Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 08/11/2022
1. TPHCM: Gỡ vướng để giảm hồ sơ trễ hẹn
2. Gia Lâm, Hà Nội: Toàn bộ các xã, thị trấn ký hợp tác dịch vụ bưu chính công ích
3. Câu chuyện chỉ số ở Bắc Kạn
4. Quảng Bình: Tạo sự thay đổi tích cực, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh
5. Bắc Giang: Khai thác hiệu quả dữ liệu dân cư, nâng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến
6. Giảm tối đa gánh nặng chi phí cho các sàn thương mại điện tử
8. Cần cơ chế thu hút nhân tài đến làm việc ở Buôn Ma Thuột
9. 36 công chức ngành Toà án bị kỷ luật, xử lý hình sự năm 2022
10. Điệp khúc tham nhũng “vặt”!
11. Dân chủ cơ sở trên môi trường số
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TPHCM: Gỡ vướng để giảm hồ sơ trễ hẹn
Mặc dù đã tập trung đẩy nhanh tiến độ giải quyết thủ tục, hồ sơ cho người dân, doanh nghiệp, thế nhưng tỷ lệ hồ sơ hành chính trễ hẹn tại TP Thủ Đức và một số quận, huyện vẫn đang rất nan giải.
Các hồ sơ trễ hẹn tập trung vào lĩnh vực đất đai. Đây cũng là một trong những lĩnh vực mà người dân bức xúc nhất trong nhiều năm qua. Kiểm tra đột xuất tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai TP Thủ Đức (TPHCM), đoàn công tác của Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM đã được mục sở thị những vướng mắc về giải quyết hồ sơ, cấp hồ sơ, giấy chứng nhận nhà, đất (sổ hồng) tại đây. Theo đại diện của chi nhánh này, từ đầu năm đến nay khối lượng hồ sơ gửi về lên đến gần 58.000 hồ sơ, do đó còn tồn đọng nhiều hồ sơ trễ hẹn.
Không chỉ riêng tại TP Thủ Đức, ở nhiều quận, huyện của TPHCM cũng còn nhiều hồ sơ trễ hẹn. Riêng tỷ lệ hồ sơ chậm giải quyết tại hệ thống Văn phòng đăng ký đất đai của Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM hiện còn 2,96%, với khoảng hơn 13.000 trường hợp. Từ đầu năm đến nay, UBND TP HCM đã vào cuộc và ban hành nhiều giải pháp để đẩy nhanh tiến độ giải quyết thủ tục đất đai cho người dân, đặc biệt tại TP Thủ Đức, tuy nhiên, tình hình vẫn chưa thể cải thiện do nhiều nguyên nhân.
Trực tiếp dẫn đầu đoàn kiểm tra, giám sát tại các Văn phòng đăng ký đất đai, ông Nguyễn Toàn Thắng - Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM đã yêu cầu Ban Giám đốc các chi nhánh cần làm rõ, phân loại, có cam kết giải quyết hồ sơ trễ hẹn tồn đọng của người dân, doanh nghiệp. Trong đó, phân loại thành nhiều nhóm hồ sơ kèm theo trách nhiệm của từng khâu, đơn vị. Đối với nhóm hồ sơ trễ hẹn thuộc trách nhiệm của Văn phòng Đăng ký Đất đai TPHCM sẽ được kiểm tra, tìm giải pháp khắc phục. Riêng những vấn đề không thuộc thẩm quyền thì Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM sẽ báo cáo Chủ tịch UBND TPHCM xin ý kiến chỉ đạo.
Không chỉ riêng các vướng mắc từ sở, ngành và quận, huyện, đại diện Sở Nội vụ TPHCM cho rằng, tình trạng hồ sơ trễ hẹn kéo dài vẫn tồn đọng trong công tác cải cách hành chính của thành phố và chưa có giải pháp để giải quyết dứt điểm. Nếu hồ sơ không thực hiện đúng quy trình, dẫn đến trễ hẹn thì từng cơ quan, đơn vị và địa phương phải có trách nhiệm ban hành “Thư xin lỗi” theo quy định.
Bên cạnh giải pháp đẩy nhanh các hồ sơ trễ hẹn tồn đọng và ban hành “Thư xin lỗi”, Sở Nội vụ TPHCM báo cáo kết quả kết quả kiểm tra, khảo sát tại 25 đơn vị trên địa bàn và phát hiện tình trạng hồ sơ trễ hẹn kéo dài vẫn diễn ra nhưng các quận, huyện và TP Thủ Đức chưa có giải pháp giải quyết dứt điểm cũng như không thực hiện “Thư xin lỗi” theo quy định. Cũng theo đại diện Sở Nội vụ, thời gian qua hồ sơ giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 có tăng lên nhưng thực tế tỷ lệ giải quyết hồ sơ trễ hẹn vẫn chưa đạt yêu cầu.
Là Sở có trách nhệm đẩy nhanh nhiều hồ sơ trễ hẹn nhất hiện nay, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM Nguyễn Toàn Thắng cho biết, đơn vị này đã đề xuất được cấp 519 tỷ đồng để lập dự án quản lý hồ sơ giấy nhà đất từ trước 1975 đến nay. Đề xuất này xuất phát từ gánh nặng duy trì hồ sơ giấy tờ quá nhiều khiến việc giải quyết thủ tục hành chính đất đai cho người dân bị chậm trễ thời gian qua, điển hình như TP Thủ Đức có số lượng hồ sơ trễ hẹn thường xuyên từ 30-40%.
Cũng theo lãnh đạo Sở này, hiện thành phố cũng đang nghiên cứu kế hoạch trung hạn 2021-2025 đầu tư trang bị máy móc, thiết bị cho ngành Tài nguyên môi trường. Việc số hóa và trang bị máy móc sẽ là ưu tiên hàng đầu để thành phố giải quyết tình trạng trễ hẹn hồ sơ hành chính hiện nay.
Ông Võ Văn Hoan - Phó Chủ tịch UBND TPHCM cho biết, chính quyền thành phố đã chỉ đạo quyết liệt, đồng thời có văn bản yêu cầu thủ trưởng các cơ quan, đơn vị nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, xử lý nghiêm các trường hợp chậm triển khai, chưa chủ động trong giải quyết hồ sơ, gây bức xúc cho người dân, doanh nghiệp. Thành phố cũng chỉ đạo tập trung giải quyết hồ sơ chậm trễ, xử lý thái độ thiếu chuẩn mực khi giao tiếp của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, các cơ quan, đơn vị phải phản hồi kịp thời phản ánh của người dân, doanh nghiệp trên cổng thông tin 1022 và gửi “Thư xin lỗi” bằng các hình thức phù hợp khi hồ sơ trễ hẹn. (Daidoanket.vn 08/11, Lê Anh)Về đầu trang
Gia Lâm, Hà Nội: Toàn bộ các xã, thị trấn ký hợp tác dịch vụ bưu chính công ích
Chiều ngày 7/11, UBND huyện Gia Lâm đã tổ chức hội nghị ký thỏa thuận hợp tác thực hiện dịch vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) qua dịch vụ bưu chính công ích với Bưu điện Trung tâm 5, Bưu điện TP Hà Nội.
Theo báo cáo của UBND huyện Gia Lâm, từ đầu năm đến nay, tình hình thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trên địa bàn đã đạt kết quả tích cực. Toàn huyện tiếp nhận tổng số 142.095 hồ sơ có chứng thực và 25.642 hồ sơ không có chứng thực. Số lượng thực hiện các TTHC qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đã tăng đáng kể; tỷ lệ toàn huyện đạt mức khá cao (61,82%). Tuy nhiên, dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 mới có 5 hồ sơ phát sinh.
Thực hiện văn bản chỉ đạo triển khai thực hiện dịch vụ tiếp nhận, trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn huyện Gia Lâm, từ tháng 9/2022 đến nay, UBND huyện Gia Lâm đã ký hợp đồng với Chi nhánh Tổng công ty Bưu điện Việt Nam - Bưu điện TP Hà Nội để thực hiện dịch vụ bưu chính công ích tại Bộ phận Một cửa huyện Gia Lâm.
Đến nay, ở cấp huyện đã phát sinh tổng số 34 hồ sơ của 2 dịch vụ, trong đó có 29 hồ sơ dịch vụ trả kết quả giải quyết TTHC và 5 hồ sơ dịch vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC. Cấp xã đã có 4 đơn vị (TT Trâu Quỳ, xã Bát Tràng, Kiêu Kỵ, Đông Dư) ký hợp đồng thoả thuận với bưu điện, tuy nhiên chưa có hồ sơ phát sinh qua dịch vụ bưu chính công ích.
Đặc biệt, từ ngày 13/9/2022 đến nay, thực hiện thí điểm mô hình Ngày thứ Ba “Không viết, không giấy hẹn” trong giải quyết TTHC trên địa bàn huyện Gia Lâm, Bộ phận Một cửa huyện và các xã, thị trấn đã giải quyết 13 TTHC sau tối đa 2 giờ kể từ khi tiếp nhận, với tổng số 5.022 hồ sơ… Mô hình bước đầu đạt kết quả cao, hiệu quả và sức lan toả tốt; mang lại sự phấn khởi cho cá nhân, tổ chức khi đến thực hiện TTHC trên địa bàn huyện.
Tuy nhiên qua đánh giá, việc thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 và mô hình Ngày thứ Ba “Không viết, không giấy hẹn” trên địa bàn vẫn còn những hạn chế nhất định. Số lượng hồ sơ thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 còn thấp. Việc thực hiện mô hình Ngày thứ Ba “Không viết, không giấy hẹn” có lúc, có nơi còn hạn chế; lực lượng tình nguyện viên chưa được duy trì hỗ trợ Bộ phận Một cửa thường xuyên dẫn đến có thời điểm quá tải đối với cán bộ tại Bộ phận Một cửa…
Tại hội nghị, ông Vũ Phúc Lộc – Giám đốc Bưu điện Trung tâm 5 cho biết, thời gian qua, việc thực hiện dịch vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích đã được huyện Gia Lâm triển khai bài bản và đã đi vào thực chất, tuy nhiên do mới phát sinh một số TTHC ở bộ phận một cửa nên số lượng chưa nhiều. Hiện tại, Bưu điện chỉ mới chuyển phát trả kết quả giải quyết hồ sơ về, còn việc đăng ký hồ sơ chiều đến của người dân để sử dụng dịch vụ hành chính công mức độ 4 thì kết quả chưa cao.
Theo ông Vũ Phúc Lộc, việc ký kết thực hiện dịch vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích là nhiệm vụ được TP giao. Do vậy, Bưu điện Trung tâm 5 xác định đây là nhiệm vụ chính trị chứ không phải là một dịch vụ kinh doanh mang lại lợi nhuận và việc đảm bảo cho nhiệm vụ chính trị này hoàn thành phải đặt lên hàng đầu. Bưu điện Trung tâm 5 cam kết sẽ ưu tiên về nguồn lực và thủ tục đơn giản, gọn nhẹ nhất để các bên hoàn thành nhiệm vụ được giao.
“Về phía Bưu điện, chúng tôi xin cam kết thực hiện dịch vụ chuyển phát TTHC công đến người dân hoặc đến các bộ phận một cửa trên địa bàn của huyện cũng như các xã, thị trấn với thời gian hành chính rút ngắn nhất (chủ yếu trong ngày, tối đa đến ngày hôm sau) là đến nơi. Về thời gian giao nhận và đầu mối giao nhận, khi ký thỏa thuận các bên sẽ nêu rõ” – ông Vũ Phúc Lộc cho biết.
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm Nguyễn Đức Hồng cho biết, thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm về việc tổ chức hội nghị ký kết ký thỏa thuận hợp tác thực hiện dịch vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích trên địa bàn huyện Gia Lâm với Bưu điện TP Hà Nội, huyện xác định đây là việc phải làm.
Do đó, Phó Chủ tịch UBND huyện Gia Lâm yêu cầu tất cả các xã, thị trấn trên địa bàn phải tham gia ký kết. Đây là yêu cầu cấp bách nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Đồng thời, góp phần nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính, văn hóa công vụ, quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức; thực hiện hiệu quả cơ chế “Một cửa, Một cửa liên thông” theo hướng văn minh, hiện đại; tiếp tục nâng cao sự hài lòng của người dân đối với các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn huyện.
Tại hội nghị, đại diện 22/22 xã, thị trấn trên địa bàn huyện Gia Lâm đã tham gia ký kết hợp tác với Bưu điện Trung tâm 5, Bưu điện TP Hà Nội. (Kinhtedothi.vn 07/11, Hoàng Quyết)Về đầu trang
Câu chuyện chỉ số ở Bắc Kạn
Nhiệm vụ số 2 trong bốn nhiệm vụ trọng tâm nhiệm kỳ 2020-2025 mà Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn đặt ra là đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số cải cách hành chính (PARINDEX).
Nhờ chỉ đạo đúng qua việc ban hành Nghị quyết chuyên đề về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Tỉnh ủy Bắc Kạn đã và đang tạo ra sự thay đổi toàn diện, bước đầu tạo lực đẩy cho phát triển kinh tế của tỉnh miền núi vốn được coi là “vùng trũng” trong thu hút đầu tư.
Trong vài năm trở lại đây, Sở Nội vụ Bắc Kạn thường xuyên tiến hành kiểm tra công vụ đột xuất ở các đơn vị nhằm kịp thời phát hiện, chấn chỉnh thiếu sót, sai phạm trong thực thi nhiệm vụ. Tại xã Cường Lợi (huyện Na Rì), vào thời điểm kiểm tra, đoàn kiểm tra đã phát hiện việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của đơn vị còn chưa nghiêm khi có một công chức vắng mặt không có lý do; một số công chức đi làm muộn và chưa tự giác đeo thẻ công chức, viên chức. Đơn vị chưa niêm yết thủ tục hành chính tại trụ sở cơ quan.
Có hộp thư điện tử, lịch tiếp công dân nhưng chưa công khai đường dây nóng. Tại thời điểm kiểm tra, đơn vị có hai thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực lao động-thương binh và xã hội quá hạn (đã xử lý đúng hạn tại cấp xã nhưng cấp huyện chưa xử lý dẫn đến quá hạn). Đoàn kiểm tra đã nhắc nhở tại chỗ, đồng thời đề nghị xã Cường Lợi khắc phục ngay.
Theo Sở Nội vụ Bắc Kạn, thực hiện Đề án Văn hóa công vụ, từ năm 2020 đến nay, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức có nhiều chuyển biến tích cực; kỷ luật, kỷ cương hành chính được siết chặt hơn, tạo được môi trường văn hóa công sở văn minh, thân thiện, liêm chính đáp ứng yêu cầu phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày một tốt hơn.
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, từ việc xếp cuối bảng cả nước về chỉ số cải cách hành chính (PARINDEX), đến năm 2021, chỉ số này của Bắc Kạn đã xếp thứ 54/63 tỉnh, thành phố và tăng năm bậc so với năm 2020. Thứ hạng tăng chưa lớn nhưng đối với tỉnh còn khó khăn, việc bố trí nguồn lực thực hiện rất hạn hẹp thì mỗi bước tiến trong bảng xếp hạng chỉ số cải cách hành chính của Bắc Kạn đều rất đáng ghi nhận. Trong bảng xếp hạng chỉ số chuyển đổi số năm 2021, tỉnh Bắc Kạn tăng tám bậc (từ vị trí thứ 59 năm 2020 lên vị trí thứ 51); các chỉ số nhân lực số, hoạt động kinh tế số đều nằm trong Tốp 20, hạ tầng số nằm trong Tốp 30.
Sau hơn một năm thực hiện Nghị quyết chuyên đề, chỉ số PCI của Bắc Kạn có bước tăng đáng kể. Phó Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Kạn, Nguyễn Anh Tuấn cho biết: “Từ năm 2021 tới nay, số lượng các nhà đầu tư đề xuất tài trợ quy hoạch, đề nghị khảo sát, nghiên cứu các dự án du lịch, nhất là tại Vườn quốc gia Ba Bể và vùng lân cận tăng đột biến.
Nhiều nhà đầu tư lớn đã đề xuất khảo sát nhiều dự án có tầm cỡ quốc gia về du lịch là điều trước nay chưa từng có ở Bắc Kạn”. Có được điều này là nhờ các giải pháp đồng bộ trong nâng cao chỉ số PCI của Bắc Kạn. Trong đó, phải nhắc tới việc gắn trách nhiệm của cấp ủy các cấp, coi đây là nhiệm vụ chính trị của cấp ủy và người đứng đầu, đồng thời, phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng đồng bộ, hiện đại, kết nối giao thông thuận lợi với các địa phương nhằm tăng cường thu hút đầu tư.
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Kạn, thứ hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là yếu tố phản ánh khách quan, chính xác, trung thực về kết quả đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp trong mối quan hệ tương tác với chính quyền địa phương. Đây cũng là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp tham khảo lựa chọn quyết định đầu tư. Xét trên bình diện này, Bắc Kạn tăng 11 bậc trên bảng xếp hạng, đứng thứ 48/63 tỉnh, thành phố, cho thấy tinh thần cầu thị của tỉnh trong việc mời gọi, thu hút đầu tư là rất lớn.
Trong năm 2021 và đầu năm 2022, Bắc Kạn đã cấp chủ trương đầu tư 27 dự án với tổng mức đầu tư hơn 2.490 tỷ đồng. Những con số này đang góp phần tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh. Bắc Kạn đang cải thiện PARINDEX và dần trở thành mảnh đất hấp dẫn với các nhà đầu tư. (Nhandan.vn 08/11, Tuấn Sơn)Về đầu trang
Quảng Bình: Tạo sự thay đổi tích cực, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh
Đó là phát biểu chỉ đạo của đồng chí Trần Thắng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh tại hội nghị phân tích, đánh giá, giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Quảng Bình năm 2022 được tổ chức vào chiều 7/11.
Năm 2021, chỉ số PCI của tỉnh Quảng Bình đạt 61,2 điểm, xếp thứ 57/63 tỉnh, thành phố, giảm 5 bậc so với năm 2020, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư kinh doanh và khả năng cạnh tranh của tỉnh.
Để cải thiện, nâng cao chỉ số PCI của tỉnh năm 2022 và những năm tiếp theo, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch, đề ra các giải pháp để thực hiện, với tinh thần tạo điều kiện thuận lợi nhất để phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe Phó Tổng thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn phân tích, đánh giá kết quả đạt được và hạn chế của các chỉ số thành phần PCI tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua.
Đồng thời, chia sẻ một số kinh nghiệm, cách làm hay của các tỉnh, thành phố trong cả nước; khuyến nghị các giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao chỉ số PCI của tỉnh Quảng Bình trong năm 2022 và những năm tiếp theo, như: Xây dựng chính quyền năng động, thân thiện; chuyển tư duy từ “cho phép”, “cấp phép” sang tư duy “phục vụ”; chuyển mạnh từ “tháo gỡ khó khăn” sang “tạo thuận lợi” cho doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả dịch vụ công trực tuyến và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để minh bạch hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính…
Tiếp đó, lãnh đạo các sở, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng đã có nhiều ý kiến phát biểu, nêu lên một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính liên quan đến việc triển khai dự án của các nhà đầu tư; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và tạo động lực thu hút đầu tư vào tỉnh.
Để cả hệ thống chính trị thực sự vào cuộc, phát huy điểm mạnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế nhằm tạo sự thay đổi tích cực, rõ nét hơn về môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh, từ đó, từng bước cải thiện chỉ số PCI tỉnh Quảng Bình năm 2022 và các năm tiếp theo, phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh Trần Thắng yêu cầu lãnh đạo, thủ trưởng các đơn vị, địa phương ghi nhận, tiếp thu và nghiên cứu kỹ nội dung tham luận, phân tích của VCCI, ý kiến của các đại biểu, đặc biệt là những kinh nghiệm, mô hình hay ở các địa phương có xếp hạng PCI cao. Từ đó, căn cứ chức năng, nhiệm vụ để tham mưu, đề xuất UBND tỉnh áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.
Tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, trước hết là nhận thức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức về mục đích, ý nghĩa của công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và lan tỏa tinh thần, quan điểm đó đến từng doanh nghiệp và người dân.
Mặt khác, tập trung cải thiện các chỉ số thành phần có điểm số thấp, thứ hạng thấp, đặc biệt là các chỉ số có điểm dưới trung vị, các chỉ số xếp hạng dưới mức trung bình. Xây dựng và triển khai hiệu quả kế hoạch cải thiện từng chỉ số thành phần cụ thể; trong đó cần đề ra lộ trình, mục tiêu, giải pháp cụ thể, triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục. (Baoquangbinh.vn 07/11, Anh Tuấn)Về đầu trang
Bắc Giang: Khai thác hiệu quả dữ liệu dân cư, nâng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến
Cùng với cả nước, Bắc Giang đang tập trung triển khai các phần việc theo Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06). Qua khai thác, sử dụng các tiện ích liên quan, công tác giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) cho người dân đã nhanh, hiệu quả hơn.
Thực hiện Đề án 06, UBND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị hoàn thiện tích hợp 25/25 dịch vụ công thiết yếu toàn phần lên Cổng Dịch vụ công quốc gia để phục vụ nhu cầu giao dịch của nhân dân. Bắc Giang là một trong 14 tỉnh được Bộ Công an triển khai chia sẻ kết nối giữa Hệ thống thông tin giải quyết TTHC tỉnh với cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG) về dân cư, phục vụ giải quyết TTHC cho công dân.
Hiện CSDLQG về dân cư đã kết nối, chia sẻ với 11 cơ sở dữ liệu chuyên ngành gồm: Bảo hiểm; thuế; sổ sức khỏe điện tử; hộ tịch điện tử toàn quốc; an sinh xã hội; điện lực; Bộ Thông tin và Truyền thông; Văn phòng hành chính; giáo dục; giấy phép lái xe, đăng kiểm phương tiện; đăng ký doanh nghiệp.
Qua đó phục vụ xác thực thông tin công dân khi thực hiện TTHC theo nguyên tắc không yêu cầu khai báo lại thông tin đã có trong CSDLQG về dân cư. Công dân có thể sử dụng số định danh cá nhân để khai thác thông tin của mình trong CSDLQG về dân cư thay thế cho sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.... để thực hiện các giao dịch hành chính.
Mới đây, Công an tỉnh, Sở Thông tin và Truyền thông đã phối hợp tuyên truyền, hướng dẫn cán bộ bộ phận một cửa trên địa bàn tỉnh sử dụng hiệu quả tính năng xác thực trên CSDLQG về dân cư trong giải quyết TTHC.
Kết quả từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh tiếp nhận hơn 46 nghìn hồ sơ thuộc nhóm 25 dịch vụ công thiết yếu, tỷ lệ nộp trực tuyến khoảng 60%. Trong đó đã xác thực gần 1,4 nghìn thông tin công dân từ CSDLQG về dân cư phục vụ giải quyết TTHC. Toàn tỉnh đã thiết lập được hơn 40 nghìn tài khoản định danh điện tử cho cán bộ, công chức, viên chức.
Qua thực tế công việc, anh Nguyễn Mạnh Hùng, công chức Tư pháp - Hộ tịch xã Việt Tiến (Việt Yên) cho biết, khi công dân nộp hồ sơ trực tuyến, các thông tin, giấy tờ được lưu trữ trên mạng. Sau này không cần phải khai báo lại những nội dung đã có, dễ dàng khai thác tái sử dụng.
Thông tin từ Sở Tư pháp, từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có hơn 12 nghìn hồ sơ trực tuyến liên thông đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế, tỷ lệ 57%.
Theo quy định của Chính phủ, mỗi cá nhân trên môi trường điện tử sẽ có duy nhất một danh tính điện tử được cấp dựa trên CSDLQG về dân cư, Cơ sở dữ liệu căn cước công dân (CCCD) và CSDLQG về xuất nhập cảnh để thực hiện dịch vụ công trực tuyến.
Để Đề án 06 thực sự phát huy hiệu quả, trước mắt tập trung đẩy nhanh tiến độ cấp CCCD, tài khoản định danh điện tử; cập nhật, làm sạch CSDLQG về dân cư, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”; nâng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến.
Những ngày này, trên hệ thống truyền thanh của phường Xương Giang (TP Bắc Giang) liên tục phát thông báo yêu cầu người dân đến trụ sở công an phường làm CCCD, tài khoản định danh điện tử.
Thiếu tá Vi Văn Thức, Phó Trưởng Công an phường cho biết: “Qua rà soát toàn phường còn 677 trường hợp đủ điều kiện cấp CCCD chưa làm thủ tục. Trong số này, chúng tôi phân loại nguyên nhân theo từng nhóm như: Vắng mặt có địa chỉ cụ thể; vắng mặt không có địa chỉ; đi nước ngoài; đang thụ án.... Từ đó phối hợp với các tổ dân phố tiếp cận tuyên truyền bà con phối hợp hoàn thiện thủ tục”.
Đồng thời, phường tập trung nâng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến và trở thành đơn vị dẫn đầu của TP Bắc Giang. Công an phường và cán bộ tư pháp tích cực phối hợp, rà soát, cập nhật kịp thời thông tin trên CSDLQG về dân cư.
Qua rà soát toàn tỉnh hiện còn 157 nghìn trường hợp phải thu nhận hồ sơ cấp CCCD. Lực lượng công an đang tập trung cao triển khai đợt cao điểm “90 ngày, đêm” triển khai Luật Cư trú, nâng cao chất lượng Đề án 06. Với 11/25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06 thuộc thẩm quyền của ngành, Công an tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị, đội nghiệp vụ đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân sử dụng.
Kết quả 10 tháng năm 2022 đã có gần 181 nghìn hồ sơ thuộc nhóm 11 dịch vụ công thiết yếu nộp trực tuyến, tỷ lệ 60,19%. Nhiều thủ tục có tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt 100% như: Xác nhận số chứng minh nhân dân khi đã được cấp thẻ CCCD; khai báo tạm vắng; làm con dấu mới và cấp giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu dấu; làm con dấu thu nhỏ, dấu nổi, dấu xi và cấp giấy chứng nhận đã đăng ký mẫu con dấu.
Mới đây, Chủ tịch UBND tỉnh có văn bản yêu cầu các ngành, địa phương tập trung triển khai các nhiệm vụ nhằm thực hiện hiệu quả Đề án 06. Theo đó, tăng cường tuyên truyền, thu nhận hồ sơ, cấp CCCD cho toàn bộ công dân đủ điều kiện trên địa bàn tỉnh. Công an tỉnh phát huy vai trò cơ quan thường trực chủ động thu thập, cập nhật, chỉnh sửa và rà soát, làm sạch dữ liệu dân cư trên địa bàn tỉnh, bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống”.
Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo rà soát số lượng giáo viên, học sinh đủ tuổi nhưng chưa được cấp CCCD để phối hợp với lực lượng công an thu nhận hồ sơ, bảo đảm 100% học sinh từ đủ 14 tuổi trở lên có thẻ CCCD. UBND các cấp cần xác định rõ đây là nhiệm vụ có tính lâu dài, cốt lõi trong việc thực hiện Đề án 06, xây dựng chính phủ số, chính quyền số để tập trung chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ liên quan. (Baobacgiang.com.vn 08/11, Vy Nguyên) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Giảm tối đa gánh nặng chi phí cho các sàn thương mại điện tử
Quy định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu sàn thương mại điện tử trong việc kê khai, nộp thuế là cần thiết, song cần giảm tối đa gánh nặng chi phí cho các sàn.
Theo Bộ Tài chính, hiện tại Việt Nam có khoảng 139 đơn vị chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử (trong đó có 41 sàn thương mại điện tử bán hàng, 98 sàn thương mại điện tử cung cấp dịch vụ) và 3 công ty đối tác của các nhà cung cấp nước ngoài được thay trả tiền cho các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với các nhà cung cấp nước ngoài; tương ứng với số lượng khách hàng trung bình truy cập các sàn khoảng 3,5 triệu lượt khách/ngày.
Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế số, việc kinh doanh trên nền tảng số trở nên phổ biến, tuy nhiên, Bộ Tài chính cho rằng, những đặc trưng của nền kinh tế số và tình hình phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử tại Việt Nam đã đặt ra nhiều thách thức không nhỏ đối với công tác quản lý thuế.
Theo đó, để quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh trên nền tảng số, mới đây, Bộ Tài chính đã có Tờ trình về việc sửa đổi một số điều của Nghị định số 126/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế. Một trong những nội dung được Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi là quy định rõ trách nhiệm của chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử trong việc kê khai, nộp thuế thay cho các cá nhân có hoạt động kinh doanh trên sàn thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến.
Thông tin về trách nhiệm của chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử trong việc kê khai, nộp thuế và cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý thuế, bà Nguyễn Thị Minh Huyền - Phó Cục trưởng Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, Bộ Công Thương cho hay, Nghị định 85/2021/NĐ-CP về thương mại điện tử đã quy định rất rõ ràng và có những điểm rất mới về quản lý thương mại điện tử.
Thứ nhất là tăng trách nhiệm chủ sàn thương mại điện tử; thứ hai là có những điều chỉnh đối với các sàn thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài. Các chủ sàn thương mại điện tử có tránh nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế qua sàn. Điểm mới nữa là các sàn thương mại điện tử sẽ thông báo thuế cho người bán trên sàn thương mại điện tử. Như vậy về công tác quản lý thuế thì các sàn cũng phải có trách nhiệm cung cấp thông tin. Tất cả những việc này sẽ tăng trách nhiệm của chủ sàn thương mại điện tử.
Chia sẻ thêm về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Lan Anh, Vụ trưởng Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh, cá nhân, Tổng cục Thuế cho biết, việc khai thuế thay, nộp thuế thay hiện nay đã được quy định khá đầy đủ tại khoản 5 Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP. Tuy nhiên, chưa có quy định về trách nhiệm của chủ sở hữu sàn thương mại điện tử như quy định tại Nghị định số 85/2021/NĐ-CP.
Do vậy, để đồng bộ với quy định của pháp luật về thương mại điện tử, trước mắt khi chưa sửa đổi được các căn cứ pháp lý liên quan, một trong những giải pháp rất quan trọng đó là tăng cường trách nhiệm của người nộp thuế và tăng cường trách nhiệm của người nộp thuế có liên quan. Ví dụ như các sàn giao dịch thương mại điện tử phối hợp với cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế, giảm thiểu thủ tục hành chính.
Theo Bộ Tài chính, đề xuất quy định sàn thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân kinh doanh thông qua sàn được cho là phương án tối ưu trong việc quản lý thuế hiệu quả, góp phần cải cách thủ tục hành chính, giảm đầu mối kê khai thuế. Tuy nhiên, Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) cho rằng, các cơ quan quản lý cần giảm tối đa gánh nặng chi phí và chi phí tuân thủ, tạo điều kiện cho các sàn thương mại điện tử phát triển.
Để tháo gỡ những khó khăn hiện nay của các sàn thương mại điện tử đang phải đối mặt, VECOM vừa có công văn gửi Tổng cục Thuế, trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ các sàn thương mại điện tử thành viên, khi được khảo sát về việc cung cấp thông tin người bán.
Theo đó, VECOM ủng hộ phương án cung cấp thông tin theo phương thức điện tử để thuận tiện cho công tác quản lý thuế của cơ quan thuế và thuận tiện cho hoạt động kinh doanh của các sàn. Tuy nhiên, việc báo cáo, cung cấp thông tin cần ở mức hợp lý, bám sát quy định pháp luật hiện hành, không vượt quá quyền hạn, trách nhiệm của doanh nghiệp sàn thương mại điện tử, đảm bảo đúng nguyên tắc “tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của sàn giao dịch thương mại điện tử”.
VECOM cho rằng, cần làm rõ cơ sở của việc cung cấp thông tin của tổ chức cung cấp hàng hóa dịch vụ thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử. Do đó, các sàn thương mại điện tử đề nghị Tổng cục Thuế có quy định cụ thể về trách nhiệm của các bên liên quan trong nghĩa vụ cung cấp thông tin. Theo đó, người bán cần phải chịu trách nhiệm về việc cung cấp thông tin đúng và chính xác và sàn không phải chịu trách nhiệm trong trường hợp thông tin không chính xác hay do hệ thống chặn nộp tờ khai... dẫn đến sự chậm trễ trong việc cung cấp thông tin.
GS.TS Hoàng Văn Cường - Ủy viên Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế Quốc dân gợi mở: “Cần có quy định rõ về mặt pháp lý quy định vai trò, trách nhiệm của người bán, người trung gian của sàn thương mại điện tử đó như thế nào. Và làm thế nào để thu đúng đối tượng, tránh tình trạng trốn thuế, và mất bình đẳng giữa những người kinh doanh. Tất cả những cái đó đòi hỏi phải có khuôn khổ pháp luật thực sự đồng bộ để cho tất cả các bên khi tham gia và chịu sự điều tiết chung thì có thể quản lý một cách hiệu quả”. (Congthuong.vn 07/11, Đỗ Nga)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
TP HCM thi tuyển cán bộ
UBND TP HCM vừa ban hành Đề án thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thành phố. Việc thi tuyển tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từng bước đổi mới quy trình bổ nhiệm, góp phần lựa chọn cán bộ có đức có tài.
Nhìn nhận việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý còn bộc lộ một số hạn chế như thiếu tính cạnh tranh, chưa tạo được động lực và đột phá trong công tác cán bộ, UBND thành phố cho biết việc thi tuyển sẽ tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, từng bước đổi mới quy trình bổ nhiệm, góp phần lựa chọn những người có đức có tài; đồng thời hạn chế, loại trừ dần tình trạng cục bộ, khép kín trong công tác quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ. Đây là hướng đi tất yếu.
Theo lộ trình của đề án, năm nay thành phố sẽ thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp phòng và tương đương. Từ năm 2023 trở đi sẽ tiếp tục việc trên, đồng thời tổ chức thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp sở, cấp huyện và tương đương.
Người được đăng ký dự tuyển phải là cán bộ, công chức, viên chức thuộc 3 nhóm, gồm nhân sự tại chỗ, từ nơi khác hoặc được đề cử. Hai nhóm đầu phải trong quy hoạch của chức danh tuyển chọn hoặc tương đương, người được đề cử có thể không nằm trong quy hoạch nhưng được cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm đề cử.
Hội đồng thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp sở, huyện không quá 17 người, do Chủ tịch UBND TP làm chủ tịch, 2 phó chủ tịch hội đồng gồm Trưởng Ban Tổ chức Thành ủy và phó chủ tịch UBND TP phụ trách đơn vị có chức danh thi tuyển.
Với thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp phòng thì hội đồng thi tuyển do lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh thi tuyển quyết định, tối đa 11 người, có thể mời thêm chuyên gia, nhà khoa học. Thành viên hội đồng không có quan hệ gia đình với ứng viên; không là người đang bị xem xét xử lý hoặc thi hành kỷ luật.
TS Nguyễn Thị Thiện Trí, Khoa Luật Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật TP HCM, cho biết bà đánh giá cao đề án này của UBND TP HCM.
Theo bà Trí, đề án cho thấy quyết tâm đổi mới quy trình bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo, quản lý của chính quyền thành phố. Việc thi tuyển tốt hơn so với đề bạt, bổ nhiệm bởi việc đề bạt, bổ nhiệm khá khép kín, không thu hút nhiều người. Thực tế có nhiều người bên ngoài muốn vào nhà nước làm nhưng cơ chế không dễ. Đề án tạo ra một làn gió mới, tạo ra sự cạnh tranh, làm cho đội ngũ cán bộ sau khi thi tuyển ngày càng chất lượng hơn. Chỉ người muốn làm thì mới đăng ký thi tuyển nên họ là những người nhiệt huyết, cống hiến. Qua đó cũng giúp chính quyền sàng lọc từ đầu những người không có năng lực hoặc đi lên từ quen biết. (Nld.com.vn 08/11, Phan Anh)Về đầu trang
Cần cơ chế thu hút nhân tài đến làm việc ở Buôn Ma Thuột
Sáng 7-11, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự thảo Nghị quyết về: “Thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”.
Theo đại biểu (ĐB) Thạch Phước Bình (Trà Vinh), để Buôn Ma Thuột thực sự vươn mình trở thành đầu tàu kinh tế không chỉ của tỉnh Đắk Lắk mà của cả vùng Tây Nguyên thì cần sự đổi mới quyết liệt, kịp thời về cải cách hành chính, thủ tục phê duyệt dự án, đầu tư, công tác tổ chức cán bộ, biên chế…
ĐB Nguyễn Thị Lệ Thủy (Bến Tre) nêu cơ chế thu hút các chuyên gia, nhà khoa học có tài năng đặc biệt sẽ được miễn thuế nếu làm việc ở Buôn Ma Thuột.
“Người tài năng đặc biệt còn mong muốn được đóng thuế và đó cũng là thước đo thương hiệu của các chuyên gia. Thiết nghĩ điều mà các chuyên gia, nhà khoa học có tài năng đặc biệt mong muốn là có cơ chế và môi trường làm việc tự chủ, sáng tạo để cống hiến trí tuệ, tài năng đặc biệt của mình, tạo ra các sản phẩm có ích cho xã hội” - bà Thủy nói.
Còn ĐB Lý Tiết Hạnh (Bình Định) cho rằng chính sách được quy định trong nghị quyết phải đủ mạnh và không dàn trải. Từ đó, ĐB tỉnh Bình Định đề xuất nghiên cứu bổ sung, cụ thể hóa các quy định chính sách để đảm bảo không xung đột với các chính sách khác và đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đề ra bao gồm chính sách về xây dựng; bảo vệ, phát triển các vùng nguyên liệu.
“Ngành cà phê không thể phát triển đơn độc, do đó bên cạnh việc phát triển vùng nguyên liệu cà phê thì rất cần phát triển các nguyên liệu khác có thể trở thành sản phẩm sau cà phê, sản phẩm phụ trợ cho cà phê” - ĐB Lý Tiết Hạnh nói và cho rằng song hành với đó là chính sách việc làm, thu nhập cho người lao động trong các lĩnh vực cà phê và nguyên liệu nói chung.
Giải trình trước các ý kiến của ĐB Quốc hội cho rằng cơ chế thí điểm cho Buôn Ma Thuột là chưa đủ mạnh, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng cho biết nguyên tắc của thí điểm là không phá vỡ hệ thống pháp luật chung đã xây dựng thống nhất. Vậy nên tính tương đồng, tương quan và phạm vi địa giới áp dụng là điều phải tuân thủ dù là ở cấp huyện như Buôn Ma Thuột hay cấp tỉnh như các địa phương đã được thí điểm trước đó.
Ngoài ra, cũng theo Bộ trưởng Dũng, nghị quyết cơ chế đặc thù thí điểm cho Buôn Ma Thuột chỉ là một phần trong gói giải pháp được kỳ vọng sẽ mang lại vị thế mới cho đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên này. (Daidoanket.vn 08/11, Chân Luận – Đức Minh)Về đầu trang
36 công chức ngành Toà án bị kỷ luật, xử lý hình sự năm 2022
Trong năm 2022 có 36 công chức TAND bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó 33 trường hợp bị xử lý kỷ luật về hành chính, 3 trường hợp bị khởi tố đang trong thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật.
Báo cáo về công tác của tòa án năm 2022, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Hòa Bình nêu rõ, năm qua các Tòa án đã thụ lý 567.521 vụ việc, đã giải quyết được 504.681 vụ việc (đạt tỷ lệ 88,9%; cao hơn năm trước 7,7%). Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan của Tòa án là 0,9%, đáp ứng yêu cầu mà Nghị quyết Quốc hội đề ra (không quá 1,5%).
Về các vụ án hình sự, các Tòa án đã thụ lý 93.452 vụ với 178.830 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được 91.312 vụ với 171.924 bị cáo; đạt tỷ lệ 97,71% về số vụ và 96,14% về số bị cáo, vượt 9,71% so với chỉ tiêu Nghị quyết Quốc hội. Việc xét xử bảo đảm nghiêm minh, đúng pháp luật, chưa phát hiện trường hợp nào kết án oan người không có tội.
Đã tổ chức xét xử nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng do những người có chức vụ, quyền hạn gây ra những thiệt hại đặc biệt lớn, được dư luận xã hội rất quan tâm.
Các Tòa án đã tuyên thu hồi tiền, tài sản đối với 840 vụ, 1.995 bị cáo trong các vụ án kinh tế, tham nhũng với số tiền trên 4.027 tỷ đồng và nhiều tài sản khác. Các Tòa án cũng đã đưa ra xét xử 188 vụ với 297 bị cáo liên quan đến phòng chống dịch Covid-19, góp phần tích cực vào công tác phòng chống dịch bệnh.
Bên cạnh các kết quả nêu trên, hoạt động của các Tòa án còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót như: tỷ lệ bản án, quyết định hành chính bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan vẫn còn cao; vẫn còn một số ít vụ việc dân sự quá hạn giải quyết do nguyên nhân chủ quan; một số cán bộ không chịu rèn luyện đã vi phạm pháp luật và kỷ luật công tác.
Trong năm qua có 36 công chức TAND bị xử lý kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó 33 trường hợp bị xử lý kỷ luật về hành chính, 3 trường hợp bị khởi tố đang trong thời gian chưa xem xét xử lý kỷ luật. (Anninhthudo.vn 08/11, L.H)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Điệp khúc tham nhũng “vặt”!
Ngày 8.11, Quốc hội thảo luận tại hội trường về nhiều nội dung quan trọng, trong đó có công tác phòng, chống tham nhũng năm 2022. Một lần nữa tình trạng tham nhũng “vặt” lại được đề cập trong cả báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp về công tác phòng, chống tham nhũng năm nay.
Tham nhũng “vặt” là thực trạng mà người dân, doanh nghiệp phàn nàn nhiều trong thời gian qua. Một số đối tượng tha hóa đã lợi dụng vị trí của mình để “hành” người dân, doanh nghiệp bởi “chi phí bôi trơn”. Các đối tượng đã cố tình gây phiền hà, kéo dài thời gian giải quyết công việc, giải quyết không đúng quy định, không khách quan khi giải quyết công việc liên quan đến người dân, doanh nghiệp đã gây bức xúc, làm xói mòn lòng tin của người dân, doanh nghiệp. Điều này vô hình trung trở thành rào cản đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.
Trên diễn đàn nhiều kỳ họp Quốc hội, tình trạng này đã được các đại biểu đưa ra mổ xẻ nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Thực trạng này một lần nữa lại được nhắc đến trong báo cáo của Ủy ban Tư pháp thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2022. Ủy ban Tư pháp thẳng thắn nhận định, việc chấp hành kỷ cương, kỷ luật hành chính của cán bộ, công chức, viên chức ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương còn chưa nghiêm; các trường hợp vi phạm thực hiện quy tắc ứng xử tăng đáng kể. Năm 2022 đã xử lý 477 cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp, tăng 299 trường hợp so với năm 2021.
Tình trạng lợi dụng kẽ hở về cơ chế, chính sách, pháp luật, vị trí công tác để nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp còn diễn ra ở nhiều lĩnh vực. “Hiện tượng người dân phải “lót tay” trong giải quyết công việc… là thực trạng xảy ra đã nhiều năm nhưng chưa được ngăn chặn kịp thời” - báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp chỉ rõ.
Không khó để thấy rằng, "chi phí lót tay" mà người dân, doanh nghiệp đã và đang phải “gánh” mỗi khi tiếp cận với dịch vụ công. Theo báo cáo Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2021 (SIPAS 2021), có 0,45% người dân, tổ chức bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu (xảy ra ở 46/63 tỉnh, thành phố); 0,14% người dân, tổ chức phản ánh phải nộp thêm tiền ngoài phí/lệ phí trong quá trình giao dịch dịch vụ công (xảy ra ở 22/63/tỉnh, thành phố).
Báo cáo Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI 2021) cũng cho thấy, hiện trạng chung chi để có việc làm trong khu vực nhà nước vẫn khá phổ biến ở các địa phương. Tỷ lệ người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện công, người làm thủ tục hành chính xin cấp mới hoặc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã phải chi “lót tay” dao động từ 40% đến 90% ở hơn 40 tỉnh, thành phố. Điều đáng chú ý là hiện trạng “chung chi” để làm xong thủ tục xin cấp đổi hoặc cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn phổ biến.
Trên diễn đàn Quốc hội tại Kỳ họp thứ 4 đang diễn ra, nhiều đại biểu cũng chất vấn Tổng Thanh tra Chính phủ về tình trạng này. Người đứng đầu ngành thanh tra cũng thẳng thắn thừa nhận, có tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà trong thực thi công vụ của một bộ phận cán bộ, đảng viên đối với người dân và doanh nghiệp. Từ thực tế thanh tra cho thấy, sự nhũng nhiễu xảy ra đối với cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực hiện thủ tục hải quan, các lĩnh vực về cấp giấy phép xây dựng, cấp giấy phép khai thác khoáng sản, vật liệu xây dựng và đăng ký kinh doanh… là những lĩnh vực dễ xảy ra trình trạng tham nhũng “vặt”.
Dù được "mổ xẻ" ở nhiều kỳ họp của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTG về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, có nhiều cá nhân đã bị xử lý, nhưng tình trạng tham nhũng “vặt” vẫn chưa được giải quyết triệt để.
Để người dân, doanh nghiệp không phải "cõng" những chi phí bất hợp lý; để ngăn chặn tham nhũng “vặt” đòi hỏi cần công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức. Đơn giản hóa và công khai các thủ tục hành chính trên môi trường điện tử. Muốn vậy, phải đổi mới, tăng cường áp dụng công nghệ thông tin, nhất là công nghệ số trong thực hiện các thủ tục hành chính. Thường xuyên đánh giá sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công. Cùng với đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện, kiên quyết xử lý cán bộ sai phạm khi có hành vi nhũng nhiễu tiêu cực. Có như vậy, tình trạng tham nhũng “vặt” mới được ngăn chặn, xử lý kịp thời, tránh tình trạng người dân, doanh nghiệp phải chịu gánh nặng chi phí tuân thủ thủ tục hành chính không đáng có. (Daibieunhandan.vn 08/11, Song Hà) Về đầu trang
Dân chủ cơ sở trên môi trường số
Dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở dự kiến được Quốc hội biểu quyết thông qua trong Kỳ họp thứ Tư này. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi số rất mạnh mẽ với mức độ số hóa xã hội cao, điều cần quan tâm là làm thế nào tận dụng những lợi thế của chuyển đổi số nhằm thúc đẩy thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Chuyển đổi số có thể giúp tạo ra bước tiến lớn trong cải cách thủ tục hành chính; thu hẹp khoảng cách giao tiếp, tương tác giữa người dân và chính quyền địa phương, tăng cường minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tuy nhiên, những lợi thế này có vẻ đang bị “phí phạm”. Theo thống kê từ We are social, 97,6% dân số Việt Nam sở hữu điện thoại thông minh và mức độ phổ cập Internet là 70,3% song chỉ dưới 1% số người được hỏi đã sử dụng Cổng dịch vụ công trực tuyến quốc gia để thực hiện dịch vụ công, theo kết quả khảo sát Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh tại Việt Nam (PAPI) 2021.
Thực hành dân chủ cơ sở trên môi trường số không hoàn toàn mới mà đã có một số quy định. Ví dụ, theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đăng tải dự thảo trên cổng thông tin điện tử để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý kiến. Nhằm thúc đẩy thực hiện dân chủ ở cơ sở toàn diện hơn trên môi trường số, từ năm 2011, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2011/NĐ-CP quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến (nay được thay thế bằng Nghị định số 42/2022/NĐ-CP). Theo đó, các cổng/trang thông tin điện tử cần cung cấp các chức năng tương tác với tổ chức, cá nhân như chức năng hỏi đáp và tiếp nhận thông tin phản hồi trực tuyến; cho phép tham gia xây dựng pháp luật, thực thi chính sách, pháp luật; cho phép đánh giá hoạt động cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước trên môi trường mạng…
Đến nay, các địa phương đều đã đầu tư cơ sở hạ tầng để bảo đảm trang thông tin điện tử có đủ chức năng tương tác với người dân nhưng hiệu quả chưa cao. Số liệu nghiên cứu về tương tác giữa chính quyền và người dân của các cổng thông tin điện tử của 63 tỉnh, thành phố do Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS) thực hiện cho thấy, chuyên mục lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo văn bản pháp luật trên trang thông tin điện tử ở cả 63 tỉnh, thành phố đều chưa nhận được góp ý nào từ đầu năm 2022. Đối với mục hỏi đáp chính quyền - người dân, ngoại trừ một số tỉnh có thực hành tốt (ví dụ như Lào Cai), hầu như mức độ tương tác là hạn chế. Bên cạnh đó, thực hành về giám sát của Nhân dân, cho phép người dân đánh giá trực tuyến mức độ hài lòng về thông tin được cung cấp chưa được chú trọng, dẫn đến triển khai chưa đầy đủ, đồng bộ, sát sao.
Các công cụ trao quyền cho “dân biết, dân làm, dân kiểm tra” trên môi trường số là để dùng chứ không chỉ là hiển thị. Để nâng cao hiệu quả thực hành dân chủ cơ sở trên môi trường số, bên cạnh việc ghi nhận các hình thức thực hiện dân chủ cơ sở trên môi trường số tại Khoản 1 Điều 12 và Khoản 1 Điều 26 của dự thảo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, cần làm rõ các nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ được áp dụng ở cả môi trường số.
Cụ thể, Luật cần trao quyền cho người dân được nhận phản hồi minh bạch, trực tuyến đối với đề xuất, sáng kiến, phản ánh, kiến nghị, khiếu nại tố cáo của mình. Đồng thời, trao quyền cho người dân đánh giá, thể hiện quan điểm, sự hài lòng, và phản biện đối với phản hồi của các cơ quan hữu trách một cách trực tiếp, công khai trên các kênh tương tác của cơ quan nhà nước tại Điều 3 và Điều 5. Đối với mục Nhân dân tham gia ý kiến, Luật cần bổ sung một điều khoản về nguyên tắc xử lý, phản hồi với ý kiến Nhân dân, bảo đảm các đặc tính công khai (cả trực tiếp và trực tuyến), minh bạch, chịu trách nhiệm giải trình trên cả môi trường thực và môi trường số.
Trong bối cảnh Việt Nam còn chuyển đổi số mạnh mẽ và môi trường số có rất nhiều ưu điểm để người dân thể hiện quyền dân chủ của mình một cách nhanh chóng, thuận tiện và trực tiếp, làm rõ các nguyên tắc nêu trên là rất quan trọng! (Daibieunhandan.vn 07/11, Tống Khánh Linh, Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông) Về đầu trang
Nhân tài, anh là ai?
Hiện chúng ta chưa đưa ra được tiêu chí xác định nhân tài mà chỉ lấy bằng cấp, học vị làm tiêu chí gần như duy nhất để xác định đó là nhân tài.
Trong phiên chất vấn cuối tuần qua, ĐBQH Lê Thanh Vân đã gửi câu hỏi chất vấn Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà, liên quan đến việc hoàn thiện cơ chế chính sách trọng dụng nhân tài. Đây là vấn đề được cử tri đặc biệt quan tâm.
Trả lời đại biểu, Bộ trưởng Bộ Nội vụ cho biết, Bộ đang xây dựng đề án quốc gia về thu hút, sử dụng nhân tài, cùng với đó sẽ có cơ chế chính sách hấp dẫn để trọng dụng nhân tài. Thực tiễn chứng minh nhân tài là yếu tố căn bản, gốc rễ thay đổi diện mạo quốc gia, dân tộc.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm thu hút, trọng dụng người tài trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng cũng xác định định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là tạo đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài...
Có thể thấy, việc thu hút, trọng dụng nhân tài thời gian qua vẫn chưa đạt kết quả như mong muốn. Tình trạng “chảy máu chất xám” vẫn là một thách thức to lớn. Rõ nhất là cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài chưa được cụ thể hóa một cách đồng bộ, thống nhất. Hầu hết các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ chưa có cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút, trọng dụng nhân tài theo ngành, lĩnh vực; số địa phương thực hiện hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài còn khiêm tốn.
Mấu chốt chưa thành công là do chưa đưa ra được khái niệm về nhân tài; tiêu chí xác định nhân tài. Hiện nay, dường như chúng ta vẫn chỉ lấy bằng cấp, học vị làm tiêu chí gần như duy nhất để xác định đó là nhân tài. Trong khi đó, bằng cấp chỉ là tiêu chí phân biệt trình độ đào tạo về một ngành, một lĩnh vực, chứ chưa phải là nhân tài.
“Bằng cấp, học vị” và “tài năng” là hai thuật ngữ có liên quan với nhau, chứ không có nghĩa đồng nhất. Trong nhóm người có bằng cấp, học vị cao thì tần suất là nhân tài sẽ cao hơn ở các nhóm người khác. Đặc điểm quan trọng của nhân tài khác với người bình thường là khả năng sáng tạo và mức độ đóng góp mang lại một kết quả, hiệu quả có ích cho ngành, cho lĩnh vực, cho cộng đồng, cho xã hội. Tiêu chuẩn của nhân tài luôn vẫn phải là đức và tài.
Do đó, chúng ta phải một mặt cố gắng thu hút, giữ chân nhân tài đang làm việc trong nước, mặt khác thu hút những nhân tài Việt Nam ở nước ngoài về nước đóng góp xây dựng đất nước, nhất là trong những lĩnh vực Việt Nam còn thiếu và yếu bằng cách xây dựng các cơ chế, chính sách vượt trội, hấp dẫn, hợp lý, cụ thể.
Hiện nay, chủ trương thu hút nhân tài chưa được cụ thể hóa bằng cơ chế, chính sách ưu đãi phù hợp, chưa được xây dựng một cách đồng bộ và toàn diện trên cơ sở nhận diện các nhu cầu, mong muốn thực sự của nhân tài. Người tài chưa thực sự được hưởng những ưu đãi tương xứng với tài năng; chính sách tiền lương, phụ cấp còn nhiều bất cập.
Việc quan trọng cần làm ngay là cần có tiêu chí thống nhất để xác định nhân tài, nhận diện nhân tài. Bởi, chừng nào chưa xác định được thế nào là nhân tài, chừng đó các bộ, ngành, địa phương vẫn sẽ chỉ tập trung thu hút nhân tài là những người có bằng cấp, học hàm, học vị mà chưa thực sự coi trọng năng lực thực tiễn và các tiêu chí khác. (TS. Phạm Quang Long - Phó chủ tịch Hiệp hội Khoa học Hành chính Việt Nam) Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 07/11/2022 (07/11/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 04/11/2022 (04/11/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 03/11/2022 (04/11/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 02/11/2022 (03/11/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 01/11/2022 (03/11/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 31/10/2022 (31/10/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 28/10/2022 (28/10/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 27/10/2022 (27/10/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 26/10/2022 (27/10/2022)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 25/10/2022 (25/10/2022)

