Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 29/4/2020
1. Năm 2019, Quảng Ninh quay lại bảng xếp hạng và đứng thứ 3 toàn quốc về chỉ số PAPI
2. Hà Nội phấn đấu 90% các cuộc họp của UBND TP diện rộng thực hiện theo hình thức trực tuyến
3. Chủ tịch Hà Nội “thúc” Sở TT&TT phải duy trì dịch vụ công trực tuyến
5. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh: Hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới
6. Triển khai 149 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong năm 2020
7. Tiết kiệm hơn 36,6 triệu giờ lao động và 1.000 tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
9. Thủ tục hành chính công ‘đi lùi’ dù nỗ lực cải cách?
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Năm 2019, Quảng Ninh quay lại bảng xếp hạng và đứng thứ 3 toàn quốc về chỉ số PAPI
Theo kết quả công bố Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2019 trong sáng nay (28/4), tỉnh Quảng Ninh được xếp trong nhóm cao nhất của cả nước và đứng thứ 3/63 tỉnh thành. Trước đó, năm 2018, Quảng Ninh cùng với Đồng Tháp không được xếp hạng vì không có dữ liệu.
Chỉ số PAPI dựa trên trải nghiệm và đánh giá của người dân khi tương tác với các cấp chính quyền địa phương. Chỉ số PAPI đo lường mức độ hiệu quả trong công tác quản trị và hành chính công ở cấp tỉnh hàng năm thông qua 8 nội dung: Tham gia của người dân ở cấp cơ sở; công khai, minh bạch; trách nhiệm giải trình với người dân; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; thủ tục hành chính (TTHC) công; cung ứng dịch vụ công; quản trị môi trường; quản trị điện tử.
Qua chấm điểm, 5/8 nội dung của PAPI năm 2019 của tỉnh Quảng Ninh được xếp ở nhóm có điểm số cao nhất cả nước gồm: Tham gia của người dân ở cơ sở; công khai minh bạch; kiểm soát tham nhũng trong khu vực công; cung ứng dịch vụ công và quản trị môi trường.
Có được sự tăng bậc này, thời gian qua, Quảng Ninh đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả điều hành bộ máy chính quyền, đáp ứng sự hài lòng của người dân như: đẩy mạnh công khai, minh bạch tại các đơn vị, địa phương đặc biệt các vấn đề liên quan đến công tác đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, kế hoạch sử dụng đất đai; tập trung giải quyết các kiến nghị, xử lý triệt để đơn thư kiến nghị của người dân; đẩy mạnh rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân…
Đơn cử như trong nội dung TTHC công, tỉnh Quảng Ninh đã đẩy mạnh công tác cải cách TTHC nhằm nâng cao tính minh bạch. Hiện Trung tâm hành chính công tỉnh và các địa phương thực hiện tiếp nhận và trả kết quả hiện đại tại 100% xã, phường, thị trấn đang vận hành hiệu quả. Năm 2019, Quảng Ninh cũng là địa phương đầu tiên trong nước triển khai con dấu thứ 2 gắn với giải quyết TTHC theo quy trình 5 bước tại chỗ (tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, đóng dấu và trả kết quả tại trung tâm phục vụ hành chính công các cấp).
TTHC của các sở, ngành, đơn vị được nghiên cứu cắt giảm tối đa về thời gian (giảm trung bình 40% thời gian giải quyết so với quy định), quy trình giải quyết để hỗ trợ thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp. Điển hình, lĩnh vực giáo dục - đào tạo giảm 40% trở lên, lĩnh vực đầu tư giảm 45%, lĩnh vực tài nguyên môi trường giảm từ 25-60%...
Trước đó, năm 2018, cùng với Đồng Tháp, Quảng Ninh cũng không được xếp hạng chỉ số PAPI vì không có dữ liệu. Còn năm 2017 là sự thăng hạng vượt bậc của Quảng Ninh – tăng đến 30 bậc so với băm 2016 và xếp vị trí thứ 32/63 tỉnh thành. (Baodautu.vn 29/4, Thu Lê) Về đầu trang
Hà Nội phấn đấu 90% các cuộc họp của UBND TP diện rộng thực hiện theo hình thức trực tuyến
UBND TP Hà Nội mới ban hành Kế hoạch công nghệ thông tin TP Hà Nội năm 2020, trong đó đặt mục tiêu phấn đấu 90% các cuộc họp của UBND TP diện rộng đến sở, ban, ngành, quận, huyện và cấp xã thực hiện trực tuyến; 80% các cuộc họp giữa các sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã diện rộng đến cấp xã thực hiện trực tuyến.
Cụ thể, trên cơ sở các kế hoạch của UBND TP về triển khai Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020 định hướng đến 2025 của thành phố Hà Nội; Kế hoạch triển khai giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống, dịch vụ công nghệ thông tin phục vụ chính quyền điện tử TP Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2025, UBND TP ban hành “Kế hoạch công nghệ thông tin thành phố Hà Nội năm 2020”.
Kế hoạch hướng tới các mục tiêu trọng tâm sau: Tối thiểu 60% các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cốt lõi của TP được kết nối, chia sẻ dữ liệu với các cơ sở dữ liệu quốc gia hiện có. Đảm bảo hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng TP ổn định, an toàn, bảo mật thông tin phục vụ hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính.
Đảm bảo 100% cơ quan hành chính nhà nước của TP kết nối vào mạng truyền số liệu chuyên dùng; 100% phần mềm quản lý văn bản và điều hành của các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã được gửi, nhận văn bản điện tử với Bộ, ngành, cơ quan trung ương thông qua Hệ thống gửi, nhận văn bản điện tử TP (nền tảng chia sẻ, tích hợp dữ liệu của TP);
100% văn bản trao đổi giữa các cơ quan nhà nước (trừ văn bản mật theo quy định của pháp luật) dưới dạng điện tử; tối thiểu 80% hồ sơ công việc của sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã và 30% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng (không bao gồm hồ sơ xử lý công việc có nội dung mật). Tối thiểu 30% báo cáo định kỳ (không bao gồm nội dung mật) được cập nhật qua Hệ thống thông tin báo cáo quốc gia.
Rút ngắn từ 30% - 50% thời gian họp, giảm tối đa việc sử dụng tài liệu giấy thông qua Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc, văn phòng điện tử. 90% các cuộc họp của UBND Thành phố diện rộng đến Sở, ban, ngành, quận, huyện và cấp xã thực hiện trực tuyến; 80% các cuộc họp giữa các Sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã diện rộng đến cấp xã thực hiện trực tuyến.
Tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến trên tổng số hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính của từng Sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã đạt từ 20% trở lên. Tích hợp 30% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 với cống Dịch vụ công quốc gia. 100% hồ sơ giải quyết TTHC được cập nhật và xây dựng thông qua Hệ thống thông tin một cửa điện tử dùng chung 3 cấp của TP.
Từng bước phấn đấu hoàn thiện, duy trì 100% dịch vụ công trực tuyến, mức độ 3, 4, trong đó tối thiểu 35% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. 30% hồ sơ TTHC của TP được xử lý trực tuyến mức độ 4. Cổng Dịch vụ công TP cung cấp giao diện cho các thiết bị di động.
100% dịch vụ công được hỗ trợ giải đáp thắc mắc cho người dân, doanh nghiệp. 100% cơ quan nhà nước công khai mức độ hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến. 100% Cổng Thông tin điện tử các Sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã công khai - thông tin đầy đủ theo quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13-6-2011 của Chính phủ.
20% dịch vụ công trực tuyến sử dụng chữ ký số xác thực trên nền tảng di động để thực hiện thủ tục hành chính. 50% dịch vụ công trực tuyến xử lý bằng hồ sơ điện tử; 20% thông tin của người dân được tự động nhập vào biểu mẫu trực tuyến; 50% dịch vụ công trực tuyến sử dụng dữ liệu từ cơ sở dữ liệu quốc gia về Đăng ký doanh nghiệp.
Tối thiểu 50% số lượng gói thầu chào hàng cạnh tranh, gói thầu qui mô nhỏ đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế thực hiện lựa chọn nhà thầu qua mạng. 100% cán bộ, công chức, viên chức, tùy theo yêu cầu sử dụng sẽ được bồi dưỡng, hướng dẫn sử dụng và cập nhật bổ sung kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin dưới nhiều hình thức. 100% đoàn viên thanh niên các cơ sở quận, huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn được đào tạo, bồi dưỡng trực tuyến về chính quyền điện tử.
Trên 80% hệ thống thông tin từ cấp độ 3 trở lên của TP được áp dụng phương án bảo đảm an toàn thông tin phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về bảo đảm an toàn hệ thống thông tin theo cấp độ. 100% dịch vụ công mức độ 4 có giải pháp xác thực điện tử tập trung. 100% cơ sở kinh doanh trên địa bàn TP được triển khai hóa đơn điện tử. Tập trung đầu tư phát triển từ 1 đến 2 khu công nghệ thông tin tập trung trọng điểm. (Phapluatxahoi.vn 28/4, T. An) Về đầu trang
Chủ tịch Hà Nội “thúc” Sở TT&TT phải duy trì dịch vụ công trực tuyến
Chủ tịch TP Hà Nội giao Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) Hà Nội khẩn trương xử lý duy trì hoạt động hệ thống dịch vụ công trực tuyến của thành phố.
Theo đại diện của UBND thành phố Hà Nội, lãnh đạo thành phố đã giao lãnh đạo Sở TT&TT khẩn trương xử lý việc thanh toán khoản nợ thuê server cho Tập đoàn Viettel cũng như sớm tổ chức đấu thầu dịch vụ phục vụ dịch vụ công trực tuyến của thành phố, tránh việc có thể bị gián đoạn dịch vụ từ sau 1/5.
Trước đó tại hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội ngày 22/4, Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Đức Chung yêu cầu lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông (TT&TT) giải trình về việc chậm trễ trong thanh toán khoản nợ thuê server cho Tập đoàn Viettel. Việc này có thể khiến dịch vụ công trực tuyến của thành phố phải dừng hoạt động.
Giám đốc Sở TT&TT Hà Nội Nguyễn Ngọc Kỳ cho biết đơn vị đang yêu cầu các đơn vị cần thuê server xác định rõ các nhu cầu phát sinh rồi mới tổng hợp báo cáo thành phố. Sở cũng đang lấy ý kiến của Sở Tài chính về phân bổ kinh phí cho các hoạt động công nghệ, thông tin của thành phố.
Cũng theo ông Nguyễn Đức Chung, Hà Nội đã 2 lần bị Viettel cắt thuê server do chậm thanh toán kinh phí. Thời gian này do ảnh hưởng của dịch Covid-19, Viettel đã hỗ trợ nên vẫn duy trì dịch vụ cho thành phố Hà Nội dự kiến đến ngày 1/5/2020. Sau ngày 1/5, nếu thành phố chưa thực hiện việc thanh toán theo các thoả thuận và thực tế cung cấp dịch vụ, phía Viettel sẽ tạm dừng cung cấp dịch vụ và yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo qui định của pháp luật.
Theo Chủ tịch Nguyễn Đức Chung, Hà Nội hiện có 1.818 dịch vụ công trực tuyến từ phường, xã cho đến quận, huyện, sở, ngành. Trong đó, 82% số thủ tục ở cấp độ 3 và 4. Hà Nội phấn đấu hết tháng 4 này sẽ hoàn thành xong mức độ 4 đối với 237 thủ tục còn lại.
Ông Nguyễn Đức Chung cũng khẳng định, việc thực hiện dịch vụ công trực tuyến đã mang lại hiệu quả rất tốt, đặc biệt trong thời gian phải thực hiện giãn cách xã hội.
Chính vì thế, thông tin dịch vụ công trực tuyến có thể phải tạm ngừng hoạt động do thành phố Hà Nội chậm trễ trong thanh toán khoản nợ thuê server, khiến người dân và các cơ quan, tổ chức đang sử dụng dịch vụ hoang mang, lo lắng./. (Vov.vn 28/4, PV) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2019: Người dân hài lòng hơn với công tác kiểm soát tham nhũng
Chỉ số kiểm soát về tham nhũng trong khu vực công đã được cải thiện: Hiện trạng vòi vĩnh nhận hối lộ ở bệnh viện tuyến huyện và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cải thiện đáng kể; cải cách về quản trị và hành chính công được cải thiện ở các lĩnh vực… Thông tin được đưa ra tại buổi công bố trực tuyến Báo cáo Chỉ số Hiệu quả Quản trị và Hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2019 ngày 28.4.
Không phải là một sự tình cờ khi Việt Nam đã ứng phó hiệu quả với đại dịch Covid-19 và đạt được những kết quả vượt xa nhiều nước khác trên thế giới. Kết quả này có được bởi trong nhiều năm qua, việc tăng cường công khai, minh bạch các quy trình hoạt động và chính sách, cũng như trách nhiệm giải trình và giảm tham nhũng vặt, nhất là trong ngành y tế đã được Chính phủ đặc biệt quan tâm. Trong giai đoạn cực kỳ khó khăn này, chỉ số PAPI năm nay nhắc nhở chúng ta rằng những nỗ lực to lớn của Việt Nam trong việc cải thiện quản trị công cho người dân đến tận cấp cơ sở đã bảo vệ được sinh mạng của người dân Việt Nam trong đại dịch này.
Chỉ số PAPI năm 2019 khảo sát 14.138 công dân Việt Nam được lựa chọn ngẫu nhiên trên toàn bộ 63 tỉnh, thành phố. Từ năm 2009, có tới 131.501 công dân đóng góp tiếng nói trong các ấn phẩm báo cáo PAPI hằng năm. Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam Cailtin Wiesen cho biết: Sau hơn 1 thập kỷ, Chỉ số PAPI tiếp tục đóng vai trò là công cụ hữu hiệu góp phần thúc đẩy quản trị tốt ở Việt Nam. Chỉ số PAPI lắng nghe tiếng nói của người dân, tìm hiểu kỳ vọng của người dân đối với cấp chính quyền, bằng cách đó tạo điều kiện để người dân tham gia quản trị đất nước…
Cải thiện lớn nhất được ghi nhận PAPI 2019 là lĩnh vực kiểm soát tham nhũng trong khu vực công (có tác động lớn nhất đến mức độ hài lòng của người dân) và nâng cao công khai, minh bạch trong ra quyết định. Kết quả này phù hợp với những nỗ lực cải cách thu hút sự quan tâm lớn của công luận với mũi nhọn là chiến dịch phòng chống tham nhũng liên quan tới một số lãnh đạo chủ chốt. Cụ thể, PAPI 2019 cho thấy, tác động rõ nét của chiến dịch phòng, chống tham nhũng lên cảm nhận của người dân về tham nhũng lớn và tham nhũng vặt. Lĩnh vực này cải thiện mạnh mẽ nhất trong năm 2019 ở cấp quốc gia và cấp xã phường - với tỷ lệ người dân cho biết tham nhũng giảm ở hai cấp này tăng 5% so với năm 2018.
Như vậy, người dân tham gia khảo sát PAPI năm 2019 có xu hướng hài lòng hơn với nỗ lực mạnh mẽ trong đấu tranh chống tham nhũng lớn và tham nhũng vặt ở tất cả các cấp chính quyền. Tham nhũng vặt đã giảm dựa trên cảm nhận hoặc trải nghiệm của người dân khi sử dụng một số dịch vụ công. Tuy nhiên, khoảng 20 - 40% người dân tiếp tục cho rằng, tham nhũng vẫn tồn tại trong nhiều hoạt động của khu vực công.
Khảo sát PAPI cũng cho biết, tỷ lệ người dân nhận xét phải chi thêm tiền để được quan tâm khám chữa bệnh, năm 2019 là 45% (năm 2018 là 46%); phải chi thêm tiền để làm xong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 31% (năm 2018 là 32%); phụ huynh phải chi thêm tiền để học sinh được quan tâm là 31% (năm 2018 là 31%); phải chi thêm tiền để làm xong giấy phép xây dựng là 30% (năm 2018 là 32%)…
Từ số liệu trên, PAPI nhận xét: “cảm nhận và trải nghiệm tích cực hơn của người dân về tham nhũng trong những năm gần đây không có nghĩa là tham nhũng đã được giải quyết triệt để ở tất cả lĩnh vực PAPI đo lường”. Do vậy, việc tăng cường nỗ lực kiểm soát tham nhũng trong những năm tới là vấn đề cần được lưu ý.
Trước khi Việt Nam bị ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, đói nghèo, tăng trưởng kinh tế và môi trường vốn là những vấn đề người dân quan ngại nhất. Cụ thể, trong 5 năm qua, đói nghèo luôn là mối quan ngại lớn nhất của người dân Việt Nam và năm 2019 cũng không là ngoại lệ đối với gần một phần tư người tham gia khảo sát PAPI. Bên cạnh đó, lao động và việc làm tiếp tục nằm trong nhóm bốn vấn đề người dân quan ngại nhất từ năm 2015, bất chấp nền kinh tế tăng trưởng nhanh và tạo ra nhiều việc làm mới… Những quan ngại này có khả năng gia tăng trong những tháng tới khi có nhiều người dân bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19.
Kết quả PAPI 2019 cũng cho thấy, công dân không có bảo hiểm xã hội nhìn nhận đói nghèo là vấn đề cấp bách, thiếu chắc chắn về nguồn lực dự phòng trong tương lai dường như khiến người dân lo lắng hơn. Gói hỗ trợ an sinh xã hội chưa có tiền lệ ước tính 2,6 tỷ USD được Ủy ban Thường Vụ Quốc hội nhất trí dự kiến hỗ trợ khoảng trên 10% dân số sẽ giúp giải quyết một số vấn đề này. Bình luận về vấn đề này, các chuyên gia cho rằng: Dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến rất nhiều lĩnh vực, buộc chúng ta phải thích nghi với cách làm mới và giao tiếp thông qua phương tiện khác nhau. Cách tiếp cận mới lạ này sẽ khuyến khích đối thoại và trao đổi quan điểm với tất cả lãnh đạo tỉnh, các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu.
Liên quan đến vấn đề giới, Việt Nam sẽ tổ chức cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp trong năm 2021, theo đó báo cáo PAPI 2019 đã tìm hiểu liệu định kiến giới của cử tri dẫn tới có ít lãnh đạo nữ được bầu chọn trong các cuộc bầu cử trước. Kết quả cho thấy, cử tri có định kiến mạnh mẽ đối với phụ nữ trong vai trò lãnh đạo, đặc biệt ở cấp thôn/tổ dân phố - nơi được coi là một trong những cấp thẩm quyền có tác động quan trọng nhất đến đời sống của người dân. Định kiến giới đối với phụ nữ cho vị trí trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố cao hơn gấp 3 lần so với vị trí ĐBQH.
Bình luận về vấn đề này, Đại sứ Australia tại Việt Nam Robyn Mudie cho rằng, “cuộc bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp năm 2021 sẽ mang đến cơ hội cho nhiều phụ nữ được bầu vào các vị trí lãnh đạo cơ quan dân cử và lãnh đạo điều hành. Nâng cao bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là một trọng tâm của Chính phủ Australia tại Việt Nam. Các phát hiện quan trọng về giới, lãnh đạo và cuộc bầu cử năm 2021 trong báo cáo 2019 nhấn mạnh còn nhiều việc cần làm để khắc phục định kiến giới đối với phụ nữ được bầu vào các vị trí lãnh đạo và bảo đảm rằng các ứng cử viên nữ đủ điều kiện được bầu chọn sẽ được đề cử nhằm có tiếng nói bình đẳng trong đời sống chính trị và kiến thiết phát triển của quốc gia”. (Daibieunhandan.vn 29/4, Bảo Hân) Về đầu trang
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh: Hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới
Tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp mới có xu hướng chững lại trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Vì thế, các ngành chức năng tiếp tục nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để hỗ trợ doanh nghiệp. Đây là nội dung cuộc trao đổi giữa phóng viên Báo Hànộimới với ông Bùi Anh Tuấn, Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư).
- Ông có thể cho biết tình hình đăng ký thành lập doanh nghiệp trong quý I-2020 từ ảnh hưởng của dịch Covid-19?
- Với những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 cùng với tác động cộng hưởng từ những yếu tố khác, số doanh nghiệp thành lập mới trong quý I-2020 có xu hướng chững lại. Cụ thể, cả nước có 29.711 doanh nghiệp thành lập mới, với tổng vốn hơn 351 nghìn tỷ đồng; tăng 4,4% về số doanh nghiệp và giảm 6,4% về vốn so với cùng kỳ năm 2019. Đây là mức tăng số doanh nghiệp thành lập mới thấp nhất của quý I giai đoạn năm 2015-2019 (mức tăng trung bình những năm trước là 10,9%). Điều này cho thấy những ảnh hưởng đang ngày một rõ rệt của dịch Covid-19 đến tình hình đăng ký doanh nghiệp trong nước.
Đáng lưu ý là trong 2 tháng đầu năm 2020, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 9,1%; số vốn đăng ký tăng 47,1% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, sự bùng phát của dịch Covid-19 trong tháng 3 đã gây ảnh hưởng rất lớn. Số doanh nghiệp thành lập mới là 12.272 đơn vị, với số vốn đăng ký 131 nghìn tỷ đồng, giảm 1,6% về số doanh nghiệp và chỉ tăng 2,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2019, dẫn đến sự sụt giảm kết quả chung của quý I.
- Ông có thể phân tích rõ hơn về tình hình tạm ngừng hoạt động của doanh nghiệp trong quý I-2020 cũng như những ngành nghề nào bị ảnh hưởng nhiều nhất?
- Tình hình doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và diễn biến liên quan quý I-2020 thể hiện rõ xu hướng nghe ngóng, chờ đợi, xem xét tình hình dịch bệnh của doanh nghiệp. Biểu hiện rõ nhất là sự gia tăng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh trong ngắn hạn và giảm về số doanh nghiệp giải thể, chờ giải thể. Một số ngành có số lượng doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm 2019 là nghệ thuật, vui chơi và giải trí (giảm 22,5%); tiếp đến là hoạt động dịch vụ (giảm 12,2%) và kinh doanh bất động sản (giảm 11,9%)... Đây là những ngành đang bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch Covid-19.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh trong ngắn hạn tăng 26% so với cùng kỳ năm 2019 với 18.596 doanh nghiệp. Đây là mức tăng cao nhất trong quý I giai đoạn 2015-2020. Đáng lưu ý là so với cùng kỳ năm 2019, số lượng doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn tăng mạnh ở 15/17 lĩnh vực, như: Bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy; công nghiệp chế biến, chế tạo; dịch vụ lưu trú và ăn uống; du lịch...
Về giải thể, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể trong quý I-2020 là 4.115 đơn vị, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm 2019. Có 11/17 ngành kinh doanh chính có số lượng doanh nghiệp giải thể tăng. Trong đó, giải thể tăng cao nhất là kinh doanh bất động sản, giáo dục và đào tạo với tỷ lệ tăng lần lượt là 69% và 43,9% so với cùng kỳ năm 2019.
- Chắc chắn tình hình thành lập doanh nghiệp trong tháng 4 còn chịu tác động lớn hơn từ dịch Covid-19?
- Đúng vậy, bởi đây cũng là thời gian thực hiện cách ly xã hội (từ ngày 1 đến 22-4). Trong tháng 4 có 7.885 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng vốn 93.854 tỷ đồng và đây là kết quả thấp nhất tính từ đầu năm đến nay. Ngoài ra, có 7.267 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Song, có một diễn biến tích cực là, trong tháng 4 đã có hơn 3.800 doanh nghiệp quay lại hoạt động, tăng 40,4% so với số doanh nghiệp trở lại hoạt động cùng kỳ năm 2019. Tôi cho rằng, nếu tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, cùng với việc nắm bắt cơ hội mới, bên cạnh sự hỗ trợ của Chính phủ, tình hình thành lập doanh nghiệp sẽ sớm cải thiện.
- Cục Quản lý đăng ký kinh doanh có kiến nghị giải pháp gì để việc thành lập doanh nghiệp diễn ra thuận lợi?
- Bước vào giai đoạn mới trong phòng, chống dịch Covid-19, dự báo các lĩnh vực như du lịch, dịch vụ lưu trú, vui chơi giải trí... sẽ khó thu hút được doanh nghiệp mới. Trong khi doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực cũng đứng trước nguy cơ ngừng hoạt động. Tuy nhiên, đây cũng là dịp để các doanh nghiệp tự làm mới mình, tìm ra những hướng đi mới phù hợp với nhu cầu thị trường để tồn tại và phát triển mạnh mẽ hơn, bởi rủi ro luôn song hành cùng cơ hội.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong đăng ký doanh nghiệp, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã thực hiện một số giải pháp nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, cải cách thủ tục hành chính. Cùng với đó, chúng tôi phổ biến để người dân, doanh nghiệp tăng cường sử dụng các dịch vụ công trực tuyến trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp nhằm cắt giảm thời gian, chi phí, đồng thời tránh sự lây lan của dịch bệnh; tăng cường các hình thức hỗ trợ, hướng dẫn qua điện thoại, email... Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp cũng đã được nâng cấp để các cán bộ, công chức, viên chức tăng cường xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trực tuyến, bảo đảm thực hiện giãn cách xã hội, đồng thời bảo đảm công tác đăng ký doanh nghiệp trên toàn quốc không bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.
Bên cạnh đó, chúng tôi tham gia xây dựng dự thảo nghị định sửa đổi các quy định có liên quan đến khởi sự kinh doanh để thực hiện liên thông, cắt giảm các thủ tục không cần thiết trong thành lập doanh nghiệp. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện dự thảo nghị định và sẽ sớm trình Chính phủ ban hành ngay trong quý II-2020.
- Trân trọng cảm ơn ông! (Hanoimoi.com.vn 29/4, Hồng Sơn) Về đầu trang
Triển khai 149 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 trong năm 2020
Nhằm tiếp tục đẩy mạnh việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 4, trong năm 2020, Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ nâng cấp và cung cấp 149 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.
Theo đó, trong năm 2020, 149 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 sẽ được cung cấp, nâng cấp, gồm: Bưu chính có 6 dịch vụ sẽ nâng cấp từ mức 3; Công nghệ thông tin có 6 dịch vụ từ mức 2; Khoa học và Công nghệ có 2 dịch vụ; Báo chí có 15 dịch vụ từ mức 2, 3; Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử có 41 dịch vụ từ mức 2, 3; Xuất bản, In và Phát hành có 24 dịch vụ từ mức 2, 3; An toàn thông tin có 8 dịch vụ từ mức 3; Tần số vô tuyến điện có 8 dịch vụ từ mức 2, 3 ; Viễn thông có 32 dịch vụ từ mức 2, 3; Chứng thực điện tử quốc gia có 5 dịch vụ từ mức 2; Internet có 2 dịch vụ từ mức 2.
Theo kế hoạch, Bộ Thông tin và Truyền thông đặt ra mục tiêu cung cấp đầy đủ 100% các dịch vụ công trực tuyến thuộc thẩm quyền giải quyết của Bộ ở mức độ 4. Ngoài ra, phấn đấu tỷ lệ thủ tục hành chính có phát sinh hồ sơ trực tuyến trên tổng số thủ tục hành chính trực tuyến mức 3, 4 và tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý trực tuyến hàng năm tăng gấp đôi trong giai đoạn 2020 - 2021.
Bộ Thông tin và Truyền thông cũng cho phép người dân, doanh nghiệp thanh toán phí, lệ phí (nếu có) trực tuyến, không dùng tiền mặt, bằng nhiều phương tiện khác nhau khi sử dụng dịch vụ công của Bộ; tận dụng hệ thống công nghệ thông tin sẵn có, chủ động bố trí, huy động nguồn lực tại chỗ để sẵn sàng tiếp nhận hồ sơ trực tuyến của tất cả các thủ tục hành chính; hỗ trợ, hướng dẫn, phổ cập kỹ năng để người dân, doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến nhằm nâng cao số lượng hồ sơ xử lý trực tuyến của mỗi dịch vụ công... (Laodongthudo.vn 29/4, P.B) Về đầu trang
Tiết kiệm hơn 36,6 triệu giờ lao động và 1.000 tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm
Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Bộ TN-MT đã cắt giảm, đơn giản hóa hơn 80% thủ tục hành chính; bãi bỏ, đơn giản hóa trên 62% điều kiện kinh doanh; cắt giảm trên 51% sản phẩm, hàng hóa kiểm tra chuyên ngành, giúp tiết kiệm được trên 36,6 triệu giờ công lao động và hơn 1.000 tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm.
Theo Báo cáo về kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cắt giảm điều kiện kinh doanh (ĐKKD) và cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành (KTCN) giai đoạn 2016 – 2020 của Bộ TN-MT vừa gửi đến Văn phòng Chính phủ, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Bộ TN-MT đã cắt giảm, đơn giản hóa hơn 80% TTHC; bãi bỏ, đơn giản hóa trên 62% ĐKKD; cắt giảm trên 51% sản phẩm, hàng hóa KTCN.
Kết quả cải cách TTHC, ĐKKD và KTCN đã giúp tiết kiệm được trên 36,6 triệu giờ công lao động và hơn 1.000 tỷ đồng chi phí tuân thủ mỗi năm.
Cụ thể, về thực hiện cải cách TTHC, tổng số TTHC của Bộ TN-MT đầu nhiệm kỳ là 266 TTHC với trường hợp đã thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai hoặc 288 TTHC với trường hợp chưa thành lập Văn phòng.
Đến nay, số TTHC được cắt giảm, đơn giản hóa là 241/266 (chiếm 80,1%) trong đó, số lượng TTHC bãi bỏ, thay thế hoặc tích hợp là 81/266 TTHC; 133 TTHC được đơn giản hóa với trường hợp các địa phương đã thành lập Văn phòng Đăng ký đất đai, hoặc 155 TTHC với trường hợp chưa thành lập Văn phòng này.
Tuy nhiên, số lượng TTHC quy định mới là 49 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai), 48 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng đăng ký đất đai).
Tổng số TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ còn hiệu lực thi hành là 234 TTHC (trường hợp các địa phương đã thành Văn phòng đăng ký đất đai) hoặc 255 TTHC (trường hợp các địa phương chưa thành Văn phòng đăng ký đất đai).
Số lượng văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để bãi bỏ, đơn giản hóa TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ là 19 văn bản, bao gồm: 2 luật, 9 nghị định và 8 thông tư, thông tư liên tịch.
Tổng số chi phí tiết kiệm được từ việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC: ước tính trung bình hằng năm cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp hơn 33,8 triệu giờ công lao động và hơn 1.010 tỷ đồng/năm.
Về kết quả thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa ĐKKD, tổng số ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ TN-MT đầu nhiệm kỳ là 163 điều kiện. Số lượng ĐKKD được đơn giản hóa, bãi bỏ là 102/163 điều kiện (chiếm 62,6%); số lượng ĐKKD thuộc phạm vi quản lý của Bộ còn hiệu lực thi hành là 98 ĐKKD. Số lượng văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành để cắt giảm điều kiện kinh doanh là 5 văn bản, bao gồm 1 luật, 4 nghị định .
Tổng số chi phí tiết kiệm được từ việc cắt giảm ĐKKD ước tính trung bình hằng năm cắt giảm chi phí cho doanh nghiệp khoảng 2,75 triệu giờ công lao động và hơn 37 tỷ đồng/năm. (Sggp.org.vn 29/4, Anh Phương) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Tạo đột phá trong cải cách hành chính và tinh gọn bộ máy - Bài 2: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
Cải cách hành chính (CCHC) gắn với tinh gọn bộ máy có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chính quyền vì dân. Quá trình ấy luôn vận động, phát triển. Để không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, vì nhân dân phục vụ, bên cạnh việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư trang thiết bị, nhiều địa phương thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức vừa có tài, vừa có đức…
Đến nay, 28 cán bộ, công chức của phường Lái Thiêu, TP Thuận An (tỉnh Bình Dương) đã được đào tạo có trình độ đại học và trên đại học, năng lực chuyên môn đáp ứng được yêu cầu công việc trong điều kiện tinh gọn bộ máy. Chủ tịch UBND phường Phạm Phú Nam cho biết, với khoảng 70 nghìn dân, bình quân mỗi ngày phường phải giải quyết hơn 300 hồ sơ các loại. Thực hiện tinh gọn bộ máy, mỗi cán bộ, công chức của phường hiện kiêm nhiệm từ hai đến bốn lĩnh vực khác nhau, nhưng mọi thủ tục hành chính (TTHC) đều được giải quyết nhanh gọn, không chậm trễ. Kết quả ấy có được là nhờ trình độ, kỹ năng của cán bộ, công chức phường được nâng cao kết hợp với việc sắp xếp, phân công nhiệm vụ phù hợp; đa số cán bộ, công chức đều toàn tâm, toàn ý với công việc, tận tụy phục vụ nhân dân.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) Nguyễn Thu Cúc cho rằng, trình độ và kỹ năng của cán bộ, công chức là yếu tố quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng CCHC gắn với tinh gọn bộ máy. TP Thủ Dầu Một rất quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này, nhất là những đồng chí làm việc tại bộ phận một cửa, trung tâm phục vụ hành chính công những kỹ năng giải quyết TTHC, giao tiếp ứng xử, chuyên môn, nghiệp vụ. UBND thành phố chú trọng việc đánh giá đa chiều, đúng thực chất mức độ hoàn thành nhiệm vụ của từng người để làm cơ sở cho việc sắp xếp, tinh giản biên chế.
Năm 2019, công tác CCHC của TP Hồ Chí Minh đã thật sự tạo được sự đột phá, chất lượng giải quyết TTHC được nâng cao rõ rệt. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông tiếp tục được duy trì, mở rộng, nâng cao chất lượng. Hiệu quả giải quyết TTHC cho người dân, tổ chức theo hướng công khai, minh bạch, thuận tiện. Việc triển khai đánh giá sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với quá trình phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước được triển khai nghiêm túc, có sự tham gia khảo sát độc lập của Ủy ban MTTQ thành phố, Viện Nghiên cứu phát triển thành phố. Thành phố đã ban hành quy chế phối hợp, quy định thời gian và quy trình cụ thể về giải quyết TTHC liên quan đến các quận, huyện, sở, ngành; thực hiện chi thu nhập tăng thêm gắn với việc hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu đơn vị, lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp (DN) làm thước đo hiệu quả công việc.
Thực hiện chủ trương chung của Trung ương, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện với lộ trình cụ thể để sắp xếp lại tổ chức bộ máy bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Cùng với đó, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, năm 2019, tỉnh đã tổ chức thi tuyển công chức theo hình thức cạnh tranh để chọn ra những người thật sự có tài, có đức phục vụ nhân dân; tổ chức thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo của một đơn vị.
Tại Đồng Nai, để nâng cao chất lượng giải quyết TTHC, các cơ quan, đơn vị, địa phương trong tỉnh đã quan tâm bố trí đội ngũ cán bộ, công chức có chuyên môn, khả năng giao tiếp, ứng xử tốt làm việc tại bộ phận một cửa. Từ năm 2017, tỉnh Đồng Nai đã phát triển, áp dụng mô hình “phi địa giới hành chính” trong các lĩnh vực đất đai, tư pháp, giao thông vận tải, y tế. Theo đó, người dân có nhiều lựa chọn địa điểm nộp hồ sơ tại nhà, tại bộ phận một cửa cấp huyện hoặc tại Trung tâm Hành chính công của tỉnh. Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai Trần Văn Vĩnh, đây là mô hình được triển khai đầu tiên trên cả nước, trở thành bước đột phá lớn trong giải quyết TTHC cho người dân. Đến nay, UBND tỉnh Đồng Nai đã đưa hơn 200 dịch vụ công từ mức độ 1 đến mức độ 4 lên mạng phục vụ người dân và DN trên Cổng dịch vụ công của tỉnh. Nhiều sở, ngành của tỉnh đã đạt được tỷ lệ hồ sơ giải quyết qua mạng mức độ 4 từ 70 đến 90%.
Lĩnh vực tài nguyên và môi trường với nhiều hồ sơ của người dân, DN cần được giải quyết luôn là áp lực lớn đối với cơ quan chức năng trong điều kiện tinh gọn bộ máy ở Long An. Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Võ Minh Thành cho biết, sau hai năm sắp xếp, tinh gọn bộ máy, ngành tài nguyên và môi trường tỉnh giảm bốn đơn vị trực thuộc sở; giảm 20 đơn vị trực thuộc đơn vị sự nghiệp sở; giảm 39 cấp trưởng, phó các phòng thuộc chi cục, đơn vị trực thuộc sở, trực thuộc đơn vị sự nghiệp và giảm 111 biên chế. Sau sắp xếp, tinh gọn bộ máy, hiệu quả xử lý công việc chung được cải thiện rõ rệt…
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác CCHC trong bối cảnh “chung sống” với dịch Covid-19 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Thành ủy TP Hồ Chí Minh xác định trong thời gian tới. Theo đó, tiếp tục đổi mới phương thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước; thực hiện thống nhất và nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tập trung tại bộ phận tiếp nhận, trả kết quả nhằm tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng, hiệu quả phục vụ nhân dân. Triển khai ứng dụng các phần mềm để đội ngũ công chức, viên chức, người lao động có thể làm việc trực tuyến tại nhà mà vẫn bảo đảm hiệu quả công việc theo yêu cầu…
Tỉnh Bình Thuận đang hướng tới mô hình “bốn tại chỗ”, trong đó chú trọng tổ chức đánh giá và khảo sát mức độ hài lòng của người dân, tổ chức đối với việc giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông trên địa bàn. Năm 2020, tỉnh Bình Thuận phấn đấu mức độ hài lòng chung đạt hơn 80% và mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực y tế, giáo dục. UBND tỉnh yêu cầu các sở, ngành, địa phương rà soát, tham mưu đơn giản hóa thành phần hồ sơ, quy trình thực hiện, giải quyết TTHC tại bộ phận một cửa theo hướng nâng cao tỷ lệ hồ sơ TTHC được tổ chức thực hiện toàn bộ quy trình “bốn tại chỗ”: Tiếp nhận - thẩm định - phê duyệt - trả kết quả.
Để đáp ứng tốt hơn yêu cầu từ thực tế, theo Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Trương Thanh Phong, trong năm nay, cùng với việc triển khai thực hiện đồng bộ các phần việc trong công tác CCHC, tỉnh sẽ tiếp tục tập trung triển khai kế hoạch khảo sát sự hài lòng của người dân trên địa bàn tỉnh và kế hoạch khảo sát sự hài lòng quốc gia năm 2020 theo yêu cầu của Bộ Nội vụ. Đẩy mạnh công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo tiếp nhận qua đường dây nóng; tăng cường kiểm tra CCHC, kiểm tra công vụ để kịp thời phát hiện những hạn chế trong thực hiện công tác CCHC của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Đồng thời, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Tiếp tục củng cố, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn. Thực hiện kế hoạch đẩy mạnh cải cách công vụ, công chức của tỉnh, thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này.
Hằng năm, tỉnh Bình Dương đều công bố chỉ số CCHC nhằm đánh giá, phân loại và xếp hạng kết quả thực hiện nhiệm vụ trong năm của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố và UBND các xã, phường, thị trấn. Từ kết quả này, các cơ quan, đơn vị, địa phương soi lại mình để khắc phục những hạn chế, có giải pháp khắc phục hiệu quả. Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thanh Liêm khẳng định: Công tác CCHC gắn với tinh gọn bộ máy đã góp phần nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành hoạt động của chính quyền các cấp trong tỉnh, đóng góp quan trọng thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong thời gian tới, lấy người dân làm trọng tâm, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị ở Bình Dương sẽ tăng cường hơn nữa công tác lãnh đạo, chỉ đạo; có quyết tâm và trách nhiệm cao hơn, thực hiện đồng bộ các giải pháp để công tác CCHC ngày càng đạt kết quả tốt hơn.
Nhìn chung, công tác CCHC được đánh giá là một trong những khâu đột phá tại nhiều địa phương khu vực phía nam trong quá trình phát triển. Đến nay, nhiều tỉnh đã chuẩn hóa bộ TTHC ở tất cả các sở, ngành; công khai các TTHC, dịch vụ công để người dân và DN biết. Thời gian tới, các tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cải cách chế độ công chức, công vụ. Xác định rõ trách nhiệm cụ thể từng sở, ngành và cán bộ, công chức trong phối hợp xử lý những nhiệm vụ chung, khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các đơn vị, sở, ngành, địa phương. Cùng với đó, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc xây dựng chính quyền điện tử, lấy người dân, DN làm trung tâm để thiết kế các dịch vụ công; khai thác triệt để lợi ích, tính năng của công nghệ để đơn giản hóa các quy trình, tăng hiệu quả, giảm thiểu chi phí quản lý nhưng vẫn bảo đảm tính chính xác… (nhandan.com.vn 29/4, Lâm Bình Tuấn - Châu Vương Phong) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Thủ tục hành chính công ‘đi lùi’ dù nỗ lực cải cách?
Ở góc độ người dân, thủ tục hành chính công hầu như không có sự cải thiện và còn nhiều hạn chế, theo báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) 2019.
Theo báo cáo PAPI 2019: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân, thủ tục hành chính công là lĩnh vực gần như không thay đổi nhiều năm qua và thậm chí giảm nhẹ trong năm 2019.
“Kết quả ở chỉ số này đáng ngạc nhiên bởi đơn giản hóa thủ tục hành chính trong chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước là điểm nhấn trong nhiều nỗ lực cải cách ở Việt Nam từ năm 1995 tới nay”, báo cáo chia sẻ.
Chỉ có tỉnh Tiền Giang có mức cải thiện đáng kể trong hạng mục này vào năm ngoái với mức tăng trưởng 5,67% điểm, hai tỉnh Khánh Hòa và Quảng Ninh có mức điểm sụt giảm đáng kể. Trong giai đoạn 2011 – 2019, Quảng Ngãi có mức cải thiện lớn nhất. TP.HCM và Hà Nội nằm trong nhóm trung bình và thậm chí, TP.HCM còn sụt giảm về chỉ số này trong khoảng 10 năm qua.
Các thành phần của chỉ số thủ tục hành chính công – chỉ số lĩnh vực nội dung đo lường mức độ hài lòng của người dân khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xin chứng thực, xác nhận của chính quyền địa phương, xin giấy phép xây dựng và làm thủ tục hành chính ở “bộ phận một cửa” cấp xã/phường – hầu như không có sự cải thiện.
Trong 15 năm qua, Chính phủ đã đưa vào thực hiện nhiều biện pháp đơn giản hóa thủ tục hành chính trong khu vực công cùng với thực hiện đại trà mô hình “bộ phận một cửa”, nơi công dân và doanh nghiệp có thể thực hiện các thủ tục hành chính tại một địa điểm.
Nhóm thứ nhất gồm các doanh nghiệp, đối tượng chính của các thủ tục hành chính như đăng ký kinh doanh, nộp thuế và thuê đất nhằm giảm chi phí kinh doanh. Nhóm thứ hai là người dân, với mục tiêu cải thiện khả năng đáp ứng yêu cầu của người dân và giảm thiểu sách nhiễu, vòi vĩnh.
Kết quả từ PAPI 2019 cho thấy mô hình bộ phận tiếp nhận và trả kết quả (bộ phận “một cửa”) và việc đơn giản hóa thủ tục hành chính khá hiệu quả dẫn tới mức độ hài lòng của doanh nghiệp lớn hơn, song vẫn còn nhiều hạn chế từ góc nhìn của người dân sử dụng dịch vụ. Theo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), phía doanh nghiệp đánh giá các thủ tục hành chính có sự cải thiện đáng kể thời gian qua.
Phân tích sâu kết quả PAPI cho thấy dịch vụ hành chính công phục vụ người dân chưa cải thiện nhiều một phần là do việc triển khai chính quyền điện tử nhằm đơn giản hóa quy trình, thủ tục cho người dân chưa đồng đều.
Khảo sát chỉ ra tỷ lệ người dân tìm hiểu thủ tục chứng thực, xác nhận qua cổng thông tin điện tử của chính quyền địa phương tăng chưa đầy 1% và tỷ lệ công dân tìm hiểu thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất qua cổng thông tin điện tử đã giảm đi 3% trong năm 2019 dù số người dùng Internet tại Việt Nam gia tăng.
Vì vậy, các cấp chính quyền cần đẩy mạnh thực hiện dịch vụ hành chính công trực tuyến phục vụ người dân nhằm đảm bảo người dân có thể tiếp cận cổng tông tin điện tử thuận tiện, nhanh chóng như khối doanh nghiệp.
Trong năm 2019, cải thiện lớn nhất được ghi nhận ở lĩnh vực kiểm soát tham nhũng trong khu vực công (có tác động lớn nhất đến mức độ hài lòng của người dân) và nâng cao công khai, minh bạch trong ra quyết định. Kết quả này phù hợp với những nỗ lực cải cách thu hút sự quan tâm lớn của công luận với mũi nhọn là chiến dịch phòng chống tham nhũng liên quan tới một số lãnh đạo chủ chốt.
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là trọng tâm nỗ lực của Đảng và Chính phủ với nhiều vụ điều tra đại án trong những năm qua. Báo cáo PAPI 2019 cho thấy tác động rõ nét của chiến dịch phòng chống tham nhũng lên cảm nhận của người dân về tham nhũng lớn và tham nhũng vặt.
Lĩnh vực này cải thiện mạnh mẽ nhất trong năm 2019 ở cấp quốc gia và cấp xã phường – với tỷ lệ người dân cho biết tham nhũng giảm ở hai cấp này tăng 5% so với năm 2018. Trong khi nhiệt huyết chống tham nhũng tác động đến cảm nhận, trải nghiệm thực tế của người dân về hiện trạng vòi vĩnh nhận hối lộ ở bệnh viện tuyến huyện và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cải thiện đáng kể.
Tuy điểm của chỉ số kiểm soát tham nhũng đã cải thiện, cần lưu ý vẫn còn tỷ lệ đáng kể (từ 20 đến 45%) người dân cảm nhận tham nhũng còn phổ biến trong một số dịch vụ công. Điều này cho thấy cần tăng cường nỗ lực kiểm soát tham nhũng trong những năm tới. (Theleader.vn 28/4, Hoài An) Về đầu trang./.