hành chất lượng cao chuyên ngành công nghệ số được đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng phải có thế mạnh về chuyển đổi số.
Thực hiện chuyển đổi số sẽ có tác động đến mọi cơ quan, đơn vị và địa phương, do đó, phải lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, là mục tiêu, là động lực của chuyển đổi số. Cho nên, cần phải có tư duy đột phá với tầm nhìn chiến lược, có giải pháp, cách làm phù hợp, nhưng phải bám sát thực tiễn để xây dựng chương trình, kế hoạch có trọng tâm, trọng điểm.
Để thực hiện việc chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc theo Đề án của Chính phủ. Các tỉnh khu vực đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều động thái mạnh mẽ trong năm 2021 và đặc biệt triển khai quyết liệt hơn mục tiêu đề ra năm 2022 và tầm nhìn 2030.
Theo đó, tại Sóc Trăng Bí thư Tỉnh ủy, Lâm Văn Mẫn đã kiến nghị đến Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm hỗ trợ cho tỉnh về công tác đào tạo, kỹ năng ứng dụng công nghệ số cho cán bộ công chức trẻ, đoàn viên thanh niên, hỗ trợ nguồn nhân lực nhằm thực hiện việc chuyển đổi số nhanh ở các ngành thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ; sớm phối hợp, hỗ trợ triển khai mô hình “Làng số” nhằm nâng cao trình độ công nghệ thông tin, công nghệ số và kích cầu các dịch vụ số… phục vụ đời sống người dân, nhất là người dân đang sinh sống tại các vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, tỉnh Sóc Trăng cũng đã tổ chức, phổ biến, nâng cao nhận thức đến người dân và doanh nghiệp về sự cần thiết và tính cấp thiết của chuyển đổi số, đồng thời đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng về chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Còn tại Đồng Tháp, để thực hiện việc chuyển đổi số theo Đề án của Chính phủ, tỉnh lấy ngày 10/10 làm ngày chuyển đổi số. Theo đó, tỉnh phấn đấu đến năm 2025, nằm trong nhóm 25, đến năm 2030 nằm trong nhóm 20 tỉnh, TP có chỉ số chuyển đổi số tốt nhất cả nước và nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Theo đó, mục tiêu chuyển đổi số là “lấy người dân làm trung tâm” trong chuyển đổi số. Ngoài ra, quan điểm của tỉnh xem chuyển đổi số là một trong những giải pháp quan trong thúc đẩy tăng truởng, làm thay đổi toàn diện phương thức quản lý của cả hệ thống chính trị, mô hình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống xã hội của nguời dân, là con đuờng ngắn nhất để tỉnh phát triển nhanh, ngày càng hiện đại, giàu mạnh.
Trong năm 2022, TP Cần Thơ phấn đấu nằm trong nhóm dẫn đầu về chuyển đổi số, đặt nền móng vững chắc cho quá trình chuyển đổi số. Trao đổi với PV, Phó Chủ tịch UBND TP ông Dương Tấn Hiển nhận định: Xu thế chuyển đổi số là tất yếu của thời đại, với sự chỉ đạo quyết liệt từ Thủ tướng Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, yêu cầu phải có sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các cấp, ngành và đặc biệt chuyển đổi nhận thúc sâu sắc trong toàn xã hội mới có thể bức phá chuyển đổi toàn diện. (Baophapluat.vn 30/3, Phi Thuyền)Về đầu trang
TPHCM: Chú ý tiêu chí về sự hài lòng của người dân
Nếu như từ trước đến nay chúng ta ít có đánh giá một cách định lượng về công tác cải cách hành chính (CCHC) thì gần đây, TPHCM đã có đánh giá xếp hạng CCHC với quận, huyện, sở, ngành. Việc đánh giá, xếp hạng với tiêu chí cụ thể như vậy là tiến bộ.
Từ kết quả đánh giá, các cơ quan, đơn vị sẽ thấy được mình đang ở đâu trên thang bậc CCHC. Các cơ quan, đơn vị phải hết sức cầu thị, nghiêm túc nhìn nhận cần bổ khuyết những phần nào chưa được đánh giá cao, cần phát huy những điểm mạnh nào. Việc xếp hạng, đánh giá như trên cần được nhìn nhận ở góc độ tích cực, không phải để thấy “tôi hơn anh” hay “anh hơn tôi” mà để mỗi đơn vị điều chỉnh, cải thiện, nâng cao hiệu quả trong CCHC, phục vụ người dân, doanh nghiệp (DN) ngày càng tốt hơn.
Việc đánh giá xếp hạng cũng sẽ đặt các cơ quan, đơn vị luôn trong tình trạng thi đua. Về thi đua, sinh thời, Bác Hồ có nhận xét, “thi đua một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ” và kêu gọi “nhà nhà thi đua, người người thi đua, ngành ngành thi đua…”. Điều đó cho thấy, thi đua có ý nghĩa là để tiến bộ, lành mạnh chứ không phải để ganh đua. Như vậy, việc xếp hạng, dựa trên các tiêu chí định lượng là một bước tiến bộ lớn, với kết quả cuối cùng là làm hài lòng người dân, DN và góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Đây chính là kết quả cuối cùng mà việc đánh giá, xếp hạng CCHC hướng đến.
Việc đo lường, đánh giá là điều đáng mừng, nhưng nó có thể không làm hài lòng tất cả mọi người. Vấn đề là cách đánh giá như thế nào cho công bằng, mang tính khoa học, khách quan nhất. Vì vậy, công tác đánh giá cần tiếp tục được hoàn thiện, theo hướng khoa học hóa việc đánh giá, tránh làm theo cảm tính, mù mờ. Có như vậy, các cơ quan, đơn vị mới thực sự “tâm phục khẩu phục”, coi kết quả đánh giá là thước đo cho công tác CCHC của mình.
Trong các tiêu chí phân loại, xếp hạng cần đặc biệt chú ý đến tiêu chí về sự hài lòng cao của người dân và DN. Về phía người dân, DN, điều đáng quan tâm nhất là dịch vụ hành chính có dễ tiếp cận không, thủ tục có rõ ràng, nhanh gọn hay không. Chẳng hạn, nói tạo điều kiện cho DN, vậy thì DN tiếp cận các thông tin về quy hoạch, đất đai có dễ dàng không? DN, hộ kinh doanh có dễ đáp ứng các điều kiện kinh doanh không?... Rồi trong những giao dịch hàng ngày, người dân cũng phải được tiếp cận dễ dàng với dịch vụ, được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng về quy trình, thủ tục.
Để có được những điều này, cơ quan hành chính nhà nước phải sẵn sàng cung cấp dịch vụ cho người dân, DN một cách nhanh chóng, kịp thời, không gây phiền hà, không đòi hỏi và phải đúng hẹn. Tất cả những điều này sẽ làm người dân, DN hài lòng, từ đó họ sẽ ủng hộ chính quyền, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội. (Sggp.org.vn 30/3, Diệp Văn Sơn)Về đầu trang
Công an Thanh Hóa cấp hơn 6.000 tài khoản định danh điện tử cho công dân
Thực hiện Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số Quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030, từ ngày 25-2-2022 đến nay Công an tỉnh Thanh Hóa đã cấp hơn 6.000 tài khoản định danh điện tử cho công dân.
Tài khoản định danh điện tử là tập hợp tên tài khoản và mật khẩu, chứa đựng thông tin của công dân, được quản lý và xác thực bảo mật thông tin, chính xác và duy nhất trên ứng dụng định danh điện tử quốc gia do Bộ Công an phát triển.
Người dân khi có nhu cầu đăng ký tài khoản định danh điện tử sẽ được kê khai đầy đủ các trường thông tin như số điện thoại, địa chỉ hòm thư điện tử, thông tin nhân thân, thông tin sinh trắc, thông tin về người phụ thuộc cùng giấy tờ kèm theo như giấy phép lái xe, đăng ký xe, bảo hiểm xã hội bảo hiểm y tế...
Khi công dân sử dụng tài khoản định danh điện tử sẽ có nhiều lợi ích như tiết kiệm được thời gian, chi phí vì không phải kê khai nhiều loại biểu mẫu, giảm nhiều khâu thủ tục khi thực hiện các giao dịch hành chính công. (Baothanhhoa.vn 30/3, Quốc Hương) Về đầu trang
Đồng Hới, Quảng Bình: Áp dụng hệ thống camera để xử lý vi phạm giao thông
UBND TP Đồng Hới (tỉnh Quảng Bình) vừa ban hành quyết định quản lý, vận hành, khai thác và xử lý vi phạm qua hệ thống camera tại Trung tâm giám sát điều hành đô thị thông minh.
Cụ thể, theo quyết định này, các cơ quan chức năng TP Đồng Hới sẽ sử dụng hệ thống camera giám sát giao thông của Trung tâm Giám sát điều hành Đô thị thông minh để hỗ trợ cho công tác bảo đảm an ninh trật tự và xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Hệ thống này bao gồm camera giám sát của đô thị thông minh và hệ thống camera công cộng.
Đơn vị khai thác và xử lý vi phạm gồm: Văn phòng HĐND - UBND TP Đồng Hới, Công an TP Đồng Hới, đội Cảnh sát giao thông - trật tự, Công an các phường, xã, đội Quy tắc và trật tự đô thị TP Đồng Hới.
Khi phát hiện hình ảnh, video các trường hợp vi phạm hành chính từ hệ thống camera, trong vòng 5 ngày làm việc, Trung tâm Giám sát điều hành đô thị thông minh sẽ chuyển, gửi dữ liệu, hình ảnh sang cho Công an TP Đồng Hới để thực hiện xác minh, kết luận vụ việc và xử lý; căn cứ vào thông tin và hình ảnh từ hệ thống camera để lập hồ sơ xử phạt vi phạm theo quy định của pháp luật.
Thời hạn xác minh dữ liệu, hình ảnh, video… không quá 1 tháng, đối với vụ việc phức tạp, thời hạn xác minh là 2 tháng kể từ ngày nhận được dữ liệu từ Trung tâm Giám sát điều hành Đô thị thông minh. (Kinhtedothi.vn 29/3, Bùi Đức)Về đầu trang
TP. Vũng Tàu: Xây dựng chính quyền số, xã hội số, kinh tế số
Chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh là một trong 4 nhiệm vụ then chốt mà Đại hội Đảng bộ TP. Vũng Tàu đề ra trong nhiệm kỳ 2020-2025. Trong năm 2022, thành phố xác định nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số tập trung vào 3 trụ cột: Chính quyền số, xã hội số và kinh tế số.
Trước khi đến làm thủ tục hành chính (TTHC) tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả Văn phòng HĐND và UBND TP. Vũng Tàu, ông Trần Công Thành (phường 4, TP. Vũng Tàu) đã thực hiện đăng ký số trực tuyến qua tính năng bốc số trực tuyến trên nền tảng điện thoại di động “Vung tau IOC”. Do vậy, ông không phải chờ đợi lâu, hồ sơ được giải quyết nhanh nên cảm thấy rất hài lòng.
Cũng với tính năng này, với hệ thống quản lý lưu trú, các cơ sở như nhà nghỉ, khách sạn trên địa bàn thành phố cũng có thể nhập thông tin và nộp báo cáo khách lưu trú đến cơ quan chức năng một cách nhanh chóng.
“Dịch vụ công trực tuyến được triển khai rộng rãi, người dân, tổ chức có thể đăng ký TTHC mọi lúc, mọi nơi và được công chức tiếp nhận, xử lý trực tuyến”, ông Ngô Phước Cường, Phó Trưởng Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả Văn phòng HĐND và UBND TP. Vũng Tàu chia sẻ. Ông Cường cho biết thêm, đến nay, UBND thành phố đạt 100% cung ứng dịch vụ công mức độ 3 ,4 gồm: 49 TTHC mức độ 3 và 225 TTHC mức độ 4. Riêng năm 2021, thành phố tiếp nhận 1.334 hồ sơ trực tuyến và giải quyết đúng hạn.
Bên cạnh đó, 100% văn bản hành chính thông thường của các phòng, ban chuyên môn thành phố đều gửi nhận trên môi trường điện tử và được ký số theo quy định. Từ tháng 7/2017, toàn bộ các cơ quan, đơn vị Nhà nước trên địa bàn thành phố cũng chấm dứt việc chuyển văn bản giấy, xử lý công việc trên môi trường điện tử; 17 phường, xã có phòng họp trực tuyến, tạo nền tảng chuyển đổi số.
Ngoài ra, thành phố đang hoàn thiện đề án số hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu hộ tịch và dự kiến đưa vào sử dụng trong quý III/2022 nhằm xây dựng kho cơ sở dữ liệu điện tử về người dân, phục vụ mục tiêu chuyển đổi số Quốc gia. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2025 nâng tỷ lệ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước đạt trên 80%.
Từ đầu tháng 3/2022, Phòng Kinh tế TP. Vũng Tàu phối hợp với đơn vị tư vấn khảo sát hiện trạng các chợ truyền thống và triển khai thí điểm chợ 4.0 tại chợ Mới Vũng Tàu và chợ phường Thắng Nhất. Với mô hình 4.0, chợ truyền thống sẽ chuyển dịch thanh toán số một cách toàn diện trên ứng dụng trả tiền không dùng tiền mặt. Tiểu thương chợ Mới Vũng Tàu và chợ phường Thắng Nhất được cấp mã QR code (QR) và người dân mua hàng chỉ cần dùng điện thoại thông minh quét mã QR là có thể thanh toán qua tài khoản ngân hàng.
Nhằm hướng tới xã hội số, thành phố còn triển khai các biện pháp thúc đẩy thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt trên địa bàn. Theo ông Hoàng Vũ Thảnh, Chủ tịch UBND TP. Vũng Tàu, hiện có hơn 70% dân số thành phố có điện thoại thông minh. Đây là lợi thế góp phần thúc đẩy xây dựng đô thị thông minh, hiện thực hóa các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra. Hiện thành phố đang từng bước triển khai nhiều giải pháp, tăng cường công tác tuyên truyền thay đổi thói quen của người dân trong việc sử dụng thanh toán tiền mặt sang thanh toán điện tử thông qua tài khoản ngân hàng, ví điện tử và các ứng dụng mobile money; khả năng giao tiếp trong môi trường số, kỹ năng số cơ bản, mua bán hàng hóa trên mạng, giúp người dân hiểu được lợi ích khi sử dụng tài khoản thanh toán điện tử và ví điện tử.
“Thành phố đặt mục tiêu đến cuối năm 2022 phấn đấu đạt 100% cán bộ, công chức, người lao động trực thuộc UBND thành phố có tài khoản thanh toán điện tử hoặc ví điện tử. 70% dân số thành phố từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng. 80% cán bộ hưu trí có smartphone tải và cài đặt ứng dụng BHXH điện tử VSSID. 80% cán bộ hưu trí có tài khoản ngân hàng chấp nhận thanh toán lương hưu bằng hình thức chuyển khoản. 80% phụ huynh, học sinh nộp tiền học phí, BHYT và các khoản phí khác thông qua hình thức chuyển khoản”, ông Hoàng Vũ Thảnh cho hay. (Baobariavungtau.com.vn 29/3, An Nhiên)Về đầu trang
Nộp phạt vi phạm giao thông trực tuyến: Tiện trăm bề
Sau một tháng áp dụng hình thức nộp phạt vi phạm giao thông trực tuyến, người dân đã bớt đi rất nhiều phiền hà, lực lượng chức năng cũng nhàn hơn hẳn.
Tính từ đầu tháng 3 đến nay, đã có hơn 3.000 dữ liệu vi phạm lên phần mềm do Phòng Cảnh sát giao thông (CSGT) quản lý, 353 trường hợp sử dụng Cổng Dịch vụ công quốc gia để nộp phạt trực tuyến.
Nếu như trước đây, người dân sau khi bị lập biên bản vi phạm hành chính sẽ được hẹn ngày đến trụ sở công an làm việc. Tiếp đến là nộp tiền ở kho bạc rồi mới trở lại lấy giấy hẹn và chờ đến thời gian quay lại trụ sở công an để nhận lại giấy tờ bị tạm giữ. Tức là với hình thức này, người vi phạm vô cùng mệt mỏi vì mất ít nhất 4 lần đi lại.
Khi chưa áp dụng hình thức nộp phạt trực tuyến, người vi phạm phải giải quyết theo hình thức cũ thì chỉ cần một phép tính đơn giản cũng đủ để thấy thời gian lao động, sản xuất của người dân Thủ đô bị tiêu tốn nhiều ra sao. Chưa kể, để tránh phiền hà vì quá mất thời gian, những tiêu cực trong xử lý vi phạm trực tiếp cũng vì vậy mà có cơ hội nảy sinh.
Vì thế, nộp phạt trực tuyến trong lĩnh vực giao thông nhận được sự ủng hộ lớn của người dân bởi nó có tác động tích cực, thiết thực đối với công việc, cuộc sống hàng ngày của mỗi cá nhân. Cần phải nói rõ, việc nộp phạt vi phạm giao thông bằng hình thức trực tuyến đã được áp dụng ở cấp độ 1, 2 và đạt được kết quả khả quan. Do vậy, việc xử phạt để nâng cao năng lực giải quyết các thủ tục hành chính được nâng lên cấp độ 3 và 4. Cụ thể, việc đẩy thông tin lỗi vi phạm trên đường sẽ được áp dụng xuống tới các đội CSGT, thay vì cấp Phòng như trước đây.
Triển khai hình thức này, CSGT khi phát hiện vi phạm sẽ lấy thông tin người điều khiển phương tiện sau đó đưa lên hệ thống dịch vụ công. Người dân nhận mã số qua điện thoại để về nhà tra cứu, tiến hành nộp phạt trực tuyến. Hình thức này cũng giúp người dân sống ở đâu thực hiện nộp phạt ở đó, giảm hẳn thời gian, công sức vì phải đến tận nơi vi phạm để nộp phạt.
Tất nhiên loại hình dịch vụ mới nào cũng có những khó khăn, bỡ ngỡ khi tiếp cận, thậm chí là hồ nghi. Không ít ý kiến còn lo ngại việc nộp phạt trực tuyến trên hệ thống kỹ thuật có thể bị can thiệp vì mục đích riêng. Hay như việc nhận lại giấy tờ sau khi nộp phạt có thể xảy ra thất lạc hoặc kéo dài, gây lo ngại cho người dân.
Tuy nhiên, chỉ cần người dân đăng ký địa chỉ chính xác, những lo ngại đó khó có thể xảy ra. Mặt khác, cơ quan chức năng cũng cần tăng cường giám sát, hậu kiểm, kể cả đối với việc ra quyết định, nộp phạt trực tuyến để tránh những tiêu cực, sai sót.
Thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0 với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi mặt đời sống. Nộp phạt trực tuyến cũng là một trong những giải pháp để góp phần xây dựng đô thị thông minh, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nên rất cần được duy trì, phát huy ngày càng hiệu quả hơn. (Kinhtedothi.vn 30/3, Vũ Khoa)Về đầu trang
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 của Bộ Tài chính vượt yêu cầu, đạt gần 60%
Bộ Tài chính xác định cung cấp dịch vụ công trực tuyến là ưu tiên hàng đầu trong xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Đến nay, tổng số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 do bộ cung cấp đạt tỷ lệ 59,68%.
Bộ Tài chính cho biết, tổng số dịch vụ công trực tuyến thực tế triển khai hiện nay là 868. Trong đó, số dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 là 10,48%; số dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 là 29,84%; dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 là 7,14% và số dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 là 52,54%. Như vậy, tổng số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 chiếm tỷ lệ 59,68%.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương phải cung cấp 30% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên Cổng Dịch vụ công quốc gia trong năm 2020.
Đến nay, Bộ Tài chính hoàn thành kết nối, tích hợp 355/518 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, đạt tỷ lệ 68,53%, vượt hơn 30% so với yêu cầu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 và Nghị quyết số 17/NQ-CP ngày 7/3/2019 của Chính phủ.
Bộ Tài chính là bộ đa ngành, đa lĩnh vực, lĩnh vực quản lý nhà nước trực tiếp ảnh hưởng tới người dân và doanh nghiệp, do đó, Bộ Tài chính luôn dành sự ưu tiên đặc biệt cho cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý điều hành, minh bạch hóa hoạt động của cơ quan nhà nước.
Bên cạnh đó, dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính cung cấp ngày càng nhiều tiện ích, giúp giảm thời gian, chi phí, đem lại sự hài lòng cho các tổ chức và cá nhân, doanh nghiệp khi tham gia giao dịch với cơ quan tài chính.
Vì vậy, các dịch vụ công trực tuyến của Bộ Tài chính luôn được người dân, tổ chức, doanh nghiệp, đánh giá cao.
Đồng thời, người dân và doanh nghiệp khi gặp những vướng mắc trong thực hiện các chính sách thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính vào chuyên mục hỏi đáp chính sách tài chính đặt câu hỏi và gửi đến Bộ Tài chính để được giải đáp.
Bên cạnh thúc đẩy dịch vụ công trực tuyến, Bộ Tài chính còn tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành toàn ngành.
Bộ Tài chính triển khai hệ thống thông tin báo cáo kết nối với hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ từ năm 2020. Đến thời điểm hiện tại, hệ thống thông tin báo cáo hoàn thành xây dựng 93 chế độ báo cáo định kỳ do Bộ Tài chính phải thực hiện, hoàn thành cung cấp 15 chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.
Bộ Tài chính cũng triển khai thực hiện gửi, nhận văn bản điện tử thông qua chương trình quản lý văn bản và điều hành giữa cơ quan Bộ và các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ Tài chính, giữa Bộ Tài chính với Văn phòng Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương thông qua trục liên thông văn bản quốc gia.
Sau 05 năm khai thác sử dụng, số lượng văn bản điện tử được lưu trữ, quản lý trên chương trình quản lý văn bản và điều hành của Bộ Tài chính khoảng gần 2 triệu văn bản.
Đến nay, hệ thống phục vụ rất tốt cho công tác điều hành của lãnh đạo Bộ Tài chính cũng như cung cấp dữ liệu đầy đủ lên hệ thống thông tin của Chính phủ, cung cấp thông tin kịp thời cho công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ. (Vneconomy.vn 30/3, Trâm Anh)Về đầu trang
Công văn, thông tư: Sinh ra để hướng dẫn nhưng lại làm khổ doanh nghiệp
Sáng 29-3, Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) tổ chức hội thảo “Dòng chảy pháp luật kinh doanh Việt Nam 2021”. Điểm đáng chú ý nhất trong báo cáo do VCCI công bố là những vướng mắc, khó khăn do các loại văn bản, thông tư gây ra.
“Công văn có vai trò quan trọng trong thực hiện pháp luật, tác động đáng kể đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, thậm chí là môi trường kinh doanh của nước ta bởi công văn là văn bản chuyển tải các quy định tại văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) vào cuộc sống” - báo cáo của VCCI nêu.
“Cùng là một loại hàng hóa nhập khẩu, trong công văn trả lời doanh nghiệp (DN), hải quan xác định là hàng hóa mỹ phẩm còn cơ quan quản lý về dược lại xác định là trang thiết bị y tế” - ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI, nói.
Đó cũng mới chỉ là một điểm “tiêu biểu” của công văn do cơ quan nhà nước phát hành. Về nguyên tắc, công văn không phải là VBQPPL nhưng lại có nhiều công văn chứa quy định pháp luật khi một luật chưa có nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Trường hợp này, cả cơ quan thực thi lẫn DN đều lúng túng không biết áp dụng thì công văn hướng dẫn thực hiện luật sẽ chứa QPPL.
Báo cáo của VCCI dẫn ra một số công văn tiêu biểu như: Công văn 8909/2020 của Bộ KH&ĐT, Công văn 1902/2017 của Bộ Y tế, Công văn 12166/2016 của Bộ Tài chính… Tất nhiên, việc có công văn hướng dẫn khi chưa có thông tư, nghị định cũng có tác dụng tránh lúng túng khi thực hiện nhưng ở góc độ pháp lý thì báo cáo của VCCI nói “phát sinh nhiều hệ lụy”. Một trong những hệ lụy đó là “làm suy giảm hiệu lực của Luật Ban hành VBQPPL và giảm giá trị của quy trình xây dựng VBQPPL, khi một văn bản hành chính cũng có thể ban hành quy định pháp luật”.
Ông Tuấn cho hay bên cạnh đánh giá tích cực về công văn thì DN cũng thấy có nhiều hệ lụy. Chẳng hạn nó gây ra việc chưa thống nhất giữa các cơ quan nhà nước, ảnh hưởng tới độ tin cậy của xã hội đối với pháp luật.
“Có trường hợp mặc dù trong công văn của cơ quan nhà nước xác định hoạt động của DN là không vi phạm nhưng khi DN thực hiện thì lại bị xử phạt bởi chính hành vi này. Vậy trách nhiệm của các cơ quan ban hành công văn ở đâu? Giá trị của các công văn trả lời việc áp dụng pháp luật như thế nào? Nó có phải là văn bản đảm bảo cho DN nếu thực hiện đúng theo hướng dẫn không?” - ông Tuấn nêu.
Phản ánh của các DN cho thấy nội dung công văn tồn tại rất nhiều vấn đề bất cập, trong nhiều trường hợp, tác động tiêu cực đến hoạt động của DN.
“Đây là loại văn bản không chịu sự kiểm soát của quy trình ban hành hay tính chịu trách nhiệm của các cơ quan ban hành đối với hoạt động ban hành công văn vẫn chưa thực sự rõ ràng, vì vậy đưa đến rất nhiều quan ngại cho cộng đồng DN” - ông Tuấn nói.
Luật Đầu tư 2014 và 2020 dù không cho phép thông tư chứa điều kiện kinh doanh nhưng tình trạng này vẫn tồn tại. Chẳng hạn nhiều thông tư của Ngân hàng Nhà nước ban hành điều kiện kinh doanh về điều kiện cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần; giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài; cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô.
Thông tư còn đặt ra điều kiện kinh doanh ẩn trong các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Chẳng hạn như nhiều thông tư yêu cầu DN phải có cơ sở vật chất nhất định về diện tích tối thiểu, yêu cầu chứng chỉ nhân sự…
“Cũng có trường hợp không nhất thiết cần thông tư nhưng các cơ quan nhà nước vẫn ban hành” - ông Tuấn nói.
Chẳng hạn có đến hơn 70 thông tư hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, các quy định về điều kiện, trình tự thủ tục cấp giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; tổ chức tài chính vi mô… Lĩnh vực thuế giá trị gia tăng, DN hầu như chỉ quan tâm đến 14 thông tư quy định về thuế giá trị gia tăng.
“Các thông tư này quy định đầy đủ, chi tiết tất cả vấn đề liên quan đến thuế giá trị gia tăng. DN chỉ cần tra cứu các quy định tại thông tư là có thể áp dụng các quy định về thuế giá trị gia tăng trên thực tế không cần tra cứu thêm nghị định hay luật” - VCCI nêu.
“Hiện tượng thực thi luật bị lệ thuộc quá lớn vào các quy định tại thông tư đưa đến quan ngại về tình trạng “luật ống”, “luật khung” quay trở lại hay là quy định tại thông tư “to hơn” cả luật. Điều này sẽ tạo rủi ro cho môi trường kinh doanh, khi các quy định tác động đến DN lại được ban hành theo quy trình có tính chất nội bộ của các cơ quan thực thi” - ông Tuấn nhận xét.
Theo VCCI, giai đoạn từ năm 2016 đến tháng 7-2020, số lượng thông tư chiếm hơn 68% tổng số lượng VBQPPL ban hành. “Tính trung bình mỗi luật có 6,8 nghị định, 1,8 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và có tới 25,8 thông tư, 1,9 thông tư liên tịch hướng dẫn. Với số lượng áp đảo so với các VBQPPL khác, thông tư có vai trò vô cùng quan trọng khi hiện thực hóa các chính sách của nhà làm luật và sẽ tác động rất lớn đến môi trường đầu tư kinh doanh của nước ta” - ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI, nhận xét. (Plo.vn 30/3, Chân Luận – Minh Trúc)Về đầu trang
Làm sao hạn chế việc ban hành thông tư, công văn tùy ý?
Những vướng mắc mà doanh nghiệp, người dân gặp phải do hệ thống thông tư, công văn là rất nhiều và mang tính thường trực.
Tính trung bình mỗi luật có 6,8 nghị định, 1,8 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và có tới 25,8 thông tư, 1,9 thông tư liên tịch hướng dẫn. Đây là những con số gợi nhiều suy nghĩ tại Hội thảo “Dòng chảy pháp luật kinh doanh Việt Nam 2021” diễn ra hôm qua.
Những vướng mắc mà doanh nghiệp (DN), người dân gặp phải do hệ thống thông tư, công văn là rất nhiều và mang tính thường trực.
Những con số được công bố có thể mới nhưng bản chất vấn đề không hề mới nếu nhìn vào luật pháp của chúng ta.
Mỗi năm trung bình Quốc hội chỉ ban hành khoảng 20 luật. Trong khi đó, mỗi năm có khoảng 150 nghị định và khoảng 500-600 thông tư, chưa kể công văn điều hành của Văn phòng Chính phủ và bộ, ban ngành. Điều đó có nghĩa là chúng ta luôn nói có ba nhánh hành pháp, tư pháp, lập pháp nhưng thực ra nhánh hành pháp đang ban hành quá nhiều quy định. Nói một cách khác, khâu lập pháp đang nằm ở hành pháp nhiều hơn là nằm ở lập pháp. Đây là điều đáng tiếc.
Luật pháp của chúng ta có một lỗ hổng rất lớn là thiếu tính tiên liệu, từ đó kéo theo rủi ro, nguy cơ chịu thiệt hại của người kinh doanh. Mặt khác, vai trò của tòa hành chính chưa thỏa đáng. Như vậy, người dân, DN chưa có nhiều công cụ bảo vệ quyền lợi. Chỉ khi lợi ích của người dân, DN được bảo vệ đầy đủ thì luật pháp mới được xem là hoàn thiện.
Để giải quyết vấn đề trên, việc ban hành các quy định pháp luật để mở rộng đối tượng bị khởi kiện và người được khởi kiện là rất cần thiết. Điều này sẽ hạn chế việc ban hành thông tư, công văn tùy ý phục vụ cho yêu cầu quản lý. Và đó cũng là một cách để giải quyết tận gốc những hệ lụy do công văn, thông tư gây ra.
Nhìn sâu xa hơn, Quốc hội cần thay đổi cách thức tiếp cận vấn đề và làm luật. Hiện nay, xã hội có rất nhiều vấn đề, chúng ta nên ban hành luật xử lý vấn đề chứ không phải những đạo luật dài dòng như đang làm. Quy trình ban hành luật pháp cũng phải thay đổi. Có như vậy, vai trò của lập pháp mới được tăng lên.
Mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh của DN và cơ quan quản lý nhà nước phức tạp nhưng cũng luôn là động lực để cải cách thể chế. Cần thảo luận, phản ánh đến tận cùng những tác động của luật pháp vào người dân và DN. Nhờ thế, cách mạng công nghệ lần thứ tư, chuyển đổi số mới thực sự mang lại hiệu quả cho cải cách thể chế, tạo động lực phát triển.
Nếu không làm được như vậy, luật pháp của chúng ta sẽ cứ mãi đi sau dòng chảy sự kiện. (Plo.vn 30/3, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung)Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 29/3/2022 (01/04/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 28/3/2022 (01/04/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 25/3/2022 (25/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 24/3/2022 (24/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 23/3/2022 (24/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 22/3/2022 (23/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 21/3/2022 (21/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 18/3/2022 (18/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/3/2022 (17/03/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/3/2022 (16/03/2022)

