Bản tin cải cách hành chính ngày 13/7/2020

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Dừng thí điểm hợp nhất sẽ có 2 văn phòng tham mưu, giúp việc cấp tỉnh

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội: Nâng hiệu quả cải cách thể chế

3. Hà Nội: Người nhận lương hưu, trợ cấp qua thẻ ATM còn thấp

4. TPHCM: Thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế chậm nhất 6 ngày làm việc

5. Cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Bắc Ninh

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. Bộ Tài nguyên và Môi trường đơn giản hóa trên 80% thủ tục hành chính

7. Hơn 96% doanh nghiệp tham gia hoàn thuế bằng phương thức điện tử

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. 6 tháng đầu năm ngành Tài chính luân chuyển hơn 3.500 người

9. Cà Mau: Sẽ xử lý người đứng đầu đơn vị để xảy ra tham nhũng

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. “Thước đo” sự hài lòng của dân

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Dừng thí điểm hợp nhất sẽ có 2 văn phòng tham mưu, giúp việc cấp tỉnh

Sau khi Quốc hội chấm dứt thí điểm hợp nhất ba văn phòng sẽ tổ chức Văn phòng tham mưu, giúp việc chung cho Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh, văn phòng tham mưu, giúp việc, phục vụ riêng cho UBND cấp tỉnh.

Đề cập đến một số nội dung cơ bản của Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội, ông Nguyễn Trường Giang, Phó Tổng thư ký Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật cho biết, để đảm bảo tính chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, tránh xảy ra vi phạm trong quá trình bầu cử, luật đã bổ sung một khoản quy định về tiêu chuẩn quốc tịch đối với ĐBQH. Theo đó, luật quy định, ngoài những tiêu chuẩn chung, ĐBQH có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam.

Bên cạnh đó, luật cũng tăng tỉ lệ ĐBQH chuyên trách lên ít nhất 40%, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho công tác quy hoạch, chuẩn bị nguồn nhân sự giới thiệu tham gia ứng cử ĐBQH hoạt động chuyên trách từ Quốc hội khóa tới. Từ đó, tăng cường tính chuyên nghệp, góp phần quan trọng cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội.

Trên cơ sở đó, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội sẽ quyết định, phê chuẩn số lượng và danh sách đại biểu Quốc hội chuyên trách tại mỗi đoàn để đảm bảo tính linh hoạt và phù hợp với tình hình thực tế từng địa phương.

Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật cũng cho biết, một trong những điểm mới khác của luật lần này là việc đổi tên Uỷ ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng thành Uỷ ban Văn hóa Giáo dục; đồng thời đổi tên Uỷ ban Về các vấn đề xã hội thành Uỷ ban Xã hội từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa 15. Theo ông Giang, việc đổi tên của hai Uỷ ban này để đảm bảo ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, thể hiện được lĩnh vực hoạt động chủ yếu của cơ quan.

Việc thí điểm hợp nhất 3 văn phòng Đoàn ĐBQH, HĐND, UBND sau hơn một năm thực hiện cho thấy chưa thực sự đáp ứng mục tiêu đề ra. Việc này cũng chưa rõ được vai trò tham mưu trong trong hoạt động giám sát và quản lý, điều hành giữa cơ quan đại diện với cơ quan quản lý.

Vì vậy, theo đề nghị của Chính phủ, Quốc hội đã chấm dứt việc thực hiện thí điểm hợp nhất ba văn phòng và quyết định sẽ tổ chức Văn phòng tham mưu, giúp việc chung cho Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh, văn phòng tham mưu, giúp việc, phục vụ riêng cho UBND cấp tỉnh.

Trước khi Luật được thông qua, các địa phương cho rằng, việc hợp nhất văn phòng chung tham mưu, phục vụ nhiều đối tượng khác nhau khó đảm bảo tính khách quan, khó tránh khỏi tình trạng "vừa đá bóng, vừa thổi còi" khi tham mưu, giúp việc đồng thời cho hai hệ thống cơ quan lập pháp và hành pháp.

Việc hợp nhất 3 văn phòng còn mang tính cơ học, chỉ giảm đầu mối người đứng đầu, chưa giảm được cấp phó và công chức lãnh đạo, quản lý cấp phòng. Thời gian thí điểm hợp nhất ngắn nên văn phòng chưa thể sắp xếp, điều động công chức quản lý cho phù hợp để đảm bảo số lượng cấp phó tại các phòng, ban chuyên môn theo quy định.

Còn theo phản ánh của các ĐBQH, bộ máy giúp việc cho đoàn ĐBQH luôn trong tình trạng nhập rồi lại tách, tách rồi lại nhập, không ổn định, gây tâm tư và ảnh hưởng đến hiệu quả công việc của đội ngũ cán bộ, công chức, người lao động. (Tiền phong 11/7, Luân Dũng)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Nâng hiệu quả cải cách thể chế

Góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hà Nội lần thứ XVII, nhiều ý kiến đánh giá cao việc TP đã xác định khâu đột phá để tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, tạo chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương.

Qua Dự thảo Văn kiện, nhiều ý kiến nhận định, cải cách thể chế hành chính làm một trong những lĩnh vực Hà Nội đã tạo được bước tiến mới trong những năm qua. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của TP ngày càng hoàn thiện và ổn định, đáp ứng nhu cầu quản lý, thực tiễn và khắc phục được sự chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống thể chế đã có. Trong đó, việc cải cách thể chế nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi để phát triển kinh tế là một trong những ưu tiên hàng đầu của TP. Vì vậy, đã có nhiều văn bản liên quan đến phát triển kinh tế, hỗ trợ DN nhằm xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, thân thiện, thông thoáng được ban hành. Qua đó, đã tạo thuận lợi hỗ trợ DN khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tạo đột phá về thu hút đầu tư cả trong nước và nước ngoài.

Đặc biệt, trong Dự thảo lần này, TP đã xác định một trong ba khâu đột phá cho nhiệm kỳ tới là: “Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản trị xã hội, quản lý theo mô hình chính quyền đô thị; hoàn thành xây dựng chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số, tạo chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức TP. Trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Thủ đô tạo thể chế đặc thù, vượt trội để xây dựng và phát triển Thủ đô”.

Trên cơ sở phân tích thực tiễn, một số ý kiến lưu ý TP nên ưu tiên, đưa khâu đột phá này lên vị trí thứ nhất, vì đây là giải pháp chính để khắc phục những bất cập, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy phát triển trong thời gian tới. Đồng thời, bổ sung, cập nhật các nội dung liên quan đến vấn đề xã hội hóa, tinh giản bộ máy.

Khi góp ý về nội dung này, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc cho rằng, trong nhiệm kỳ tới, Ðảng bộ TP Hà Nội cần xác định công tác xây dựng chính quyền và cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm. Ðể chấm dứt cơ chế "xin - cho", khắc phục những kẽ hở của chính sách, rất cần có một đội ngũ quản trị tinh thông, chuyên nghiệp.

Nguyên Phó Chủ tịch HÐND TP Hà Nội Lê Văn Hoạt cũng đề xuất, Dự thảo phải nói rõ hơn nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh đổi mới thể chế ở cả thể chế chính trị, kinh tế chứ không chỉ đổi mới thể chế kinh tế. Bởi hiện nay bộ máy quản lý vẫn cồng kềnh, còn chồng chéo trong chức năng, nhiệm vụ, nặng về hình thức trong một số hoạt động, sự sa sút về đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Không nên né tránh việc đặt vấn đề đổi mới hay cải cách thể chế chính trị. Việc đổi mới này là để củng cố và nâng cao sức chiến đấu của Ðảng, hiệu quả hoạt động điều hành của Nhà nước, phát huy vai trò của hệ thống chính trị. Do đó, trong phần bài học kinh nghiệm cần phát huy dân chủ, tăng cường đối thoại và thực hiện công khai, minh bạch.

Các ý kiến cũng đồng tình với quan điểm, tiếp tục mục tiêu lấy người dân và DN làm trọng tâm phục vụ đã đặt ra trong Dự thảo. Thực tế cho thấy, trong thời gian qua, tất cả hệ thống chính trị của TP đã quyết tâm thực hiện việc tăng cường trật tự, kỷ cương hành chính. Đồng thời nâng cao vai trò nêu gương, đạo đức công vụ, tinh thần, thái độ, ý thức, văn hóa ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp…

Theo nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội Nguyễn Chí Mỳ, Hà Nội đã có bước tiến vượt bậc về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Từ vị trí thứ 33 (năm 2013), chỉ sau vài năm, với quyết tâm cao và sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Thành ủy, sự quyết liệt của chính quyền, TP đã vượt lên top 10 của cả nước vào năm 2018. Năm 2019, mặc dù các địa phương khác có cố gắng vượt bậc, Hà Nội vẫn giữ được thứ hạng này.

Trong khi đó, Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) với 8 chỉ số nội dung thành phần không chỉ phản ánh tập trung về cải cách hành chính mà còn thể hiện sự phát huy dân chủ ở cơ sở, vai trò của hệ thống chính trị, là sự phát triển bền vững xoay quanh 3 trụ cột: Kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên, Chỉ số này của Hà Nội có cải thiện nhưng rất chậm trong thời gian qua và chưa đạt yêu cầu đề ra. Do đó, trong Dự thảo, Đảng bộ TP nên quan tâm nhiều hơn tới giải pháp cải thiện chỉ số này, phấn đấu tạo bước tiến vượt bậc về PAPI như bước tiến với chỉ số PCI thời gian qua.

Việc quan tâm và có những giải pháp hiệu quả để cải cách thể chế, nâng cao chất lượng cải cách hành chính, cùng với đẩy mạnh hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin, sẽ tiếp tục tạo động lực phát triển cho Hà Nội, từng bước hình thành những yếu tố cơ bản của chính quyền điện tử và thành phố thông minh. (Kinh tế & Đô thị 13/7, Nguyễn Vũ)Về đầu trang

Hà Nội: Người nhận lương hưu, trợ cấp qua thẻ ATM còn thấp

BHXH TP Hà Nội cho biết đến nay, toàn TP mới có khoảng 25% số người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng qua tài khoản ATM. 

Theo thống kê, trong tháng 6-2020, Hà Nội có gần 600.000 người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH với tổng số tiền gần 3.000 tỉ đồng nhưng chỉ có gần 150.000 người nhận qua tài khoản ATM với trên 800 tỉ đồng.

Ông Đặng Đình Thuận, Phó Giám đốc BHXH TP Hà Nội, cho biết để đạt mục tiêu trong năm 2021 có 50% số người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH qua tài khoản ATM, BHXH TP Hà Nội sẽ đẩy mạnh tuyên truyền để người hưởng nhận thức được ý nghĩa của việc này. Đặc biệt, thực hiện tốt việc này cũng chính là góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ cho người dân, đơn vị, doanh nghiệp theo hướng công khai, minh bạch.

Theo ông Thuận, việc nhận lương hưu và trợ cấp BHXH qua tài khoản thẻ ATM mang lại nhiều thuận tiện và an toàn cho người hưởng, giúp người hưởng tránh rủi ro khi đi lại.

Trước đó, BHXH TP Hà Nội đã chỉ đạo BHXH các quận, huyện, thị xã tuyên truyền, phát triển số người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng qua tài khoản ATM. Đồng thời, phối hợp với các ngân hàng xây dựng quy trình mở tài khoản cá nhân, phát hành thẻ ATM cho người hưởng ngay khi tiếp nhận làm thủ tục giải quyết chế độ BHXH tại bộ phận "Một cửa" của cơ quan BHXH hoặc tại điểm chi trả của bưu điện.

Hai cơ quan này cũng đã rà soát dữ liệu người hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng bằng tiền mặt trên địa bàn từ đó tăng cường tuyên truyền, vận động, hướng dẫn, tạo điều kiện cho người hưởng mở tài khoản cá nhân để nhận lương hưu, trợ cấp BHXH. (Người lao động 12/7, D.Thu)Về đầu trang

TPHCM: Thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế chậm nhất 6 ngày làm việc

Theo Tổng cục Hải quan, thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế chậm nhất 6 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan quản lý thuế có thông báo về việc chấp nhận hồ sơ đối với hồ sơ thuận diện hoàn thuế trước.

Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh nêu, quá trình thực hiện Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 có hiệu lực từ ngày 1/7/2020, đơn vị đã phát sinh vướng mắc liên quan đến quy định tại Điều 73 về phân loại hồ sơ hoàn thuế, Điều 75 về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế và quy định về cơ quan hoàn thuế nộp thừa.

Theo Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh, trong thực tế, DN có thể hoàn thuế tại chi cục hải quan không cùng một cục hải quan. Như vậy để xác định hồ sơ hoàn thuế có thuộc Điểm a, Khoản 1, Điều 73 hay không được thực hiện?

Trước những vấn đề Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh nêu, theo Tổng cục Hải quan, liên quan đến hồ sơ hoàn thuế, tại Điểm a, Khoản 1, Điều 73 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 quy định thì hồ sơ của người nộp thuế đề nghị hoàn lần đầu của từng trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế là hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế.

Do đó, để có cơ sở thực hiện phân loại hồ sơ hoàn thuế đối với trường hợp hồ sơ đề nghị hoàn thuế lần đầu, cơ quan Hải quan nơi tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế yêu cầu DN xuất trình chứng từ chứng minh đã được cơ quan Hải quan hoàn thuế trước đây (không bao gồm chứng từ chứng minh việc hoàn thuế của cơ quan Thuế). Trường hợp DN không có chứng từ đã được cơ quan Hải quan hoàn thuế lần trước thì hồ sơ đề nghị hoàn thuế của cơ quan Hải quan đang tiếp nhận được xác định là hồ sơ đề nghị hoàn thuế lần đầu và thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế.

Theo quy định tại Khoản 3, Điều 72 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 quy định về tiếp nhận và phản hồi thông tin hồ sơ hoàn thuế thì “Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện phân loại hồ sơ và thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế trong trường hợp hồ sơ không đầy đủ”.

Cũng theo quy định tại Điều 75 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 về thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế: “Đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, chậm nhất là 6 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan quản lý thuế có thông váo về việc chấp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế cho người nộp thuế hoặc thông báo chuyển hồ sơ của người nộp thuế sang kiểm tra trước hoàn thuế nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2, Điều 73 của Luật này hoặc thông báo không hoàn thuế cho người nộp thuế nếu hồ sơ không đủ điều kiện hoàn thuế… Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế, chậm nhất là 4 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế có thông báo bằng văn bản về việc chấp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế cho người nộp thuế hoặc không hoàn thuế cho người nộp thuế nếu hồ sơ không đủ điều kiện hoàn thuế”.

Tổng cục Hải quan nhấn mạnh, như vậy, trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế thực hiện phân loại hồ sơ và thông báo cho người nộp thuế về việc chấp nhận hồ sơ và thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế hoặc thông báo cho người nộp thuế về việc không tiếp nhận hồ sơ hoặc bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ không đầy đủ.

Cũng theo Tổng cục Hải quan, thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế chậm nhất 6 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan quản lý thuế có thông báo về việc chấp nhận hồ sơ đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước. Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước hoàn thuế thời hạn giải quyết hồ sơ hoàn thuế chậm nhất là 40 ngày kể từ ngày cơ quan quản lý thuế có thông báo về việc chấp nhận hồ sơ. Thông báo về việc chấp nhận hồ sơ hoàn thuế thực hiện theo các mẫu đính kèm. (Hải quan 11/7, Đảo Lê)Về đầu trang

Cải thiện năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ở Bắc Ninh

Trong hai năm 2016 và 2017, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Bắc Ninh chỉ xếp thứ 17 cả nước. Tuy nhiên, đến năm 2019, địa phương này đã bứt phá vươn lên vị trí thứ 4 với điểm chỉ số PCI đạt 70,79. Đây là kết quả của sự nỗ lực, kiên trì nhiều năm trong việc cải thiện môi trường kinh doanh của Bắc Ninh.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2018, chỉ số PCI của Bắc Ninh đạt 64,50 điểm (tăng 0,14 điểm so năm 2017), xếp thứ 15 trong tổng số 63 tỉnh, thành phố (tăng hai bậc so năm 2017). Tuy có sự cải thiện về mặt thứ hạng nhưng trong 10 chỉ số thành phần có tới năm chỉ số giảm điểm là: Gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí không chính thức, dịch vụ hỗ trợ. Xác định tầm quan trọng phải cải thiện các chỉ số PCI, từ năm 2016, tỉnh Bắc Ninh đã thành lập tổ công tác hỗ trợ doanh nghiệp (DN) của tỉnh và mô hình “bác sĩ” DN.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Phương Bắc cho biết, thông qua các hoạt động của mô hình “bác sĩ” DN, cơ quan chức năng đã kịp thời nắm bắt, giải quyết dứt điểm nhiều vướng mắc cho DN. Đồng thời, ngăn ngừa các việc làm có thể gây phiền hà cho DN, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh của tỉnh thân thiện, an toàn, minh bạch hơn. Ngay từ quá trình xây dựng đề án, các “bác sĩ” DN đã tư vấn và hỗ trợ 13 DN giải quyết các khó khăn tồn đọng như: Công ty TNHH Dược phẩm Thiên Ân tại Khu công nghiệp Quế Võ II, Công ty cổ phần Giấy Bình Minh tại Cụm công nghiệp làng nghề Phú Lâm… Từ năm 2016 đến nay, các “bác sĩ” đã tiếp nhận và giải quyết hơn 300 lượt ý kiến phản ánh khó khăn, vướng mắc, tiếp tục là cầu nối giữa DN và chính quyền, khơi thông các “điểm nghẽn”, tháo gỡ khó khăn trong thời gian sớm nhất cho DN.

Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Hương Giang cho biết, bên cạnh hiệu quả từ mô hình “bác sĩ” DN, nhiều năm qua tỉnh Bắc Ninh còn kiên trì và quyết tâm cải thiện môi trường kinh doanh. Điển hình như những sáng kiến đổi mới ở trung tâm hành chính công, cải cách sâu rộng trong thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho DN, nhất là những cuộc đối thoại với các DN vừa và nhỏ. Năm 2019, tỉnh đã tiến hành tám cuộc đối thoại với DN, qua đó, nhiều vướng mắc được giải quyết.

Theo kết quả công bố mới đây của VCCI, chỉ số PCI của Bắc Ninh năm 2019 đã tăng 11 bậc, bứt phá vươn lên vị trí thứ 4, đạt 70,79 điểm. Trong đó, có  tám trong tổng số 10 chỉ số thành phần tăng điểm, như: Chỉ số tính minh bạch tăng từ vị trí số 53 năm 2018 lên vị trí thứ sáu; chỉ số chi phí không chính thức xếp thứ 51 năm 2018 lên vị trí thứ sáu; chỉ số thiết chế pháp lý và an ninh trật tự từ vị trí thứ 40 năm 2018 lên vị trí số 1 toàn quốc năm 2019… Bắc Ninh dần trở thành “miền đất hứa” của nhiều nhà đầu tư. Tính đến hết năm 2019, tỉnh Bắc Ninh có 16.686 DN với tổng số vốn điều lệ đăng ký hơn 243.982 tỷ đồng, trong đó có 1.386 DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với số vốn điều lệ đăng ký là gần 57.435 tỷ đồng.

Tổng Giám đốc Công ty TNHH Funing Presicion Component, Khu công nghiệp Quế Võ Zhuo Xian Hong cho biết: “Bên cạnh yếu tố thuận lợi về vị trí địa lý, trong quá trình sản xuất, kinh doanh, công ty luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của các cơ quan chức năng tỉnh, tạo điều kiện giải quyết vướng mắc, tháo gỡ khó khăn, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho các DN. Chúng tôi cảm thấy rất hài lòng về môi trường làm việc ở đây”.

Nhằm cải thiện hai chỉ số bị giảm điểm (gia nhập thị trường và đào tạo lao động), Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh Nguyễn Phương Bắc đề xuất cơ quan chức năng cần sớm có các giải pháp đồng bộ. Trong đó, rà soát các thủ tục hành chính đã công khai tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, thường xuyên cập nhật các thay đổi trong quy trình thực hiện thủ tục hành chính; triển khai cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 ở một số thủ tục hành chính phát sinh nhiều giao dịch. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực hằng năm và 5 năm theo quy định… (Nhân dân 12/7, Phan Thái Sơn)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bộ Tài nguyên và Môi trường đơn giản hóa trên 80% thủ tục hành chính

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, đến nay, Bộ đã thực hiện đơn giản hóa 80,1% thủ tục hành chính, bãi bỏ, thay thế 62,6% điều kiện đầu tư kinh doanh, rà soát cắt giảm 50% số mặt hàng thuộc danh mục kiểm tra chuyên ngành, hướng đến đẩy mạnh tiến trình xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số.   

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, từ đầu năm đến nay, trong bối cảnh tình hình kinh tế - xã hội của đất nước gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quyết liệt chỉ đạo triển khai thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP, 02/NQ-CP năm 2020 của Chính phủ, Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 04 tháng 3 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ; đồng thời tiếp tục chỉ đạo tăng cường kỷ luật kỷ cương hành chính, tập trung hoàn thiện thể chế, đổi mới cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn để kiến tạo, tạo động lực tăng trưởng bứt phá.

Một trong số những kết quả nổi bật mà Bộ đã đạt được đó là Bộ chủ động, sáng tạo trong quá trình điều hành vĩ mô đề xuất các giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19, chủ động rà soát đề xuất Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh chỉ tiêu sử dụng đất khu công nghiệp, đô thị để đón làn sóng đầu tư…

Đến nay đã thực hiện đơn giản hóa 80,1% thủ tục hành chính, bãi bỏ, thay thế 62,6% điều kiện đầu tư kinh doanh, rà soát cắt giảm 50% số mặt hàng thuộc danh mục kiểm tra chuyên ngành, qua đó, góp phần tiết kiệm được khoảng 1.047 tỷ đồng/năm. Tiến trình xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, nền kinh tế số gắn với cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư được đẩy mạnh. Có 33 dịch vụ công mức độ 4, đạt 30% số dịch vụ hoàn thành yêu cầu của Chính phủ, hoàn thành trước 6 tháng các chỉ tiêu Nghị quyết số 17/NQ-CP của Chính phủ đặt ra trong giai đoạn 2019-2020.

Bên cạnh đó chỉ số cải cách hành chính năm 2019 của Bộ đạt 54.16/62.5 điểm, kết quả đánh giá qua điều tra xã hội học là 30.62/37.5 điểm, tổng điểm là 84.78/100 điểm; xếp thứ 7 trên tổng số 17 các bộ, cơ quan ngang bộ, tăng 2 bậc so với năm 2018.

Công tác quản lý điều hành, ký số đã được triển khai 100% trên môi trường mạng ở Bộ và kết nối với toàn ngành và liên thông, gửi nhận văn bản trên Trục liên thông văn bản quốc gia. Các cuộc họp tiếp tục được thực hiện theo hình thức không giấy tờ. Hệ thống thông tin báo cáo đã được xây dựng và sẽ thực hiện kết nối dữ liệu từ các địa phương phục vụ công tác chỉ đạo điều hành.

Bộ đã hoàn thành đưa vào sử dụng Trung tâm điều hành tích hợp hạ tầng dữ liệu của Bộ, của ngành, kết nối dữ liệu quan trắc phục vụ quá trình phân tích, xây dựng các chủ trương chính sách, điều hành ra quyết định của Lãnh đạo Bộ; làm nền tảng để ngành Tài nguyên và Môi trường đóng góp cho phát triển nền kinh tế số, Chính phủ số, đáp ứng yêu cầu của người dân, doanh nghiệp.

Bộ đã đưa vào vận hành, quản lý khai thác, sử dụng đồng bộ cơ sở dữ liệu đất đai của 182/713 đơn vị hành chính cấp huyện thuộc 47 tỉnh/thành phố, đưa được 22.674.662 thửa đất và 11.695.270 hồ sơ quét vào cơ sở dữ liệu đất đai để quản lý, khai thác sử dụng, kết nối liên thông với cơ quan thuế, rút ngắn 1/3 - 1/2 thời gian thực hiện thủ tục, nhiều thủ tục về giao dịch đất đai như đăng ký thế chấp được thực hiện trong ngày.

Các chỉ số đánh giá của người dân, doanh nghiệp đều có những chuyển biến: chỉ số tiếp cận đất đai tiếp tục tăng 0,27 điểm; chỉ số hài lòng về dịch vụ cấp Giấy chứng nhận tăng 13% so với năm 2016; tỷ lệ phản ánh có tiêu cực trong thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận giảm 34% so với năm 2015.

Chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS) về tiếp cận dịch vụ hành chính công trong lĩnh vực Tài nguyên và Môi trường ở địa phương tăng từ 80,03 lên 85,62%; chỉ số hài lòng về công chức trực tiếp giải quyết thủ tục hành chính đạt 83,82%; chỉ số kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công đạt 86,35%; chỉ số về thủ tục hành chính đạt 84.75%. (Lao động Thủ đô 11/7, N. Hoa)Về đầu trang

Hơn 96% doanh nghiệp tham gia hoàn thuế bằng phương thức điện tử

Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, sau gần 3 năm triển khai mở rộng dịch vụ hoàn thuế điện tử cho người nộp thuế tại 63 tỉnh, đến nay tổng số doanh nghiệp tham gia hoàn thuế điện tử là 6.270 trên tổng số 6.500 doanh nghiệp hoàn thuế đạt tỷ lệ 96,46%.

Hiện đại hóa công nghệ thông tin là môt trong những nhiệm vụ quan trọng bên cạnh nhiệm vụ thu ngân sách. Để tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, nhiều năm nay Tổng cục Thuế đã đẩy nhanh tiến độ triển khai và mở rộng thực hiện khai thuế qua mạng và nộp thuế điện tử; hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế; triển khai hoàn thuế điện tử nhằm thực hiện được các mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra.

Báo cáo của Tổng cục Thuế cho thấy, về khai thuế điện tử, đến nay hệ thống khai thuế điện tử đã được triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% chi cục thuế trực thuộc. Tính đến ngày 30/06/2020 có 778.494 doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,8% doanh nghiệp đang hoạt động, số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận từ ngày 1/1/2020 đến ngày 30/6/2020 là 7.996.034 hồ sơ.

Về nộp thuế điện tử, hiện Tổng cục Thuế đã phối hợp với 55 ngân hàng thương mại và 63 cục thuế triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử. Cơ quan thuế các cấp vẫn đang tiếp tục tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia sử dụng dịch vụ. Tính đến 30/6/2020, số lượng doanh nghiệp đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế là 773.494 doanh nghiệp, đạt tỷ lệ 99,2% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động.

Số lượng doanh nghiệp hoàn thành đăng ký dịch vụ với ngân hàng là 772.548 doanh nghiệp, đạt 99% trên tổng số doanh nghiệp đang hoạt động. Từ ngày 1/1/2020 đến ngày 30/6/2020, các doanh nghiệp đã nộp tiền thuế thông qua 1.888.718 giao dịch nộp thuế điện tử với số tiền là 334.025 tỷ đồng và 18.270.931 USD.

Về hoàn thuế giá trị gia tăng điện tử, hệ thống mở rộng triển khai cung cấp dịch vụ cho người nộp thuế tại 63 tỉnh được triển khai từ ngày 4/8/2017. Tính từ ngày 1/1/2020 đến ngày 30/06/2020, tổng số doanh nghiệp tham gia hoàn thuế điện tử là 6.270 trên tổng số 6.500 doanh nghiệp hoàn thuế đạt tỷ lệ 96,46%. Số hồ sơ tiếp nhận là 12.570 hồ sơ trên tổng số 12.884 hồ sơ, đạt tỷ lệ 97,56%; tổng số hồ sơ hệ thống đã giải quyết hoàn là 9.293 hồ sơ với tổng số tiền đã giải quyết hoàn là hơn 54.089 tỷ đồng.

Về hóa đơn điện tử, Tổng cục Thuế cho biết, đã tổ chức hỗ trợ cho các doanh nghiệp tham gia thí điểm hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, TP. Đà Nẵng. Tính từ thời điểm triển khai tháng 9/2015 đến ngày 30/6/2020, có 255 doanh nghiệp đang tham gia thí điểm sử dụng hệ thống hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế.

Từ ngày 1/1/2020 đến 30/6/2020, có 697.403 hóa đơn đã được cấp mã, tổng doanh thu trên hóa đơn đã cấp mã là hơn 18.918 tỷ đồng, số thuế trên hóa đơn đã cấp mã là hơn 1.673 tỷ đồng. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 12/7, Nhật Minh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6 tháng đầu năm ngành Tài chính luân chuyển hơn 3.500 người

Trong 6 tháng đầu năm 2020, toàn ngành Tài chính đã thực hiện luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với 3.507 người.

Những tháng đầu năm, các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Tài chính về việc triển khai công tác luân chuyển, luân phiên, chuyển đổi vị trí công tác, điều động công chức, viên chức; Quyết định số 719/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về quy chế luân chuyển, luân phiên, điều động và định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức Bộ Tài chính.

Trong quý II/2020, đã thực hiện luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với 2.206 người. Trong đó, nhiều nhất là Tổng cục Thuế với 1.510 người, Tổng cục Hải quan với 407 người, Kho bạc Nhà nước 276 người, Tổng cục Dự trữ nhà nước là 13 người.

Tính chung trong 6 tháng đầu năm 2020, toàn ngành Tài chính đã thực hiện luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với 3.507 người.

Cụ thể: Tổng cục Thuế 2.348 người, Tổng cục Hải quan 698 người, Kho bạc Nhà nước 437 người, Tổng cục Dự trữ Nhà nước 24 người...

Việc chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức được các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc Bộ Tài chính thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 12/7, Minh Anh)Về đầu trang

Cà Mau: Sẽ xử lý người đứng đầu đơn vị để xảy ra tham nhũng

Nhằm góp phần ngăn chặn có hiệu quả các vụ án liên quan đến tham nhũng, Bí thư Tỉnh ủy - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Nguyễn Tiến Hải yêu cầu thủ trưởng, người đứng đầu các sở, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các tổ chức chính trị-xã hội, các cơ quan truyền thông, báo chí và cán bộ, đảng viên, viên chức trong toàn tỉnh tiếp tục phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong công tác phòng, chống tham nhũng.

Cơ quan chức năng tỉnh thường xuyên tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng đến tất cả cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức bằng nhiều hình thức, nội dung phong phú, sinh động; đẩy mạnh học tập, quán triệt đầy đủ nội dung Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về ‘‘Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.’’ 

Các cấp, ngành thực hiện tốt việc công khai, minh bạch trong hoạt động về tài chính - ngân sách, tổ chức cán bộ, quy hoạch, xây dựng, chính sách xã hội, đất đai, tài sản thu nhập, kết luận thanh tra..., kịp thời thông tin cho báo chí những vụ việc dư luận xã hội quan tâm; đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, ứng dụng khoa học, công nghệ trong quản lý và thanh toán không dùng tiền mặt để góp phần ngăn chặn các vụ việc tiêu cực và tham nhũng.

Cùng đó, tỉnh tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát để kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm đối với các trường hợp tham nhũng; trong đó chú trọng các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các vụ việc, vụ án tham nhũng gây bức xúc dư luận.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh sẽ xử lý trách nhiệm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách.

Theo đó, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau đã ban hành Kế hoạch số 20/KH-UBND ngày 13/2/2020 về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2020 gắn với thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc; tăng cường chỉ đạo các cấp, ngành phát huy những mặt tích cực, khắc phục những hạn chế đã qua trong quán triệt, tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng.

Từ đó, các cấp, ngành đã nghiêm túc quán triệt và triển khai thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng phù hợp điều kiện, tình hình thực tế của địa phương, đơn vị; xem đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội.

Theo ông Huỳnh Quốc Hoàng, Chánh Thanh tra tỉnh Cà Mau, 6 tháng đầu năm 2020, cơ quan chức năng tỉnh chưa phát hiện, xử lý trường hợp nào liên quan đến vụ án tham nhũng. Tuy nhiên, khả năng tham nhũng sẽ vẫn diễn ra tiềm ẩn trong việc sách nhiễu, gây phiền hà cho người dân trong một số lĩnh vực như: Quản lý đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng ngân sách...

Nhờ công tác kiểm tra nội bộ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được quan tâm thực hiện thường xuyên nên đã ngăn chặn những dấu hiệu tiêu cực và tham nhũng xảy ra. Trong quá trình tự kiểm tra, không có cơ quan, đơn vị nào tự phát hiện vi phạm trong thực hiện các quy định về phòng chống tham nhũng.

Sáu tháng đầu năm 2020, Thanh tra tỉnh Cà Mau tiến hành thanh tra, kiểm tra 36 cuộc (kỳ trước chuyển sang 17 cuộc). Trong số 16/36 cuộc đã kết thúc thanh tra, kiểm tra, 11 cuộc đã có kết luận. Thanh Tra tỉnh đã phát hiện số tiền sai phạm hơn 820 triệu đồng; qua đó kiến nghị cấp có thẩm quyền thu hồi và chấn chỉnh, xử lý nhiều sai phạm theo quy định của pháp luật. Tuy vậy, các vi phạm kể trên không thuộc hành vi tham nhũng. (TTXVN/VietnamPlus.vn 12/7, Kim Há)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

“Thước đo” sự hài lòng của dân

Khảo sát sự hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước là một trong những cách làm tiến bộ, một công cụ đối thoại mới nhằm đảm bảo cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ, với mục tiêu cao nhất là phục vụ nhân dân.

UBND thành phố Hà Nội mới đây đã ban hành kế hoạch khảo sát, đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của 50 cơ quan, đơn vị và một số lĩnh vực dịch vụ công, thực hiện từ tháng 8-2020. Kế hoạch này được giao cho Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế xã hội Hà Nội tiến hành khảo sát độc lập tại 20 sở, cơ quan tương đương và 30 quận, huyện.

Trong lần khảo sát này, Hà Nội sẽ áp dụng mẫu phiếu khảo sát theo quy định của Bộ Nội vụ, trong đó có các thang đo lường theo 5 mức: rất hài lòng, hài lòng, bình thường, không hài lòng và rất không hài lòng. Đối với một số dịch vụ công, TP Hà Nội quyết định lựa chọn các lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng. Theo đó, các nhân viên điều tra xã hội học sẽ trực tiếp khảo sát với người dân đã trực tiếp thực hiện các giao dịch ở lĩnh vực cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Với lĩnh vực cấp phép xây dựng, thành phố khảo sát trên diện rộng ở bộ phận một cửa của Sở Xây dựng cũng như bộ phận thực hiện thủ tục cấp phép xây dựng ở 30 quận, huyện. Với lĩnh vực giáo dục, y tế, việc khảo sát ý kiến người dân, đại diện các tổ chức đã thực hiện dịch vụ công y tế, giáo dục sẽ được thực hiện trực tiếp tại một số trường học, bệnh viện công lập của thành phố.

Trước đó, trong năm 2019, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam TP Hồ Chí Minh cũng đã tiến hành khảo sát người dân và doanh nghiệp về mức độ hài lòng của họ đối với dịch vụ hành chính công của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp tại 16 sở, ngành; UBND 24 quận, huyện và UBND 105 phường, xã, thị trấn. Nhiều cuộc khảo sát tương tự tại các cơ quan bộ, ngành được tiến hành trong những năm gần đây cho thấy, mức độ hài lòng của người dân, người sử dụng dịch vụ đang dần trở thành một “thước đo” quan trọng đánh giá hiệu quả công việc của các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức.

Ở nhiều nơi, người dân đã có những phản hồi tích cực, cho rằng các thủ tục hành chính giờ đây không còn tình trạng “hành là chính” nữa. Cán bộ tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính, đặc biệt là ở các bộ phận “một cửa”, thân thiện và có trách nhiệm hơn, khiến người dân hài lòng và thêm tin tưởng vào chính quyền. Thay vì bố trí các sổ, hòm thư góp ý mang nặng tính hình thức, nhiều cơ quan dịch vụ hành chính công đã trang bị các thiết bị điện tử đánh giá cụ thể mức độ hài lòng của người sử dụng dịch vụ. Người dân sau khi đến làm thủ tục, không còn phải “ấm ức” ra về như trước, mà được trực tiếp đánh giá các mức độ hài lòng của mình qua thiết bị điện tử đặt ngay trên bàn “một cửa”.

Việc lấy ý kiến khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của người dân được triển khai trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp độ chính là sự cụ thể hóa việc lấy “xây” để “chống” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ". Với việc đo lường sự hài lòng của người dân, các cấp ủy Đảng, chính quyền có thể kịp thời đề ra nhiều giải pháp thiết thực để tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan và cán bộ viên chức, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Tuy nhiên, để việc sử dụng “thước đo hài lòng” có ý nghĩa thực sự, chứ không chỉ là sản phẩm của “bệnh thành tích”, công tác tiến hành các khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của người dân phải được thực hiện khách quan, thực chất và minh bạch. Kết quả của các cuộc khảo sát đó cũng cần phải được xem xét nghiêm túc để đi đến những biện pháp khắc phục, cải thiện một cách thực chất, triệt để.

Sau cuộc khảo sát độc lập do Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM tiến hành năm 2019, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM Vũ Thanh Lưu đã đánh giá đây “là kênh thông tin phản ánh khách quan, trung thực các ý kiến góp ý, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp, qua đó giúp chính quyền các cấp thành phố khắc phục những tồn tại, hạn chế và phấn đấu ngày càng cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và doanh nghiệp”. Tuy nhiên, kết quả tỷ lệ hài lòng quá cao mà cuộc khảo sát đưa ra đã vấp phải những hoài nghi về tính thực chất. Ông Trần Lưu Quang, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM, cho rằng: “Nếu người dân hài lòng trên 95% như các báo cáo thì chắc cả ngày lãnh đạo không còn việc gì làm vì dân đã quá hài lòng”. Ông Trần Lưu Quang cũng băn khoăn rằng ở nhiều nơi, khi cán bộ đến lấy ý kiến thì đã có danh sách những người dân được chọn sẵn để trả lời phỏng vấn, như vậy liệu kết quả khảo sát có phản ánh đúng, toàn diện và thực chất.

Khảo sát sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước là một trong những cách làm tiến bộ trong quá trình thực hiện cải cách hành chính. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở khảo sát sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp thì chưa đủ, bởi kết quả đó là một công đoạn “đánh giá ngoài”. Cùng với “đánh giá ngoài”, bản thân mỗi cơ quan hành chính công cần có “đánh giá trong”, tức là từ mức độ hài lòng của người dân, họ phải tự tổ chức đánh giá lại thái độ, quy trình, cách thức xử lý công việc, xem những quy định, thủ tục mà mình ban hành, thực hiện liệu có hợp lý, có thực sự mang lại lợi ích cho dân. Việc “đánh giá trong” phải được làm thường xuyên, phát hiện những gì còn trở ngại cho người dân, doanh nghiệp thì phải kiên quyết loại bỏ.

Năm 2020 đánh dấu 10 năm nước ta thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính (CCHC) nhà nước giai đoạn 2011 – 2020. Những năm qua, Nhà nước đã chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, coi đó là một khâu quan trọng trong thực hiện chương trình cải cách nền hành chính nhà nước theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp. Trong quá trình đó, việc sử dụng “chỉ số hài lòng” được xem như một công cụ đối thoại mới với người dân nhằm đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ liên tục được cải thiện.

Chúng ta có thể tiến hành rất nhiều biện pháp nhằm cải cách nền hành chính công, nhưng sự hài lòng của người dân vẫn phải là mục tiêu cuối cùng, trong một xã hội “của dân, do dân và vì dân”, nơi những người cán bộ, viên chức phải thực sự là “công bộc của dân”. (TTXVN/Tin Tức 13/7, Thu Hằng)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.025.953 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này