Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 13/6/2023
1. Cần cách làm mới về dịch vụ công trực tuyến
2. Thái Nguyên: Quyết liệt trong nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
3. Cục Thuế Vĩnh Phúc đẩy mạnh triển khai ứng dụng eTax Mobile
4. Ngành y tế Hà Tĩnh nỗ lực cải thiện chỉ số cải cách hành chính
5. Hải Dương: 100% hồ sơ thủ tục hành chính ở Thanh Hà được giải quyết đúng, trước hạn
6. Cơ sở dữ liệu quốc gia: Nền tảng cho chính quyền số
7. Đề xuất hạ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội
8. Bắc Kạn: Cán bộ công chức không được kinh doanh đa cấp
9. Thực trạng “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”… trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay: Đôi điều suy ngẫm
10. Tinh giản biên chế: Cần mục tiêu dài hạn!
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Cần cách làm mới về dịch vụ công trực tuyến
Dịch vụ công trực tuyến vẫn chưa toàn trình, vẫn chấp nhận người dân mang hồ sơ giấy đến bộ phận một cửa điện tử, nhận hồ sơ giấy... và cần có cách làm mới để tạo ra sự thay đổi căn bản về dịch vụ công trực tuyến Việt Nam...
Mười năm qua, dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đặc biệt từ 2020 - 2022 có bước phát triển đột phá nhờ sử dụng công nghệ số, đưa tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 tăng từ 10% lên 97%. Mặc dù vậy, dịch vụ công trực tuyến của Việt Nam hiện vẫn chưa toàn trình, thể hiện ở chỗ chưa thực sự chú trọng đến chất lượng dịch vụ công bằng thước đo hài lòng và thuận tiện cho người dân; chưa có đánh giá và công bố chất lượng cổng dịch vụ công...
Theo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng, bây giờ là lúc cần phải thay đổi nhận thức cũng như cách cung cấp dịch vụ, cần có cách làm mới để tạo ra sự thay đổi căn bản về dịch vụ công trực tuyến Việt Nam.
Trong số các địa phương triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Đà Nẵng là một trong những thành phố đi đầu cả nước. Từ năm 2019, Đà Nẵng đã triển khai xây dựng cổng dịch vụ công dưới dạng lõi, đáp ứng các tiêu chí về kỹ thuật (thanh toán, ký số, hẹn giờ, định nghĩa eform động…), kết hợp chuyển phát bưu điện công ích nên việc triển khai thuận lợi và từng bước đơn giản hóa để bảo đảm hiệu quả cho tổ chức, cá nhân tiếp cận dịch vụ công trực tuyến của thành phố.
Tại Đà Nẵng, tính đến tháng 5/2023, hầu hết thủ tục hành chính được cung cấp dưới dạng dịch vụ công trực tuyến toàn trình với 1.797 dịch vụ công trực tuyến (chỉ có 4,5% thủ tục hành chính cung cấp mức độ 2 do vướng các quy định khác nhau); hiện tại cũng đã tích hợp được 1.635 dịch vụ công trực tuyến lên Cổng dịch vụ công quốc gia. Năm 2022, thành phố Đà Nẵng có 96% dịch vụ công trực tuyến có phát sinh hồ sơ (vượt chỉ tiêu quốc gia năm 2022 là 80%); tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến là 78% (vượt chỉ tiêu quốc gia năm 2022 là 50%). Tính riêng tháng 5/2023, số lượng hồ sơ trực tuyến là 19.989 hồ sơ trên tổng cộng 22.693 hồ sơ, đạt tỷ lệ 80%.
Theo ông Nguyễn Quang Thanh, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông Đà Nẵng, để có được kết quả như trên, các cơ quan thành phố Đà Nẵng đã sớm triển khai và liên tục rà soát, cập nhật đơn giản hóa quy trình và tăng cường các giải pháp đa kênh để người dân, doanh nghiệp thuận lợi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Cụ thể có 6 điểm: một là, người dân sử dụng tài khoản công dân điện tử, đăng nhập 1 lần; chỉ cung cấp thông tin trong lần đầu, các lần sử dụng dịch vụ kế tiếp sẽ được kế thừa thông tin; hai là, đưa gần 100% thủ tục hành chính lên mức 4, toàn trình; ba là, triển khai mô hình “Đại lý dịch vụ công trực tuyến”; bốn là, sử dụng kết quả thủ tục hành chính số để hủy/bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết; năm là, sử dụng kết quả thủ tục hành chính số, kết hợp với gắn mã QR cho phép cung cấp “dịch vụ công trực tuyến nâng cao”.
Và sáu là, triển khai các chính sách thúc đẩy, tăng số lượng dịch vụ công trực tuyến (trong đó, giao các cơ quan giảm thời gian xử lý đến 50% đối với dịch vụ công trực tuyến so với xử lý hồ sơ trực tiếp; buộc các cơ quan nhà nước phải sử dụng dịch vụ công trực tuyến của cơ quan khác, không được nộp hồ sơ trực tiếp; giao chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến cho từng cơ quan; chịu chi phí chuyển phát nộp hồ sơ, kết quả cho công dân qua bưu điện...).
Tại Nam Định, theo ông Vũ Trọng Quế, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh này, tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến tăng mạnh, nên số người dân đến các trung tâm dịch vụ hành chính công đã giảm. Trước đây một ngày các trung tâm này phục vụ 400-500 người dân, nay giảm chỉ còn khoảng 200 người/ngày. Dự kiến trong thời gian tới các trung tâm hành chính công sẽ tiếp tục được thu gọn. Kết quả này đạt được là nhờ sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh, đặc biệt là đồng chí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh.
Cũng theo ông Vũ Trọng Quế, lãnh đạo và anh em cán bộ trong Sở Thông tin và Truyền thông Nam Định sẵn sàng phục vụ 24/7, đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật liên quan đến dịch vụ công trực tuyến, không để sở, ban, ngành, quận, huyện nào kêu khó về kỹ thuật. Làm được như vậy cũng phải kể đến vai trò rất lớn của các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ trên địa bàn tỉnh, nhờ đó giúp Sở hoàn thành được nhiều việc mà không cần có nhiều người.
Tại Hải Phòng, ông Hoàng Minh Cường, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố, cũng vui mừng chia sẻ tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến trung bình của Hải Phòng đã tăng từ 18% năm 2021 lên 62,2% năm 2022. Trong 5 tháng đầu năm 2023 tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 94%.
Để có được sự tăng trưởng ấn tượng của dịch vụ công trực tuyến, ông Cường cho biết Hải Phòng đã giao chỉ tiêu cụ thể về tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công toàn trình tới 35 sở, ban, ngành, quận huyện và 217 xã, phường trên toàn thành phố. Việc giao chỉ tiêu này căn cứ trên cơ sở tính toán thực trạng số lượng hồ sơ trực tuyến tại các sở, ngành, địa phương, từ đó đánh trọng số và giao tỷ lệ phù hợp làm động lực để các đơn vị, địa phương thực hiện hoàn thành chỉ tiêu giao. Ví dụ, để giao chỉ tiêu cho một sở, một huyện, sẽ căn cứ tỷ lệ hồ sơ trực tuyến hiện có (4 tháng đầu năm) của đơn vị, dự kiến tổng số hồ sơ trực tuyến toàn thành phố cần đạt của 8 tháng cuối năm và tỷ trọng hồ sơ của đơn vị đó so với toàn thành phố để giao chỉ tiêu.
Ngoài ra, Hải Phòng cũng thường xuyên tổ chức các đoàn công tác liên ngành xuống tận cơ sở hỗ trợ cán bộ cơ sở, “cầm tay chỉ việc”, kịp thời chỉ ra những hạn chế và hướng dẫn cán bộ, công chức trong việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính. Để đo lường hoạt động của các sở, ngành, quận, huyện trong việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến, Hải Phòng đã xây dựng dashboard theo dõi tỷ lệ này theo từng tháng để kịp thời biểu dương các đơn vị đạt thành tích tốt và nhắc nhở những đơn vị còn yếu kém... (Vneconomy.vn 13/6, Thủy Diệu)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Thái Nguyên: Quyết liệt trong nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Với quyết tâm nâng cao chỉ số chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) để tiến tới thăng hạng, Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban chỉ đạo PCI tỉnh Thái Nguyên Trịnh Việt Hùng đã quyết liệt trong chỉ đạo với mục tiêu: Năm 2023, đưa Thái Nguyên lọt vào Top 20 tỉnh, thành phố đạt điểm cao nhất cả nước về chỉ số PCI.
Theo đó, Chủ tịch Trịnh Việt Hùng đã đề ra mục tiêu phấn đấu, Thái Nguyên phải lọt vào Top 20 tỉnh, thành phố đạt điểm cao nhất về Chỉ số PCI năm 2023, đồng thời yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương và các cơ quan, đơn vị có liên quan trong tỉnh tập trung chỉ đạo và thực hiện quyết liệt các nội dung đã triển khai, nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh.
Chủ tịch UBND Thái Nguyên yêu cầu các sở, ngành, địa phương tập trung rà soát giải quyết dứt điểm, hiệu quả những vướng mắc mà các Hiệp hội, Hội doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã phản ánh; thường xuyên đối thoại, gặp mặt doanh nghiệp bằng nhiều hình thức, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức Hội, Hiệp hội doanh nghiệp.
Thủ trưởng các sở, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan căn cứ kết quả đánh giá xếp hạng Chỉ số PCI năm 2022, cụ thể là các chỉ tiêu, chỉ số thành phần có điểm số thấp, đặc biệt là các chỉ tiêu giảm điểm thấp hơn các năm trước liên quan đến trách nhiệm của ngành, lĩnh vực tham mưu quản lý phải nghiêm túc đánh giá chỉ ra các mặt hạn chế, khuyết điểm, xây dựng nhiệm vụ cụ thể để nâng cao điểm số các chỉ số thành phần PCI năm 2023 và các năm tiếp theo, đồng thời chủ động tham mưu Ban Chỉ đạo PCI của tỉnh triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp để cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh năm 2023 và những năm tiếp theo đạt kết quả tốt hơn.
Người đứng đầu các Sở, ban, ngành, cấp huyện, cấp xã phải quán triệt, triển khai ngay tinh thần chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh đến cán bộ, công chức trong cơ quan, tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm công vụ, thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nhất là các vấn đề liên quan đến thủ tục về đất đai, xây dụng, đầu tư, chỉ ra được nguyên nhân để giải quyết kịp thời, thỏa đáng, đúng quy định của pháp luật, đồng thời xử lý nghiêm những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh doanh nghiệp, chậm trễ trong giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị theo thẩm quyền đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; thực hiện nghiêm túc việc điều động, luân chuyển, thay đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức trong lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực.
Cùng với đó, cần khuyến khích nhân rộng mô hình Hội, Chi hội doanh nhân trên địa bàn phường, xã để tăng cường mối quan hệ trực tiếp giữa chính quyền các cấp với doanh nghiệp và doanh nhân của địa phương, xây dựng mối quan hệ, trao đổi thông tin chặt chẽ giữa Nhà nước và doanh nghiệp.
Hiệp hội, Hội doanh nghiệp tỉnh và hội doanh nghiệp các huyện, thành phố tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa trong cộng đồng doanh nghiệp về việc đánh giá chỉ số PCI một cách khách quan, trung thực, chính xác, đồng thời tiếp tục tăng cường sự kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp và chính quyền các cấp.
Toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính quyền điện tử, chuyển đổi số hướng tới chính quyền số, kinh tế số, xã hội số để nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp của các cấp chính quyền. Khuyến khích người dân, tổ chức, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí. Công khai, minh bạch quy trình giải quyết thủ tục hành chính; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận thông tin và thu hút đầu tư.
Với quyết tâm nâng cao chỉ số PCI không những để thăng hạng, mà Thái Nguyên đang đặt ra kỳ vọng với mục tiêu tạo ra môi trường đầu tư, sản xuất kinh doanh hoàn hảo, hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến Thái Nguyên nhiều hơn nữa, đó cũng chính là tiền đề, động lực để Thái Nguyên phát triển toàn diện, mạnh mẽ, xứng tầm với tiềm năng, vị thế thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc thủ đô Hà Nội và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục, y tế của khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. (Baoxaydung.com.vn 12/6, Việt Hoan)Về đầu trang
Cục Thuế Vĩnh Phúc đẩy mạnh triển khai ứng dụng eTax Mobile
Cục Thuế Vĩnh Phúc cho biết, tính đến hết tháng 3/2023, cục thuế đã cấp được 3.495 tài khoản thuế điện tử (eTax Mobile). Trong đó, số lượng người nộp thuế (NNT) cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile mới là 705 NNT, số giao dịch nộp thuế thành công trên ứng dụng eTax Mobile là 103 giao dịch tương ứng với số thuế đã nộp là 261 triệu đồng.
eTax Mobile là ứng dụng thuế điện tử được cài đặt trên điện thoại di động thông minh hệ điều hành IOS hoặc Android, cho phép cá nhân, cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thể tra cứu tờ khai đăng ký thuế mọi lúc, mọi nơi trên thiết bị có kết nối 3G/4G/Wifi/GPRS; ứng dụng sẽ hỗ trợ người nộp thuế (NNT) dễ dàng tương tác với cơ quan thuế, thuận tiện tiếp cận với các thông tin chính sách mới, tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa cơ quan thuế với NNT.
Cục Thuế Vĩnh Phúc đặt mục tiêu và quyết tâm đến hết năm 2023, triển khai đạt tối thiểu 90% NNT trên địa bàn tỉnh cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile.
Để triển khai thành công, có hiệu quả ứng dụng eTax Mobile trên địa bàn tỉnh, Cục Thuế Vĩnh Phúc đã tổ chức triển khai tập huấn trực tiếp cho cán bộ công chức (CBCC) của từng chi cục thuế trực thuộc. Đây là nền tảng, lực lượng nòng cốt, quan trọng để huy động, tập trung quyết liệt vào triển khai thực hiện nhiệm vụ từ nay đến hết 31/12/2023.
Xác định việc triển khai thành công ứng dụng eTax Mobile trên địa bàn là công việc khó khăn, vất vả, khó có thể thực hiện được trong thời gian ngắn, do số lượng đối tượng NNT hiện nay là rất lớn, trình độ nhận thức, điều kiện kinh tế của mỗi đối tượng là khác nhau, các giao dịch kinh tế lại phát sinh không thường xuyên..., song đây cũng là nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn ngành.
Do vậy, để thống nhất phương pháp, cách làm và đặc biệt là phấn đấu hoành thành chỉ tiêu, nhiệm vụ được Tổng cục Thuế giao, Cục Thuế Vĩnh Phúc đã yêu cầu Chánh Văn phòng cục thuế, trưởng các phòng thuộc cục thuế và chi cục trưởng các chi cục thuế trên địa bàn tỉnh tập trung triển khai quyết liệt các nhiệm vụ được giao.
Cụ thể, Cục Thuế Vĩnh Phúc giao Phòng Quản lý hộ kinh doanh, cá nhân và thu khác là đầu mối của cục thuế hướng dẫn, chỉ đạo về nghiệp vụ, hỗ trợ, điều phối, tháo gỡ kịp thời khó khăn vướng mắc của các chi cục thuế trong suốt quá trình triển khai thực hiện; cử lãnh đạo và cán bộ chuyên trách hướng dẫn, hỗ trợ chi cục thuế 24/7; tuyên truyền, hướng dẫn cài đặt sử dụng ứng dụng eTax Mobil đối với 100% hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN)...
Đồng thời giao Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ NNT biên tập tài liệu hướng dẫn, tuyên truyền (dưới dạng tờ rơi, quét QR code) về tiện ích, lợi ích thiết thực của việc sử dụng ứng dụng eTax Mobile gửi các chi cục thuế để thống nhất nội dung tuyên truyền; phối hợp với các cơ quan, đơn vị truyền thông trên địa bàn tỉnh, ban biên tập website cục thuế triển khai đồng bộ, hiệu quả, liên tục công tác tuyên truyền về tiện ích, lợi ích thiết thực của việc sử dụng ứng dụng eTax Mobile; chỉ đạo bộ phận chuyên môn tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn NNT là cá nhân cài đặt, sử dụng ứng dụng khi đến liên hệ công tác, giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan thuế.
Giao phòng công nghệ thông tin chịu trách nhiệm hướng dẫn, xử lý về kỹ thuật; hỗ trợ NNT, cán bộ, công chức thuế, các phòng chức năng và các chi cục thuế trong suốt quá trình triển khai thực hiện.
Giao các chi cục thuế trực thuộc trên địa bàn tỉnh bám sát chỉ đạo của Tổng cục Thuế và chỉ đạo của cục thuế tại các văn bản chỉ đạo, căn cứ nguồn lực hiện có, điều kiện thực tế tại địa bàn quản lý, đặc thù của địa phương..., để xây dựng kế hoạch, cụ thể hóa từng nhiệm vụ, đề ra phương pháp, cách làm, cho từng bộ phận chức năng, từng cán bộ thuế hàng tháng, đảm bảo công tác triển khai phù hợp, hiệu quả nhất trong từng thời điểm.
Ngoài ra, Cục Thuế Vĩnh Phúc cũng sẽ phối hợp với đài truyền thanh cấp huyện, xã đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến liên tục, sâu rộng về tiện ích, lợi ích thiết thực của việc cài đặt, sử dụng ứng dụng eTax Mobile. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 12/6, Văn Tuấn)Về đầu trang
Ngành y tế Hà Tĩnh nỗ lực cải thiện chỉ số cải cách hành chính
Tăng tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong công tác quản lý, tổ chức khám, chữa bệnh là những giải pháp đang được ngành y tế Hà Tĩnh triển khai để nâng cao chỉ số cải cách hành chính năm 2023.
Theo kết quả đánh giá của UBND tỉnh về chỉ số cải cách hành chính của các sở, ngành năm 2022, Sở Y tế xếp thứ 17 - vị trí cuối bảng. Qua phân tích từ Sở Y tế, nguyên nhân là do thời điểm đó nhiều chỉ số thành phần bị mất điểm; cơ cấu tổ chức bộ máy của một số bệnh viện tuyến huyện chưa được kiện toàn; đề án vị trí việc làm của một số đơn vị chưa được phê duyệt do chưa có thông tư hướng dẫn; số đơn vị công lập, tự chủ mới có mức tăng tự chủ còn thấp; tỷ lệ phát sinh hồ sơ dịch vụ công trực tuyến toàn trình đạt mức thấp...
Bác sỹ Nguyễn Minh Đức - Giám đốc Sở Y tế Hà Tĩnh cho biết: “Từ kết quả đánh giá chỉ số cải cách hành chính năm 2022, ngành đã nhanh chóng chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị xây dựng kế hoạch, các giải pháp cụ thể, quyết liệt để khắc phục các tồn tại, hạn chế, nâng cao chỉ số cải cách hành chính, qua đó phục vụ tốt hơn cho người dân".
Ngay khi có Thông tư 03/2023/TT-BYT hướng dẫn về vị trí việc làm, định mức số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp y tế công lập, Sở Y tế đã đẩy mạnh thực hiện thẩm định đề án vị trí việc làm cho các đơn vị sự nghiệp.
Đến nay, sở đã cơ bản hoàn thành việc thẩm định đề án cho 15 đơn vị; thực hiện sắp xếp lãnh đạo các cơ quan, lãnh đạo phòng, ban các đơn vị trực thuộc theo đúng quy định. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm thực thi công vụ, thực hiện quy chế chuyên môn, kỷ luật, kỷ cương hành chính, quy trình giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp tại các đơn vị trong toàn ngành.
Ông Nguyễn Xuân Thanh - Phó Trưởng phòng Tổ chức cán bộ (Sở Y tế) cho biết: "Cùng với các giải pháp hành chính, ngành nỗ lực thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và thực hiện công tác thăm khám, điều trị tại các cơ sở y tế. Với việc tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến nên trong 5 tháng đầu năm, tỷ lệ thủ tục dịch vụ công trực tuyến toàn trình có phát sinh hồ sơ của sở đạt 85%, đây là một kết quả rất tích cực. Đặc biệt, đến nay, 100% cơ sở khám, chữa bệnh đã thực hiện khám, chữa bệnh bằng thẻ căn cước công dân có gắn chip và ứng dụng VNeID”.
Bên cạnh đó, các cơ sở y tế cũng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua việc sử dụng các phần mềm, tiện ích thông minh để nâng cao chất lượng phục vụ.
Ông Tôn Đức Quý - Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh cho biết: “Với quan điểm “lấy người bệnh làm trung tâm”, bệnh viện luôn quan tâm tới công tác cải cách hành chính, rút gọn các bước trong quy trình khám chữa bệnh, hướng đến sự hài lòng và an toàn của người bệnh. Cùng việc cải cách thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải cách thủ tục hành chính, bệnh viện đã ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong quá trình hoạt động.
Đến nay, bệnh viện đã triển khai máy quét mã vạch phục vụ kiểm tra thẻ BHYT và hệ thống mã vạch trong xét nghiệm; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh, thanh toán BHYT và kê đơn thuốc điện tử góp phần giảm tải, rút ngắn thời gian khám, chữa bệnh, tránh để bệnh nhân chờ đợi lâu; vận hành hệ thống gọi số tự động qua đó đảm bảo tính minh bạch trong công tác đón tiếp người bệnh”.
Được biết, hiện nay, các cơ sở y tế trên địa bàn Hà Tĩnh đều triển khai có hiệu quả phần mềm quản lý khám, chữa bệnh; thực hiện liên thông dữ liệu khám sức khoẻ lái xe; tổ chức nâng cấp hồ sơ sức khoẻ điện tử lên phiên bản V2.0; 100% cơ sở áp dụng chữ ký số; hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng khai thác hiệu quả phần mềm quản lý tiêm chủng; các cơ sở kinh doanh dược và thiết bị y tế áp dụng phần mềm kết nối các cơ sở cung ứng thuốc trên địa bàn... (Baohatinh.vn 13/6) Về đầu trang
Hải Dương: 100% hồ sơ thủ tục hành chính ở Thanh Hà được giải quyết đúng, trước hạn
Từ đầu năm đến nay, huyện Thanh Hà tiếp nhận gần 10.000 hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của công dân. Trong đó, cấp huyện tiếp nhận gần 5.000 hồ sơ, cấp xã tiếp nhận trên 4.500 hồ sơ. 100% số hồ sơ thủ tục hành chính được giải quyết trước hạn, đúng hạn.
Tỷ lệ số hóa hồ sơ thủ tục hành chính tiếp nhận đạt 99,68%, tỷ lệ số hóa kết quả hồ sơ thủ tục hành chính đạt 97,1%. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến toàn huyện đạt 94,72%. Thanh Hà cũng là một trong những địa phương có tỷ lệ hồ sơ tiếp nhận, giải quyết trực tuyến cao nhất tỉnh.
Năm 2022, huyện Thanh Hà đứng cuối cùng trong 12 huyện, thị xã, thành phố về Chỉ số cải cách hành chính cấp huyện. Để khắc phục hạn chế này, từ đầu năm đến nay, huyện Thanh Hà triển khai nhiều biện pháp nâng cao chất lượng cải cách hành chính; tăng cường tuyên truyền, phối hợp, hỗ trợ giữa các cơ quan, đơn vị; tổ chức đoàn kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất về cải cách hành chính tại các địa phương… (Baohaiduong.vn 13/6, PV)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Cơ sở dữ liệu quốc gia: Nền tảng cho chính quyền số
Một trong số những nhiệm vụ quan trọng của các bộ ngành, địa phương, đơn vị trong việc thực hiện chuyển đổi số (CĐS) chính là xây dựng, hình thành, kết nối và chia sẻ dữ liệu thông qua các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Theo số liệu từ Bộ TT&TT, tính đến tháng 5/2023, Hệ thống nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP) đã ghi nhận có tổng số giao dịch thực là 28.045.703, trung bình hằng ngày có khoảng 1,47 triệu giao dịch.
Được biết, Hệ thống NDXP đã giúp hỗ trợ hoàn thành kết nối cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về cán bộ, công chức, viên chức với 20 bộ, ngành và 60 địa phương. Đồng thời, Hệ thống cũng kết nối, đăng ký, giải quyết chính sách trợ giúp xã hội trực tuyến với 41 địa phương.
13 đơn vị bộ, ngành, 1 doanh nghiệp (DN) nhà nước (EVN), 3 DN viễn thông và 63 địa phương đã được Bộ Công an kết nối để phục vụ khai thác thông tin. Tính đến nay, trên toàn quốc đã có 11 địa phương triển khai số hóa dữ liệu hộ tịch trên nền tảng CSDL quốc gia về dân cư, đồng thời, tiếp tục hỗ trợ các đoàn thể xây dựng dữ liệu quản lý đoàn viên, hội viên.
Theo thông tin tổng hợp của Bộ TT&TT, Bộ Công an cũng đã tiếp nhận 108,7 triệu yêu cầu xác thực thông tin thuê bao của 03 nhà mạng Viettel, Vinaphone, Mobiphone, có thông tin trùng khớp là 90,27 triệu yêu cầu (đạt 83%).
Tính đến ngày 18/5/2023, ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đạt những kết quả tích cực như Bộ Công an khi hoàn thành việc xác thực thông tin của hơn 83 triệu nhân khẩu với CSDL quốc gia về dân cư.
Đơn vị này cũng đã thực hiện việc triển khai thí điểm khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế (BHYT) bằng căn cước công dân (CCCD) gắn chip. Hiện tại, trên phạm vi toàn quốc đã có gần 12,5 nghìn cơ sở khám chữa bệnh BHYT thực hiện tra cứu thông tin thẻ BHYT bằng CCCD gắn chíp ,đạt 97% tổng số cơ sở khám chữa bệnh BHY với hơn 25,7 triệu lượt tra cứu thông tin thẻ BHYT bằng CCCD thành công phục vụ làm thủ tục khám chữa bệnh BHYT.
Thêm vào đó, BHXH Việt Nam đang nỗ lực tiếp tục kết nối, trao đổi, chia sẻ dữ liệu giữa BHXH với Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ TT&TT; Bộ Tư pháp; Bộ Y tế; Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT)….
Các dữ liệu từ BHXH cấp huyện trở lên đang được tự động cập nhật lên Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ. Đồng thời, ngành bảo hiểm đang tiếp tục phối hợp với Văn phòng Chính phủ, các bộ liên quan hoàn thiện quy trình để tích hợp, cung cấp các dịch vụ công.
Tính đến ngày 22/5/2023, Bộ Tư pháp cũng đã vận hành hiệu quả Hệ thống đăng ký và quản lý hộ tịch điện tử toàn quốc, kết quả đạt được: Dữ liệu đăng ký kết hôn (8.810.207); dữ liệu đăng ký khai tử (5.441.461), dữ liệu đăng ký khai sinh đạt 35.898.836 (trong đó có 8.696.362 trẻ em được cấp số định danh cá nhân theo quy định, 4.905.771 hồ sơ khai sinh có số định danh cá nhân được chuyển sang hệ thống của BHXH) và dữ liệu khác (9.718.669).
Ngành Tài nguyên và Môi trường cũng đã đẩy mạnh việc quản lý đất đai theo hướng dữ liệu số. Ngành đã xây dựng mới CSDL cho 160 huyện và chuyển đổi CSDL cho 90 huyện. Đồng thời, vận hành CSDL đất đai thường xuyên tại Văn phòng Đăng ký đất đai và các Chi nhánh của các tỉnh, thành phố.
Dữ liệu đất đai của 52/63 địa phương đã được kết nối, liên thông với Hệ thống tích hợp, kết nối, chia sẻ dữ liệu đất đai quốc gia; kết nối dữ liệu từ CSDL đất đai quốc gia, CSDL đất đai cấp địa phương với Nền tảng NDXP, Trung tâm điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và sẵn sàng chia sẻ dữ liệu cho các Bộ ngành, địa phương.
Đến nay, tất cả 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã và đang triển khai xây dựng CSDL đất đai với 217/705 đơn vị cấp huyện cùng 43 triệu thửa đất đã hoàn thành và đưa vào sử dụng thường xuyên tại Văn phòng Đăng ký đất đai và các Chi nhánh của các tỉnh, thành phố; tiếp tục xây dựng CSDL 250 huyện, thuộc 30 tỉnh, thành phố, dự kiến hoàn thành 6/2023.
Nhằm phát triển nền kinh tế số quốc gia theo hướng bền vững, việc hình thành CSDL quốc gia về tài chính là rất quan trọng. Do đó, Bộ Tài chính đang xây dựng, hoàn thiện các CSDL chuyên ngành phục vụ Đề án xây dựng CSDL quốc gia về Tài chính (triển khai 12 CSDL chuyên ngành). Đồng thời, đơn vị đã hoàn thành xây dựng và đã đưa vào triển khai sử dụng 10 CSDL chuyên ngành, 02 CSDL chuyên ngành đang tổ chức nâng cấp và hoàn thiện.
Được biết, Bộ TT&TT đã đưa ra nhiều đề xuất, kiến nghị cho các đơn vị thực hiện, tập trung cho nội dung dữ liệu: Các đơn vị cần đẩy mạnh xây dựng, cập nhật, liên thông, kết nối các CSDL quốc gia, CSDL chuyên ngành để tích hợp, chia sẻ thông tin dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Nhờ đó, chính quyền các cấp và giải quyết nhanh thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp. (Kinhtedothi.vn 13/6, Hà Thanh)Về đầu trang
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
Đề xuất hạ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội
Mới đây, Bộ LĐTBXH đề xuất tại Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) gửi Bộ Tư pháp thẩm định về việc hạ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội từ 80 tuổi xuống 75 tuổi với người không có lương hưu lẫn trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Ngoài đề xuất hạ tuổi, người cao tuổi đủ điều kiện nhận trợ cấp 500.000 đồng mỗi tháng từ ngân sách Nhà nước thay vì 360.000 đồng như hiện hành và được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Tùy điều kiện kinh tế - xã hội và ngân sách từng thời kì, Chính phủ báo cáo Quốc hội quyết định điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội.
Bà Phạm Thị Hải Chuyền - nguyên Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam - bày tỏ đồng tình trước đề xuất này. “Hiện nay, trong điều kiện ngân sách cho phép thì chỉ nâng mức trợ cấp hưu trí xã hội với các xã nghèo. Theo tôi, cần phải nâng mức trợ cấp xã hội với những cụ già không có lương hưu, không có tích lũy chứ không chỉ riêng với người già tại các xã nghèo. Đề xuất mới đây của Bộ LĐTBXH là hoàn toàn chính đáng” - bà Chuyền nhận định.
Bà Chuyền lí giải, với những người cao tuổi ở nông thôn, không có lương hưu, cuộc sống rất khó khăn. Tỉ lệ người già ở nông thôn ở Việt Nam hiện nay vẫn cao, đa số họ không có tích lũy, chờ vào thu nhập của con cái. Thế nhưng, có người con lo được cho bố mẹ nhưng cũng có những người chỉ lo được cho cuộc sống cá nhân. Việc chu cấp và chăm sóc cho bố mẹ với họ là quá khó khăn. Do vậy, nếu được Nhà nước trợ cấp từ 360.000 đồng lên 500.000 đồng là rất cần thiết và phù hợp. “Chúng ta nên dành cho người già những chế độ nhất định. Người cao tuổi sẽ đỡ tủi thân” - bà Chuyền cho hay.
Khi còn là đại biểu Quốc hội, ông Bùi Sỹ Lợi - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội (nay là Ủy ban Xã hội của Quốc hội) đã nhiều lần phát biểu đề xuất cần xem xét giảm tuổi trợ cấp hưu trí xuống để mở rộng chính sách an sinh xã hội với những người yếu thế. Do vậy, việc đề xuất giảm tuổi trợ cấp hưu trí xã hội tại Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi từ 80 xuống 75 tuổi là hoàn toàn phù hợp, đáp ứng nguyện vọng của cử tri, người dân.
Theo ông Lợi, thời gian tới nếu nguồn lực có đủ nên tiếp tục nghiên cứu hạ xuống 70 tuổi. Cùng với hạ tuổi thì việc đề xuất nâng mức hỗ trợ từ 360.000 đồng lên 500.000 đồng/tháng cũng xác đáng trong lúc giá cả, chi phí sinh hoạt tăng cao như hiện nay. “Con số 500.000 đồng không phải lớn nhưng phần nào đó giúp những người cao tuổi có thêm khoản tiền để lo cho cuộc sống” - ông Lợi cho hay.
Ngoài ra, trước đây, có nhiều trường hợp người lao động thuộc các cơ quan Nhà nước thôi việc hưởng trợ cấp một lần theo các quy định và đến nay họ không còn thu nhập, đời sống khó khăn. Với những trường hợp này, với nam từ 62 và nữ từ 60 đến dưới 75 tuổi có thể xem xét có một khoản trợ cấp hay hỗ trợ hàng tháng cho họ.
Về lâu dài, cần có các giải pháp để huy động tham gia, tiến tới thực hiện bảo hiểm xã hội toàn dân. Khi người dân có đóng góp thì sau này hết tuổi lao động sẽ được hưởng lương hưu. Từ đó giảm đi gánh nặng cho Nhà nước, cho xã hội và mức lương hưu hưởng cũng cao hơn so với mức trợ cấp. (Laodong.vn 13/6, Lương Hạnh)Về đầu trang
Bắc Kạn: Cán bộ công chức không được kinh doanh đa cấp
Thực hiện Nghị định số 40/2018/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức kinh doanh đa cấp, Sở Công thương Bắc Kạn đang tiến hành rà soát, nắm bắt tình hình cán bộ công chức trong các cơ quan nhà nước tham gia kinh doanh đa cấp để có biện pháp nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời.
Kinh doanh theo phương thức đa cấp là hoạt động kinh doanh sử dụng mạng lưới người tham gia gồm nhiều cấp, nhiều nhánh, trong đó, người tham gia được hưởng hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế khác từ kết quả kinh doanh của mình và của những người khác trong mạng lưới.
Theo Sở Công thương, trên địa bàn tỉnh hiện có 08 doanh nghiệp đăng ký bán hàng đa cấp tại địa phương, với số lượng người tham gia bán hàng đa cấp khoảng 1.300 người. Các mặt hàng kinh doanh chủ yếu là sản phẩm chức năng, mỹ phẩm và đồ gia dụng. Hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh theo phương thức đa cấp trên địa bàn tỉnh có quy mô nhỏ, trong đó, đa số doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm có nguồn gốc nhập khẩu từ nước ngoài.
Tại điểm đ, khoản 2, Điều 28 Nghị định 40/2018/NĐ-CP quy định rõ các trường hợp không được tham gia bán hàng đa cấp, trong đó có cán bộ công chức theo quy định pháp luật về cán bộ, công chức. Cụ thể, Điều 20 Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 quy định công chức không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh. Mặc dù quy định cấm đối với cán bộ công chức tham gia bán hàng đa cấp đã rất rõ, tuy nhiên theo Sở Công thương, tình trạng này vẫn có.
Qua kiểm tra, Đoàn kiểm tra phát hiện một số doanh nghiệp thực hiện ký kết hợp đồng bán hàng đa cấp (tư vấn viên) đối với một số trường hợp thuộc diện không được tham gia bán hàng đa cấp. Đoàn kiểm tra đã nhắc nhở, hướng dẫn và yêu cầu các doanh nghiệp tham gia hoạt động bán hàng đa cấp, kiểm tra, rà soát danh sách thành viên tham gia bán hàng đa cấp thuộc diện không được tham gia bán hàng đa cấp theo quy định thì chấm dứt hợp đồng.
Đồng thời, tham mưu UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ban ngành, UBND các huyện, thành phố tăng cường phối hợp kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hoạt động bán hàng đa cấp, hoạt động tổ chức hội nghị, hội thảo của doanh nghiệp bán hàng đa cấp và người tham gia bán hàng đa cấp tại địa phương. Thường xuyên kiểm tra hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng sản phẩm theo quy định của pháp luật đối với các sản phẩm lưu thông trên thị trường và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật. Quán triệt cán bộ, công chức không được tham gia bán hàng đa cấp theo quy định tại Nghị định số 40/2018/NĐ-CP ngày 12/3/2018 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh theo phương thức đa cấp.
Năm 2023, Sở Công thương tiếp tục triển khai kế hoạch kiểm tra các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp. Để nắm bắt tình hình và có biện pháp chấn chỉnh kịp thời, vừa qua Sở Công thương đã ban hành công văn gửi tới các cơ quan, đoàn thể của tỉnh đề nghị phối hợp rà soát cán bộ công chức phục vụ công tác kiểm tra hoạt động bán hàng đa cấp.
Trên thực tế một số ít cán bộ công chức chưa nhận thức đầy đủ về quyền và trách nhiệm của mình trong việc tuân thủ các quy định trong Luật Cán bộ, công chức. Có cán bộ, công chức qua rà soát mới biết mình tham gia bán hàng đa cấp là vi phạm. Họ chỉ nghĩ đơn giản là tham gia bán hàng để tăng thu nhập. Việc rà soát là một hình thức tuyên truyền, nhắc nhở để cán bộ, công chức nâng cao nhận thức và chấp hành các quy định pháp luật.
Ông Đinh Lâm Sáng, Phó Giám đốc Sở Công thương cho biết: "Việc triển khai quyết liệt các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh đa cấp trên địa bàn sẽ góp phần chấn chỉnh những vi phạm của cán bộ công chức, cũng như giúp các doanh nghiệp tuân thủ các quy định pháp luật". (Baobackan.com.vn 12/6, Phương Thảo)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Thực trạng “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”… trong đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay: Đôi điều suy ngẫm
Vấn đề dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách (“6 dám”) vì lợi ích chung đã được nói nhiều trong suốt mấy năm nay. Trên các phương tiện truyền thông đã phát đi những thông điệp từ các đồng chí lãnh đạo ở cả Trung ương và địa phương, đến các học giả, các chuyên gia, cùng đông đảo ý kiến từ các tầng lớp nhân dân về hiện tượng “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”…
Vấn đề này không còn mang tính cá biệt mà đang diễn ra ở nhiều nơi, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là những vấn đề nhạy cảm liên quan đến các vụ án, đại án đã và đang được điều tra, xét xử. “Sợ sai”, “sợ trách nhiệm”… hoàn toàn trái ngược với phẩm chất “6 dám” - một đòi hỏi khách quan để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Nguyên nhân của tình trạng “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”, “đùn đẩy, né tránh”, cái gì cũng dựa dẫm vào tập thể, không dám quyết đoán (dù đó là trách nhiệm của mình) là hệ lụy của sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Ở mức độ thấp là những người muốn được yên thân; mức độ cao hơn, phổ biến hơn là những người có năng lực, trình độ, có kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý, trải qua nhiều cương vị nhưng đã “nhúng chàm” với nhiều “tai tiếng”, chưa bị phát hiện, chưa bị xử lý. Họ không dám làm, không dám nói, không tham mưu đề xuất, không triển khai công việc hoặc triển khai cầm chừng… nhằm che giấu dấu vết sai phạm để hạ cánh an toàn. Ở một số đối tượng khác, là những người thiếu bản lĩnh, trình độ và năng lực yếu kém, được đề bạt, bổ nhiệm nhờ thân quen, chạy chức, chạy quyền, “ngồi không đúng chỗ”, không thể thực thi công việc được giao.
Điều đáng quan tâm là cán bộ tâm huyết, vì nước, vì dân, có bản lĩnh chính trị, nhận thức và hành vi đúng, phù hợp với chủ trương của Đảng, pháp luật Nhà nước luôn kiên định đổi mới và sáng tạo nhằm đạt được mục tiêu vì lợi ích chung. Với họ, nếu không được tạo điều kiện để thực hiện “6 dám” thì đổi mới, sáng tạo vẫn là khẩu hiệu. Thiết nghĩ, trong trường hợp họ không vụ lợi, không vì động cơ cá nhân, nếu có khuyết điểm, sai phạm phải xử lý thì cần được xem xét khoan hồng đúng tinh thần nhân văn trong xét xử mà chúng ta đã đề cập khá nhiều.
Từ thực tế cơ chế, chính sách còn chồng chéo, chưa hoàn chỉnh, chưa theo kịp xu thế đổi mới và sáng tạo mà thực tiễn đang đòi hỏi trên mọi lĩnh vực, nhất là những lĩnh vực nhạy cảm, thì tâm lý “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”... là thực trạng đáng quan tâm. Cần tập trung tháo gỡ bằng những giải pháp căn cơ, quyết liệt nhằm tạo điều kiện cho những người tâm huyết, đặc biệt là người đứng đầu, phát huy được phẩm chất “6 dám” trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ được phân công. Đảng và Nhà nước xác định và xác lập hành lang pháp lý để cán bộ, đảng viên có điều kiện phát huy dũng khí cùng nội lực nhằm giải tỏa tâm lý “sợ sai”, “sợ trách nhiệm”… trong thực thi công vụ.
Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 14/KL, và mới đây Bộ Nội vụ đang soạn thảo nghị định về khuyến khích bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm… vì lợi ích chung. Đây là bước khởi đầu đáng trân trọng, song thực tiễn cuộc sống đang đặt ra những đòi hỏi cao hơn, quyết liệt hơn, căn cơ hơn bằng việc cải cách, đổi mới thể chế thông qua việc sửa luật, tạo sự đồng bộ thông thoáng, không chồng chéo, triệt tiêu lẫn nhau giữa các điều luật. Có dư luận cho rằng, đây là việc làm quá khó trong lúc này. Song lịch sử đã cho chúng ta những kinh nghiệm thực tiễn: Cách đây mấy mươi năm, khi đất nước rơi vào hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, các nhà lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước đã trực tiếp khảo sát, nghiên cứu tình hình và đã ra quyết sách lịch sử với đường lối đổi mới, làm xoay chuyển căn bản cục diện của đất nước chúng ta. Bài học vô giá ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Mặt khác, cho dù những vấn đề căn bản của luật pháp được sửa và điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tiễn, song việc thực thi vẫn do con người. Nếu không chăm lo, bồi đắp trui rèn phẩm chất đạo đức, thì chủ nghĩa cá nhân - biểu hiện ở sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống - trong đội ngũ cán bộ, đảng viên diễn ra với nhiều hình thức tinh vi sẽ còn gây ra những tác hại vô cùng lớn cho lợi ích chung. Cho nên, tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị cũng như phòng chống tham nhũng, tiêu cực là giải pháp căn cơ, lâu dài. Đồng thời, phải tiếp tục đổi mới quan điểm đánh giá, sàng lọc, quy hoạch đội ngũ cán bộ. Đây là những giải pháp cơ bản để xây dựng ngày càng hoàn chỉnh bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.
Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo… vì lợi ích chung là biểu hiện của chuẩn mực đạo đức, phẩm chất cao quý, là đòi hỏi khách quan của mỗi cán bộ, đảng viên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình mới hiện nay. (Sggp.org.vn 12/6, Trung tướng Lưu Phước Lượng)Về đầu trang
Tinh giản biên chế: Cần mục tiêu dài hạn!
Theo số liệu thẩm tra tinh giản biên chế đến ngày 15.10.2018 và số liệu kiểm tra tinh giản biên chế đến ngày 31.12.2022 của Bộ Nội vụ, các bộ, ngành, địa phương đã tinh giản biên chế đối với 79.178 người, trong đó các bộ, ngành là 5.511 người; các địa phương là 73.667 người.
Cụ thể, số tinh giản biên chế do không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỷ lệ cao nhất, gần 53%; do chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo là 15,684%; dôi dư do sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự, đơn vị hành chính là 15,447% và cuối cùng do sức khỏe không bảo đảm chiếm tỷ lệ 3,746%.
Nếu nhìn vào con số thống kê trên, có thể thấy bước đầu việc tinh giản biên chế đã đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, như nhận định của Bộ Nội vụ thì kết quả tinh giản biên chế giai đoạn 2015 - 2021 đạt về chỉ tiêu số lượng nhưng chưa thực sự gắn với việc cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ, thậm chí còn có tình trạng nể nang, né tránh.
Các tiêu chí đánh giá cũng chưa rõ ràng, thực trạng cán bộ sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám thực thi công vụ không còn diễn ra đơn lẻ mà phổ biến ở cả địa phương và Trung ương - như nhận định trong Nghị quyết số 26 Trung ương Khóa XII thì đây vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể. Không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế này là do người đứng đầu cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa phương chưa làm hết thẩm quyền, trách nhiệm đối với công tác tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Còn có biểu hiện ngại va chạm, nể nang, thiếu nhất quán trong quán triệt, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.
Bên cạnh đó, công tác quản lý biên chế còn phân tán, thiếu tập trung, thống nhất, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Việc chia tách, thành lập mới và nâng cấp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã còn nhiều. Chế độ, chính sách về tinh giản biên chế, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức cũng chưa sát thực tiễn, chưa tạo được đột phá mạnh mẽ trong tinh giản và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.
Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà đã từng nêu quan điểm rằng, tinh giản biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là mục tiêu dài hạn, là không thể đảo ngược và để đạt được cần phải thực hiện đồng bộ nhiều nhiệm vụ, giải pháp, gắn với từng giai đoạn, bối cảnh cụ thể.
Vậy nên, điều quan trọng là đánh giá xếp loại cán bộ, công chức, viên chức phải đúng thực chất để việc triển khai áp dụng chính sách tinh giản biên chế đạt đúng mục tiêu là đưa ra khỏi đội ngũ những người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện và không đáp ứng được yêu cầu công việc, từ đó nâng cao hiệu quả, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Bên cạnh đó, cần xây dựng các cơ chế, chính sách thu hút, đãi ngộ, trọng dụng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao.
Về lý thuyết, tinh giản biên chế là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế. Thế nhưng trong triển khai, đây không thể đơn thuần là phép trừ mà kết quả phải là tinh giản đúng cán bộ, công chức, viên chức yếu kém. (Daibieunhandan.vn 13/6, Ninh Hà)Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 12/6/2023 (12/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 09/6/2023 (09/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 08/6/2023 (08/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 07/6/2023 (08/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 06/6/2023 (06/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 05/6/2023 (05/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 02/6/2023 (02/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 01/6/2023 (01/06/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 31/5/2023 (31/05/2023)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/5/2023 (31/05/2023)

