Bản tin cải cách hành chính ngày 07/1/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Triển khai kế hoạch xác định chỉ số cải cách hành chính năm 2019

2. Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Các bộ cải cách tốt nhưng cát cứ

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. TP Hồ Chí Minh: Giải quyết thủ tục hành chính hướng đến sự hài lòng thực chất

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Cắt giảm 25% TTHC lĩnh vực chi trả BHXH

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

5. Thêm nhiều quy định mới liên quan đến công chức, viên chức: Loại bỏ quan niệm an phận

6. Cán bộ, công chức được nhận quà biếu Tết dưới 500.000 đồng

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

7. Tâm và tầm!

8. Từng bộ tốt, liên bộ phải tốt hơn!

TIN THẾ GIỚI

9. Thủ tướng mong muốn Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam trong cải cách hành chính

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Triển khai kế hoạch xác định chỉ số cải cách hành chính năm 2019

Sáng 6/1, tại TP. Vinh, Bộ Nội vụ và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức Hội nghị triển khai kế hoạch tổng kết chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch xác định chỉ số cải cách hành chính nắm 2019.

Tại hôi nghị, các đại biểu đã tập trung thảo luận, cho ý kiến vào kế hoạch tổng kết chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Bên cạng đánh giá một cách toàn diện những kết quả đã đạt được, chỉ ra những bất cập, hạn chế, nguyên nhân của giai đoạn 2011-2020, các ý kiến cũng tập trung đề xuất những định hướng, giải pháp, nhiệm vụ tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021- 2030 nhằm đảm bảo tính khả thi, phù hợp yêu cầu, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Bộ Nội vụ yêu cầu các địa phương triển khai tự chấm điểm Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 khách quan, chính xác, công bằng, toàn diện; đưa chỉ số này gắn với việc phát triển kinh tế - xã hội, môi trường đầu tư kinh doanh của địa phương. Theo kế hoạch, Bộ Nội vụ sẽ công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 trong tháng 2/2020. (Nhân dân 7/1, tr2) Về đầu trang

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Các bộ cải cách tốt nhưng cát cứ

"Từng bộ cải cách tốt nhưng liên bộ thì chưa tốt, còn tình trạng cát cứ. Vì thế phải liên thông, kết nối, chuyển từ thủ tục giấy sang điện tử", Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nói.

Nội dung về các giải pháp cải thiện chỉ số khởi sự kinh doanh theo đánh giá môi trường kinh doanh của Ngân hàng Thế giới (WB) được bàn đến trong cuộc họp do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng chủ trì ngày 6/1.

Nhắc lại yêu cầu của Thủ tướng, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh tinh thần quyết liệt cải cách, đặc biệt là về môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Theo xếp hạng mới nhất của WB, môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng điểm nhưng lại tụt 1 hạng, xếp 70 thế giới và thứ 5 trong ASEAN.

Trong đó, chỉ số khởi sự kinh doanh của Việt Nam đứng thứ 115/190 nền kinh tế, giảm 11 bậc so với năm 2018 với 8 thủ tục phải thực hiện. Nghị quyết 02 năm 2020 của Chính phủ đặt mục tiêu nâng xếp hạng chỉ số này lên 10 - 15 bậc ngay trong năm nay.

"Từng bộ cải cách tốt nhưng liên bộ thì chưa tốt, còn tình trạng cát cứ. Vì thế phải liên thông, kết nối, chuyển từ thủ tục giấy sang điện tử", ông Dũng đánh giá.

Theo Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (Văn phòng Chính phủ) Ngô Hải Phan, còn nhiều nội dung cần cải cách liên quan tới chỉ số khởi sự kinh doanh. Với thủ tục đăng ký doanh nghiệp, dù thực hiện trực tuyến, người dân vẫn phải nộp hồ sơ giấy.

Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, BHXH, thông tin lao động… chưa được kết nối, tích hợp, chia sẻ với nhau, khiến các cơ quan quản lý yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp thông tin một cách trùng lặp, rời rạc. 

Ông Ngô Hải Phan kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, bỏ quy định doanh nghiệp vừa phải thực hiện thủ tục trực tuyến vừa phải nộp hồ sơ bản giấy. Đề xuất Bộ Tài chính nghiên cứu bãi bỏ thủ tục mua hóa đơn giấy.

Nếu chưa thể bãi bỏ, thì yêu cầu các cơ quan thuế thực hiện nghiêm việc giải quyết thủ tục mua hóa đơn theo đúng quy định là ngay trong ngày. Làm được việc này, các cơ quan đều cho rằng sẽ giảm được rất mạnh thời gian làm thủ tục, hiện theo WB khảo sát là mất tới 10 ngày.

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Vũ Đại Thắng giải thích khi đăng ký kinh doanh, nếu bộ hồ sơ điện tử có chữ ký điện tử thì không cần nộp hồ sơ giấy, nhưng nếu chưa có chữ ký điện tử thì phải nộp hồ sơ giấy, vì luật yêu cầu như vậy.

“Hiện chi phí giao dịch chữ ký điện tử tại Việt Nam vẫn đắt đỏ, khoảng 1,5 triệu đồng/năm, nên nhiều người vẫn chưa sử dụng”, ông nói.

Trong khi đó, đại diện Tổng cục Thuế cho biết thực tế có những doanh nghiệp không muốn dùng hóa đơn điện tử. Vị này lưu ý cần đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, thậm chí đề xuất cần bắt buộc thanh toán không dùng tiền mặt vì sẽ giải quyết được rất nhiều vấn đề, để việc quản lý không nhất thiết phải bám vào tờ hóa đơn nữa.

Đại diện Bộ LĐTB&XH giải thích rằng việc khai báo lao động không phải là một thủ tục như nhận định của WB, mà doanh nghiệp chỉ phải gửi một báo cáo tới cơ quan quản lý lao động.

Tuy nhiên, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng không đồng tình với giải thích này và thực tế WB vẫn coi đây là một thủ tục.

“Các ông nói là không phiền hà, nhưng ở địa phương, họ kiểm tra mà không đúng, như sử dụng nhiều hơn số lao động đã đăng ký, thì doanh nghiệp khổ lắm”, ông nói.

Cầm tờ biểu mẫu theo hướng dẫn của Bộ LĐTB&XH, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết không chỉ là đăng ký số lao động như đại diện của Bộ phát biểu, biểu mẫu này yêu cầu doanh nghiệp khai trình sử dụng sáu tháng, một năm, giữa kỳ…

“Thế này thì doanh nghiệp kêu suốt ngày đêm làm báo cáo là đúng rồi”, Bộ trưởng nói. Ông hỏi có cắt giảm được thủ tục này không và đề nghị xem lại Thông tư hướng dẫn của Bộ LĐTB&XH về vấn đề này.

Kết luận cuộc họp, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh quyết tâm cùng các cơ quan nỗ lực giảm số thủ tục khởi sự kinh doanh từ 8 thủ tục xuống còn 4 thủ tục, tích hợp thủ tục, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

“Những gì phức tạp cho doanh nghiệp sẽ phải thay đổi”, ông Dũng nhấn mạnh. (News.zing.vn 6/1, Anh Thư) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TP Hồ Chí Minh: Giải quyết thủ tục hành chính hướng đến sự hài lòng thực chất

Người dân đánh giá mức độ hài lòng sau khi thực hiện thủ tục hành chính tại trụ sở UBND phường Ðông Hưng Thuận, quận 12.

TP Hồ Chí Minh đang tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm bảo đảm cung cấp dịch vụ công đến người dân và doanh nghiệp (DN) với thủ tục hành chính (TTHC) được đơn giản hóa, minh bạch hơn. Tuy nhiên, nhiều vấn đề từ thực tiễn đặt ra đòi hỏi các cơ quan chức năng cần khắc phục, nỗ lực nhiều hơn nữa để người dân, DN ngày càng hài lòng…

Trong năm 2019, lần thứ hai Ủy ban MTTQ TP Hồ Chí Minh phối hợp các cơ quan chức năng, DN thực hiện các cuộc khảo sát người dân và DN về mức độ hài lòng của họ đối với công tác cung ứng dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp ở thành phố. Lần này, đối tượng khảo sát được mở rộng về quy mô và số lượng. Ban Thường trực Ủy ban MTTQ thành phố chọn 16 sở, ngành của thành phố; UBND 24 quận, huyện và UBND 105 phường, xã, thị trấn để tiến hành khảo sát.

Theo Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ thành phố Vũ Thanh Lưu, đối với các sở, ngành và UBND quận, huyện thực hiện khảo sát năm tiêu chí: Thái độ của công chức trong quá trình cung cấp dịch vụ hành chính công; chất lượng việc hướng dẫn công dân làm TTHC; tổng số lần người dân và DN đi lại để hoàn thành TTHC; minh bạch về tài chính và chỉ số hài lòng chung về lần làm TTHC. Ðối với 105 UBND phường, xã, thị trấn, thực hiện khảo sát bốn tiêu chí: Thái độ của công chức trong quá trình cung cấp dịch vụ hành chính công; chất lượng việc hướng dẫn công dân làm TTHC; tổng số lần người dân và DN đi lại để hoàn thành TTHC và chỉ số hài lòng chung về lần làm TTHC.

Kết quả khảo sát (phỏng vấn trực tiếp và gọi điện) sau gần một năm thực hiện cho thấy, có đến hơn 80% người dân được hỏi tỏ thái độ hài lòng. Về chất lượng hướng dẫn công dân làm TTHC công có hơn 80% người dân được hỏi hài lòng. Số lần người dân và DN đi lại để hoàn thành TTHC thấp nhất là tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tư pháp với 1,8 lần; cao nhất là Sở Tài nguyên và Môi trường với 2,9 lần. Về minh bạch tài chính, có 14 trong tổng số 16 sở, ngành có từ một đến năm trường hợp người dân và DN nộp tiền nhưng không có biên lai thu tiền…

Một thống kê sau khảo sát khiến nhiều người không khỏi “giật mình” là tổng số lần đi lại để hoàn thành TTHC tại hai phường (phường 8, quận 3 và phường 3, quận 11) lần lượt là 6,55 và 7 lần. Nhiều ý kiến của người dân cũng thẳng thắn phản ánh về tác phong làm việc và thái độ giao tiếp của công chức; về nâng cao năng lực giải quyết công việc của công chức; bảo đảm thời gian trả kết quả đúng hẹn; các hình thức để người dân dễ tiếp cận dịch vụ hành chính công; thời gian giải quyết TTHC;…

Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ thành phố Vũ Thanh Lưu cho biết thêm, trong quá trình thực hiện khảo sát, do gặp một số khó khăn cho nên cũng đã ảnh hưởng đến kết quả. Chẳng hạn, tại các phường, xã vẫn còn tình trạng dữ liệu cập nhật, quản lý không thống nhất, không giống nhau dẫn đến việc khi đề nghị các đơn vị cung cấp dữ liệu phục vụ cho công tác khảo sát (trong thời gian 15 ngày) thì có đơn vị cung cấp nhanh, nhiều, đa dạng ở các lĩnh vực, nhưng cũng có đơn vị phải nhập dữ liệu bằng tay, cung cấp ít hoặc chỉ cung cấp ở một lĩnh vực…

Chủ tịch Ủy ban MTTQ thành phố Tô Thị Bích Châu cho biết, kết quả khảo sát lần này đã đánh giá khá toàn diện, sát thực về mức độ hài lòng của người dân và DN đối với TTHC trên các lĩnh vực. Tuy vậy, những điểm mà người dân chưa hài lòng trong quá trình giao dịch tại các cơ quan chính quyền cũng rất đa dạng; nhiều nguyên nhân, hạn chế được chỉ ra. Năm 2020, Ủy ban MTTQ TP Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người dân và tổ chức đối với công tác cải cách hành chính gắn với chủ đề năm là đẩy mạnh các hoạt động văn hóa và xây dựng nếp sống văn minh đô thị và những vấn đề mà người dân bức xúc. Ðây sẽ là cơ sở để thành phố đề ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn nhằm thực hiện có hiệu quả hơn công tác cải cách hành chính, nâng cao tính hiệu quả, hiệu lực quản lý, điều hành của lãnh đạo thành phố trong thực thi các chính sách phát triển…

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh Trần Lưu Quang đánh giá, còn nhiều khác biệt giữa con số thống kê của Ủy ban MTTQ thành phố về mức độ hài lòng của người dân khi thực hiện TTHC so với đánh giá của các cơ quan, đơn vị khác. Thực tế cũng cho thấy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy, tự đặt ra các TTHC ngoài quy định gây khó cho người dân.

Đồng chí Trần Lưu Quang yêu cầu các đơn vị, địa phương tham gia khảo sát cần “xem lại” các con số thực tế qua khảo sát lần này… Các đơn vị, địa phương cần đánh giá lại một số nội dung khảo sát người dân hài lòng và chưa hài lòng xem việc khắc phục của các cơ quan hành chính tới đâu; chọn tìm cách tham khảo, hỏi ý kiến người dân về các TTHC được cải cách đến đâu, còn điều gì chưa hài lòng; phản hồi kết quả giải quyết những vướng mắc, phản ánh của người dân về TTHC và phổ biến, nhân rộng cách làm về cải cách TTHC mà người dân hài lòng. Bởi lẽ, sự hài lòng của người dân và DN về TTHC sẽ là một trong những tiền đề thuận lợi để thành phố thực hiện các mục tiêu phát triển của mình... (Nhandan.com.vn 6/1, Quang Quý) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cắt giảm 25% TTHC lĩnh vực chi trả BHXH

Chính phủ vừa ra Quyết định 1939/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 ngành bảo hiểm và các dịch vụ công trên cơ sở kết nối chia sẻ dữ liệu giữa BHXH Việt Nam với các ngành liên quan".

Đề án có mục tiêu chung là xây dựng và triển khai các giải pháp đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Hoàn thiện, mở rộng Cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về Bảo hiểm bảo đảm dữ liệu được thu thập, xác minh và quản trị một cách đầy đủ và chính xác để kết nối, chia sẻ dữ liệu với các CSDL chuyên ngành, CSDL quốc gia có liên quan.

Mục tiêu cụ thể của Đề án là đẩy mạnh thanh toán điện tử (đặc biệt là phương thức thanh toán mà số đông người dân có thể tiếp cận sử dụng) và các điều kiện đảm bảo thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Phấn đấu đến hết năm 2020 số dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 của ngành bảo hiểm đạt tối thiểu 70%; năm 2021 số dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đạt tối thiểu 85% và 50% số người nhận lương hưu, trợ cấp BHXH, mai táng phí, tử tuất... sử dụng phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt ở khu vực đô thị; triển khai giao dịch điện tử đối với cá nhân, tổ chức trên các lĩnh vực BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp.

Thực hiện có kết quả các chỉ số, chỉ tiêu thuộc phạm vi quản lý của BHXH Việt Nam được nêu tạo Nghị quyết số 02/2019/NQ-CP của Chính phủ vê cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Rà soát cắt giảm, loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo gây khó khăn cho quá trình thực hiện; đơn giản hóa các thủ tục hành chính theo hướng dễ hiểu, dễ tiếp cận, đảm bảo tính khả thi, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức. Phấn đấu đến cuối năm 2020 đạt mục tiêu cắt giảm 25% số thủ tục hành chính lĩnh vực chính sách BHYT; 25% số thủ tục hành chính lĩnh vực chi trả BHXH; tối thiểu 20% số tiêu thức, thành phần hồ sơ, biểu mẫu so với năm 2018.

Hoàn thiện cơ sở pháp lý về xây dựng, cập nhật, duy trì, khai thác và sử dụng CSDL quốc gia về bảo hiểm, phục vụ công tác của ngành BHXH, ngành y tế, ngành LĐ-TB&XH và các ngành liên quan bảo đảm sự đồng bộ với các CSDL chuyên ngành, CSDL quốc gia có liên quan, góp phần tạo cơ sở nền tảng phát triển Chính phủ điện tử.

Thiết lập các quy chuẩn kỹ thuật về cấu trúc thông điệp dữ liệu tổ chức, công dân trao đổi với hệ thống thông tin quản lý CSDL quốc gia về bảo hiểm và các hệ thống thông tin có kết nối tới CSDL quốc gia về bảo hiểm.

Đến năm 2020 cơ bản hoàn thành việc xây dựng và vận hành CSDL điện tử về quản lý BHXH trong phạm vi cả nước và tạo lập CSDL quốc gia về bảo hiểm, bao gồm các dữ liệu về BHYT và y tế; đảm bảo các quy định kỹ thuật và quy định của pháp luật; trên cơ sở đó cung cấp các dịch vụ dữ liệu để kết nối, chia sẻ một cách rộng rãi và chuẩn hóa với hệ thống thông tin của các Bộ, ngành, địa phương và các đơn vị liên quan, đảm bảo yêu cầu khai thác dữ liệu phục vụ cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo quy định.

Để đạt được các mục tiêu trên, Đề án cũng xác định rõ 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm sẽ được tập trung triển khai thời gian tới là đẩy mạnh ứng dụng CNTT và kết nối, hai thác các CSDL của các Bộ, ngành; đẩy mạnh thanh toán điện tử và bảo đảm các điều kiện để thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và đẩy mạnh xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm.

Nhóm giải pháp đẩy mạnh xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm bao gồm hoàn thiện cơ sở pháp lý; xây dựng hạ tầng kỹ thuật; tuyên truyền, đào tạo nâng cao nhận thức về CSDL quốc gia về bảo hiểm.

Xây dựng hạ tầng kỹ thuật gồm có: xây dựng hệ thống CSDL quốc gia về BH theo quy định; kết nối, cung cấp, khai thác cơ sở dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương với Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm, trong đó ưu tiên kết nối chia sẻ dữ liệu trong lĩnh vực y tế, LĐ-TB&XH, thuế, tài chính, ngân hàng nghiên cứu, ứng dụng thẻ điện tử, tích hợp các thông tin của người dân để dùng chung trong lĩnh vực bảo hiểm, y tế, an sinh xã hội và các lĩnh vực có liên quan.

Thủ tướng Chính phủ giao BHXH Việt Nam chịu trách nhiệm chủ trì triển khai thực hiện các hoạt động của Đề án; thực hiện các nhiệm vụ được giao theo các giải pháp và phân công trong Đề án đối với CSDL quốc gia về bảo hiểm; kết nối, chia sẻ và hỗ trợ các Bộ, ngành, địa phương kết nối với CSDL quốc gia về bảo hiểm; tiếp nhận và xử lý các yêu cầu kết nối, chia sẻ khai thác dữ liệu cẩu các cơ quan, đơn vị có nhu cầu.

Các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm nâng cấp, hoàn thiện hệ thống CSDL chuyên ngành, CSDL quốc gia do đơn vị quản lý đảm bảo tiếp nhận các kết nối khai thác dữ liệu của các Bộ, ngành, địa phương theo các quy định, hướng dẫn về kết nối các hệ thống thông tin, CSDL với CSDL quốc gia về bảo hiểm. Đồng thời, phối hợp với BHXH Việt Nam thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu do các Bộ, ngành, địa phương quản lý với CSDL quốc gia về bảo hiểm.

Bộ TT&TT chủ trì, phối hợp về kỹ thuật với BHXH Việt Nam và các cơ quan liên quan thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa CSDL quốc gia về bảo hiểm với hệ thống thông tin của các Bộ, ngành, địa phương.

Bộ Y tế, Bộ LĐ-TB&XH phối hợp với BHXH Việt Nam tạo lập, cung cấp, cập nhật, bổ sung, chỉ đạo cập nhật, bổ sung các thông tin liên quan cần thiết cho CSDL quốc gia về bảo hiểm; thực hiện kết nối, chia sẻ dữ liệu trong lĩnh vực y tế, LĐ-TB&XH với CSDL quốc gia về bảo hiểm; nghiên cứu áp dụng thẻ điện tử, tích hợp các thông tin của người dân để dùng chung trong lĩnh vực bảo hiểm, y tế, an sinh xã hội. (Phapluatxahoi.vn 7/1, Anh Hùng) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Thêm nhiều quy định mới liên quan đến công chức, viên chức: Loại bỏ quan niệm an phận

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức vừa được chính thức công bố. Trong đó, có nhiều quy định mới liên quan đến tuyển dụng, xếp loại, tác động mạnh mẽ liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Một trong những nội dung sửa đổi, bổ sung trong Luật lần này được đánh giá là có tác động mạnh mẽ tới đội ngũ viên chức là quy định chấm dứt chế độ biên chế suốt đời với viên chức. Cụ thể, Luật quy định viên chức vẫn thực hiện hai loại hợp đồng là không xác định thời hạn và xác định thời hạn.

Tuy nhiên, hợp đồng không xác định thời hạn, còn gọi là chế độ biên chế suốt đời của viên chức, sẽ không còn được áp dụng với các đối tượng mới được tuyển dụng từ ngày 1/7/2020, trừ cán bộ, công chức chuyển thành viên chức và người được tuyển dụng làm viên chức làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Theo lãnh đạo Bộ Nội vụ, mục tiêu của chính sách này theo đúng tinh thần quan điểm, chỉ đạo của Nghị quyết 19 của T.Ư , đồng thời xuất phát từ thực trạng là dù đã có cơ chế, quy định để đánh giá, đào thải đối với đội ngũ công chức, viên chức nhưng dường như từ trước đến nay rất khó làm.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo Bộ Nội vụ, Luật đã tiếp thu những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm như việc phải ký đi ký lại hợp đồng sẽ gây cho đội ngũ viên chức, nhất là đối tượng giáo viên, bác sĩ có tâm lý không yên tâm làm việc hay việc phát sinh thủ tục hành chính dễ xảy ra tiêu cực. Cụ thể, trước đây, thời hạn ký hợp đồng được quy định trong Luật Viên chức là từ đủ 12 - 36 tháng thì Luật lần này đã nâng lên từ đủ 12 - 60 tháng.

Luật cũng quy định rõ và bổ sung kèm với quy định ký kết hợp đồng xác định thời hạn là nếu đơn vị sự nghiệp còn có nhu cầu và viên chức đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật, hoàn thành nhiệm vụ, đơn vị bắt buộc phải tiếp tục ký kết hợp đồng với chính viên chức đó chứ không được phép không tiếp tục ký kết để tuyển một người mới. Quy định này được kỳ vọng sẽ loại bỏ những người yếu kém, đồng thời sẽ góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ viên chức bằng việc trả lương theo vị trí việc làm, cạnh tranh bình đẳng. Cách làm này cũng tạo cơ hội cho những người trẻ có năng lực phát huy khả năng của mình; các đơn vị sự nghiệp công lập có điều kiện và cơ hội lựa chọn nhân lực phù hợp với yêu cầu của đơn vị, giảm tình trạng vào được cơ quan Nhà nước là an phận suốt đời.

Liên quan đến quy định tuyển dụng công chức, trước đây, các hình thức thi tuyển, xét tuyển hay tuyển dụng đặc biệt chỉ được quy định tại các Thông tư, Nghị định... nhưng chưa được luật hóa. Lần này Luật đã bổ sung thêm các trường hợp được xét tuyển. Cụ thể như, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng...

Luật cũng bổ sung và quy định rõ các đối tượng được tiếp nhận vào làm công chức từ cấp huyện trở lên đối với viên chức, cán bộ và công chức cấp xã, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang; người làm công tác cơ yếu, người giữ chức vụ, chức danh lãnh đạo trong DN Nhà nước và người đã từng là cán bộ, công chức.

Một trong những nội dung đáng chú ý khác là Luật đã bổ sung và giao Chính phủ quy định cụ thể hình thức xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức sau khi nghỉ việc hoặc nghỉ hưu mới phát hiện có hành vi vi phạm trong thời gian công tác (áp dụng đối với cả người có hành vi vi phạm trước 1/7/2020), loại bỏ quan niệm “hạ cánh an toàn”. (Kinhtedothi.vn 7/1, Nguyễn Vũ) Về đầu trang

Cán bộ, công chức được nhận quà biếu Tết dưới 500.000 đồng

Một trong những hành vi nghiêm cấm cán bộ, công chức, viên chức là nhận quà biếu trái quy định. Tuy nhiên, theo quy định hiện nay, có một số trường hợp cán bộ, công chức được phép nhận quà.

Vào mỗi dịp Tết, việc tặng quà, biếu quà cho cán bộ, công chức, viên chức (CB, CC, VC) lại trở thành vấn đề "nóng".

Nghị định 59/2019/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phòng, chống tham nhũng quy định về việc nhận quà tặng của CB, CC như sau: Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình (điều 25).

Theo quy định nêu trên và theo điều 11 Quy chế về việc tặng quà, nhận quà và nộp lại quà tặng của CB, CC, VC được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành kèm theo Quyết định 64/2007/QĐ-TTg, trong trường hợp sau CB, CC, VC được nhận quà biếu, quà tặng mà không bị coi là vi phạm: Quà tặng từ họ hàng, người thân trong gia đình mà những người đó không có mối quan hệ về lợi ích liên quan đến hoạt động công vụ; từ những cơ quan, đơn vị, cá nhân không liên quan đến hoạt động công vụ của CB, CC. 

Khi đó, CB, CC được tặng quà không phải báo cáo với cơ quan, đơn vị nhưng phải kê khai thu nhập trong trường hợp có yêu cầu.

Tại khoản 4, điều 12 của Quy chế cũng chỉ rõ, ngoài trường hợp nêu trên, trong trường hợp CB, CC bị ốm đau, tai nạn hoặc nhân dịp hiếu, hỷ, lễ, Tết truyền thống thì được nhận quà dưới 500.000 đồng.

Tuy nhiên, việc nhận quà với định mức này vẫn phải đáp ứng các điều kiện: Quà tặng do tổ chức, cá nhân không liên quan đến hoạt động công vụ tặng; Không thuộc trường hợp tặng quà không rõ mục đích; Không thuộc trường hợp tặng quà có mục đích liên quan đến các hành vi tham nhũng.

Trong trường hợp này, CB, CC được tự quyết định, không cần cáo cáo về việc được nhận quà nhưng phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.

Như vậy, căn cứ trên cho thấy, trong dịp Tết nguyên đán, CB, CC được nhận quà tặng dưới 500.000 đồng nhưng phải đáp ứng các điều kiện nêu trên. (Nld.com.vn 7/1, H.Lê) Về đầu trang 

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Tâm và tầm!

Năm 2020 mở đầu bằng phiên tòa xét xử 21 người (chủ yếu là các cựu cán bộ lãnh đạo) dính dáng đến Phan Văn Anh Vũ; thể hiện sự nghiêm minh, không khoan nhượng trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Diễn biến phiên tòa đặt dư luận xã hội trước nhiều câu hỏi lớn và trăn trở về tâm và tầm của cán bộ được giao phó trọng trách.

Lời khai của các bị cáo (trong đó có 2 cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng là Trần Văn Minh và Văn Hữu Chiến) trước tòa hướng cái nhìn của dư luận về mối quan hệ của cựu Bí thư Thành ủy, cựu Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh với Phan Văn Anh Vũ. Ngay sau khi trở thành TP loại I, ông Nguyễn Bá Thanh với cương vị là Chủ tịch lâm thời của TP, đã quyết liệt chỉ đạo thực hiện quy hoạch xây dựng, mở mang hạ tầng đô thị và chưa đầy 10 năm sau, đã làm thay đổi bộ mặt đô thị Đà Nẵng đồng thời cũng là cơ hội tốt cho các đối tượng đầu cơ trong đó có Phan Văn Anh Vũ nhảy vào trục lợi. Phan Văn Anh Vũ (sinh năm 1975) đã tiếp cận được với các cá nhân có vai trò quyết định ở Đà Nẵng thực hiện nhiều chiêu thức môi giới đất đai, bất động sản trở thành đại gia chi phối, thao túng, giành lấy cho mình những dự án lớn, những vị trí đất đắc địa, đất vàng, đất kim cương ở trung tâm Đà Nẵng..., sau đó sang tay thu lợi mỗi thương vụ từ 300 đến 500 tỷ đồng.

Phiên tòa xét xử Phan Văn Anh Vũ, Trần Văn Minh (Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng giai đoạn 2006 – 2011), Văn Hữu Chiến (Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2014) cùng 19 bị cáo là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của TP này về 2 tội danh “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” (quy định tại Điều 219, Khoản 3, Bộ luật Hình sự năm 2015); “Vi phạm các quy định đề quản lý đất đai” (quy định tại Điều 229, Khoản 3, Bộ luật Hình sự năm 2015) khai mạc vào ngày 2/1 và diễn ra trong 15 ngày.

Qua mỗi ngày xét xử, kịch tính về “tâm” và “tầm” của cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đà Nẵng (đứng trước tòa trong tư cách bị cáo) càng trở nên gay cấn với lời chối tội, đổ lỗi cho hoàn cảnh, cơ chế và cho cấp trên. Có gì đó thật chua xót khi một bị cáo bày tỏ nếu không nghe chỉ đạo bán rẻ tài sản Nhà nước cho Phan Văn Anh Vũ thì “không thể ngồi ở cái ghế đó được!”.

Trong khi đó, Phan Văn Anh Vũ cho rằng mình mua đất đai, công sản của cơ quan nhà nước, mua bán giấy trắng, mực đen, dấu đỏ, không phải mua ở chợ!. Đại gia bất động sản lừng lẫy một thời còn nêu câu hỏi “tại sao trước đây lãnh đạo khen tôi, giờ lại đưa tôi ra xét xử?!”. Đúng là có một thời, đại gia bất động sản Phan Văn Anh Vũ được nhiều lãnh đạo o bế, nâng đỡ.

Khi mới đặt chân vào thị trường bất động sản, Phan Văn Anh Vũ phải tìm mọi cách tiếp cận lãnh đạo nhưng khi danh nổi như cồn, nắm trong tay hàng ngàn tỷ đồng, sẵn sàng “chi đẹp” thì không ít lãnh đạo thiếu “tâm”, thiếu “tầm” lại phải tìm cách tiếp cận với Phan Văn Anh Vũ nhằm bán rẻ đất đai, công sản. Hậu quả của lãnh đạo thiếu “tâm” và thiếu “tầm” đang là gánh nặng rất lớn cho TP Đà Nẵng hiện tại và lâu dài. Đấy là nhiều diện tích lớn đất đai ở khu vực trung TP, ven sông, ven biển (trong đó có 230 ha diện tích lấp biển làm Khu đô thị quốc tế Đa Phước) bỏ hoang từ 10 đến 20 năm nay.

Cho đến khi diễn ra phiên tòa xét xử Phan Văn Anh Vũ, nhiều cán bộ của Đà Nẵng vẫn không thể hiểu được tại sao 31 công sản là trụ sở của các sở, ngành bỗng chốc biến thành tài sản của cá nhân (Phan Văn Anh Vũ) để rồi 2.000 cán bộ, công chức hàng ngày phải đến làm việc trong tòa nhà Trung tâm hành chính thiếu ánh nắng và khí trời. Bi kịch, hậu quả lợi ích nhóm bộc lộ rõ hơn vào năm 2016 khi xuất hiện thông tin TP Đà Nẵng sẽ bán tòa nhà Trung tâm hành chính cao 36 tầng, trị giá 2.000 tỷ đồng ở đường Trần Phú để di dời đến địa chỉ khác.

Tâm quyết định “tầm” vì thế nên không có gì là khó hiểu khi bộ 21 cán bộ của Đà Nẵng đang bị xét xử trong phiên tòa để lại nỗi đau lớn cho xã hội và người dân Đà Nẵng; chỉ nhìn thấy lợi ích từ con số vài tỷ hay vài chục tỷ đồng sau mỗi “thương vụ” làm ăn với Phan Văn Anh Vũ, không mảy may nghĩ gì đến quốc kế dân sinh, tương lai lâu dài của TP được coi là thủ phủ , cửa ngõ khu vực miền Trung – Tây Nguyên. (Daidoanket.vn 7/1, Dương Thanh Tùng) Về đầu trang

Từng bộ tốt, liên bộ phải tốt hơn!

Theo xếp hạng mới nhất của Ngân hàng Thế giới, chỉ số khởi sự kinh doanh của Việt Nam hiện đứng thứ 115/190 nền kinh tế. Điều đáng nói là, Việt Nam đã giảm 11 bậc ở chỉ số này so với năm 2018. Thực tế này đặt ra một câu hỏi: Liệu mục tiêu nâng xếp hạng chỉ số khởi sự kinh doanh lên 10 - 15 bậc với việc cắt giảm từ 8 thủ tục xuống còn 4 thủ tục ngay trong năm nay có phải là tham vọng?

Một cuộc họp về các giải pháp cải thiện chỉ số khởi sự kinh doanh theo đánh giá môi trường kinh doanh của WB đã được Văn phòng Chính phủ tổ chức sáng qua với sự tham gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - những cơ quan liên quan trực tiếp đến chỉ số này. Từ nội dung cuộc họp, có thể thấy rằng, mục tiêu kể trên có thể là tham vọng nhưng cũng hoàn toàn “trong tầm tay”.

Nói “tham vọng” là bởi, một tồn tại rất chậm được khắc phục trong thời gian qua, như nhận xét của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng “từng bộ thì cải cách tốt nhưng liên bộ thì chưa tốt, còn tình trạng cát cứ”. Còn nói “trong tầm tay” là bởi, ngay tại cuộc họp, các cơ quan liên quan đã chỉ ra được những thủ tục có thể cắt bỏ hoặc tích hợp như: quy định doanh nghiệp vừa phải thực hiện thủ tục trực tuyến vừa phải nộp hồ sơ bản giấy; thủ tục thông báo mẫu dấu, thay vào đó là hình thức thông báo sử dụng chữ ký điện tử của người đại diện theo pháp luật; thủ tục mua hóa đơn giấy...

Cùng với đó là các giải pháp liên thông, tích hợp dữ liệu như thực hiện thủ tục nộp phí môn bài trên Cổng dịch vụ công quốc gia. Các cơ sở dữ liệu quốc gia về doanh nghiệp, bảo hiểm xã hội, thông tin về lao động... phải được kết nối, tích hợp và chia sẻ với nhau. Dù còn có những ý kiến khác nhau về một số đề xuất cụ thể, song, đại diện các cơ quan liên quan đã thống nhất sẽ tích hợp thủ tục đăng ký bảo hiểm xã hội vào thủ tục đăng ký kinh doanh; người thành lập doanh nghiệp cũng sẽ cung cấp thông tin về lao động cho cơ quan đăng ký kinh doanh mà không phải cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý lao động nữa... Cùng với đó, sẽ đẩy mạnh hóa đơn điện tử, thanh toán điện tử, đăng nhập một lần, liên thông kết nối, quyết tâm giảm số thủ tục khởi sự kinh doanh từ 8 thủ tục xuống còn 4 thủ tục, tích hợp thủ tục, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Tinh thần cuộc họp, như nhận xét của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng là rất đồng thuận trong việc nhận ra các bất cập và hướng cải cách. Sau cuộc họp, Văn phòng Chính phủ sẽ trình Thủ tướng ban hành quyết định về các thủ tục khởi sự kinh doanh để giải quyết các bất cập; đồng thời, trình cơ quan có thẩm quyền khẩn trương sửa đổi các quy định liên quan như liên thông dữ liệu, chi phí chữ ký số... với quan điểm nhất quán là những gì phức tạp cho doanh nghiệp sẽ phải thay đổi. Và như vậy, mục tiêu cụ thể tăng từ 10 - 15 bậc trong bảng xếp hạng của WB về chỉ số khởi sự kinh doanh hoàn toàn có thể là việc trong tầm tay nếu từng bộ, từng cơ quan liên quan đến câu chuyện này thực sự quyết tâm, phối hợp chặt chẽ với nhau, vì mục tiêu chung là tháo gỡ các thủ tục phiền hà cho doanh nghiệp.

Khởi sự kinh doanh mới chỉ là bước đầu tiên cho sự ra đời và hoạt động của một doanh nghiệp. Nhìn rộng ra hoạt động của doanh nghiệp thì rõ ràng, vẫn còn rất nhiều phiền hà trong thủ tục hành chính, trong các quy định của pháp luật phải được cắt giảm mạnh mẽ và minh bạch hơn nữa. Những cuộc làm việc chuyên sâu đối với từng lĩnh vực như cuộc họp kể trên cho thấy sự nỗ lực và quyết tâm của Chính phủ trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh đáp ứng các chuẩn mực quốc tế. Dù vậy, từ thực tế cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh vừa qua cũng cho thấy, song song với những nỗ lực của Chính phủ, phải xác lập thật rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm các cá nhân, cơ quan hoạch định chính sách, cơ quan quản lý nhà nước còn “lừng khừng”, đặc biệt là có tư duy “cát cứ” trong việc thực hiện các chủ trương và quyết tâm cải cách, đổi mới, kể cả trong việc tham mưu, đề xuất ban hành những chính sách “trên trời”, không khả thi, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp. Trong đó, phải có giải pháp mạnh để khắc phục cho được tình trạng “từng bộ tốt nhưng liên bộ chưa tốt” để “từng bộ tốt, liên bộ phải tốt hơn nữa”! (Daibieunhandan.vn 7/1, Nguyễn Bình) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Thủ tướng mong muốn Nhật Bản hỗ trợ Việt Nam trong cải cách hành chính

Sáng 6/1, tại Trụ sở Chính phủ, tiếp Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Motegi Toshimitsu, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hoan nghênh Bộ trưởng thăm Việt Nam vào thời điểm đầu năm mới, có ý nghĩa quan trọng đưa quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ hơn.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Motegi Toshimitsu - Ảnh: VGP/Quang HiếuBộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã dành thời gian tiếp; đánh giá kinh tế Việt Nam đang phát triển tốt đẹp. Ông cam kết nỗ lực hết sức mình đóng góp vào việc phát triển quan hệ ngoại giao hai nước. Bộ trưởng cho biết, với các vai trò quan trọng của Việt Nam là Chủ tịch ASEAN, Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, ông đã chọn Việt Nam là nước đầu tiên đi thăm trong năm nay.

Nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng Việt Nam-Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị hai nước tăng cường, củng cố tin cậy chính trị thông qua các chuyến thăm cấp cao. Việt Nam mong Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam và tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN.

Thủ tướng đề nghị Chính phủ Nhật Bản hợp tác thúc đẩy tăng cường liên kết giữa hai nền kinh tế, khuyến khích doanh nghiệp Nhật Bản tiếp tục mở rộng đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, trong đó có các lĩnh vực như công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo; tạo điều kiện thuận lợi để nông, thủy sản Việt Nam tiếp cận thị trường Nhật Bản.

Đánh giá cao quan hệ giữa các địa phương hai nước thời gian qua, nhất là các Thống đốc Nhật Bản thường xuyên thăm Việt Nam, Thủ tướng mong muốn Nhật Bản tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong cải cách hành chính, Chính phủ điện tử, đào tạo cán bộ cấp chiến lược. Những kinh nghiệm cải cách của Nhật Bản rất quý báu với Việt Nam.

Thủ tướng đánh giá cao Nhật Bản và Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ tại các diễn đàn quốc tế, khu vực, đánh giá cao quan điểm của Nhật Bản và mong muốn Nhật Bản tiếp tục ủng hộ lập trường của ASEAN và Việt Nam về bảo đảm hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 trên Biển Đông.

Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản khẳng định, Nhật Bản cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ, ủng hộ Việt Nam thực hiện tốt vai trò Chủ tịch ASEAN và Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Trong hợp tác hai nước, Bộ trưởng đánh giá cao và cảm ơn Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, tháo gỡ các khó khăn để thúc đẩy các vấn đề hợp tác hai nước trong nhiều lĩnh vực như ODA, các dự án mà Nhật Bản đang triển khai tại Việt Nam. Nhật Bản đang thúc đẩy để tăng cường tiếp nhận nhiều thực tập sinh Việt Nam.

Nhật Bản tin tưởng với sự nỗ lực của Việt Nam, Hiệp định RCEP sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ thời gian tới, đồng thời tin tưởng Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ được triển khai mạnh mẽ, nhất là đối với các doanh nghiệp Nhật Bản đang làm ăn tại Việt Nam. Nhật Bản hoan nghênh và sẽ nỗ lực tìm giải pháp để thúc đẩy hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản; sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam phát triển Chính phủ điện tử.  

Bộ trưởng khẳng định, hai nước có đồng quan điểm về vấn đề Biển Đông cũng như các vấn đề khác trong khu vực, trong đó Nhật Bản luôn ủng hộ quan điểm giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình. Trong vấn đề này, cần coi trọng vai trò của ASEAN cũng như tuân thủ luật pháp quốc tế. Để thúc đẩy hợp tác Nhật Bản và các nước Mekong, Nhật Bản quyết định viện trợ, hợp tác phòng, chống rác thải nhựa trong khu vực. 

Đánh giá cao các vấn đề Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản nêu ra, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhất trí quan điểm cần đa dạng hơn nữa trong hợp tác hai nước, thúc đẩy ủng hộ nhau tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; nỗ lực hợp tác chặt chẽ giữa hai nước cũng như với các nước khác để bảo đảm hòa bình, ổn định tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Việt Nam hoan nghênh và sẵn sàng đón tiếp các đoàn doanh nghiệp quy mô lớn Nhật Bản tìm hiểu cơ hội đầu tư kinh doanh. (Baochinhphu.vn 6/1, Đức Tuân) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.035.374 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này