Bản tin Cải cách hành chính ngày 03/11/2026
- Hà Nội tạo đột phá cải cách hành chính, kiến tạo nền hành chính hiện đại 2
- Đà Nẵng: Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số. 3
- Quy định mới về phí, lệ phí ngoại giao tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài 4
- Cần chính sách đột phá để thu hút, phát triển luật sư là người dân tộc thiểu số. 5
- Nghị quyết 57-NQ/TW: Công nghiệp sinh học – động lực mới cho nông nghiệp xanh. 5
- Công nghệ số góp phần lan tỏa tri thức pháp luật 6
- Xã Gia Tường – Ninh Bình: Triển khai Mô hình “Hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính trước giờ làm việc 30 phút”. 7
- Bắc Ninh: Tối ưu khả năng vận hành của trợ lý Nhân dân. 7
- Trung Sơn – Phú Thọ: hướng tới nền hành chính phục vụ. 8
Gắn vị trí việc làm với công tác cán bộ và cải cách tiền lương từ năm 2027
Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà - Trưởng Ban Chỉ đạo rà soát, hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ và quản lý biên chế thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ đã ban hành Quyết định số 166/QĐ-BCĐ kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Thứ nhất, lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai bảo đảm đầy đủ thống nhất Kết luận số 107-KL/TW của Bộ Chính trị. Thứ hai, rà soát vị trí việc làm và các yếu tố tác động, thay đổi công việc do chuyển đổi số, tự chủ, thuê dịch vụ và xã hội hóa. Thứ ba, xác định nhu cầu nhân lực và xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031. Thứ tư, triển khai xây dựng, hoàn thành cơ sở dữ liệu vị trí việc làm. Thứ năm, gắn vị trí việc làm với công tác cán bộ và cải cách chính sách tiền lương và tiếp tục chuẩn hóa từ năm 2027.
Căn cứ theo chủ trương của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng uỷ Chính phủ, Chính phủ, Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo tiếp tục cụ thể hoá các nhiệm vụ liên quan đến việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc và phát triển đội ngũ cán bộ dựa trên sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc; việc quản trị nhân lực và cải cách chính sách tiền lương theo lộ trình; chuẩn hóa danh mục, bản mô tả công việc, khung năng lực, dữ liệu và phương pháp xác định nhu cầu nhân lực.
Theo kế hoạch, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Tiến Hải - Phó Trưởng Ban Chỉ đạo được giao nhiệm vụ lãnh đạo phụ trách việc chỉ đạo, xây dựng phương án biên chế giai đoạn 2027-2031 thuộc phạm vi quản lý của Chính phủ. Nhiệm vụ này hoàn thành trước ngày 24.11. (Laodong.vn 03/11, Phạm Đông)
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Hà Nội tạo đột phá cải cách hành chính, kiến tạo nền hành chính hiện đại
Cải cách hành chính không đơn thuần là giảm vài loại giấy tờ hay rút ngắn thời gian chờ đợi. Với Hà Nội, đây đang trở thành một trong những động lực quan trọng để đổi mới phương thức quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.
Chủ tịch UBND TP Hà Nội Vũ Đại Thắng nhấn mạnh, cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính, là khâu trọng tâm, then chốt trong triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII và các chương trình, kế hoạch phát triển Thủ đô.
Ngay từ đầu năm 2026, Thành ủy, HĐND và UBND TP Hà Nội đã có nhiều chỉ đạo, định hướng cụ thể nhằm thúc đẩy cải cách hành chính, coi đây là một trong những động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội.
Theo thống kê đến giữa tháng 10/2026, Hà Nội có gần 2.000 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý, trong đó hơn 1.400 thủ tục liên quan trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố đang phối hợp rà soát, xác định những thủ tục không phát sinh hồ sơ để đề xuất phương án xử lý.
Đáng chú ý, thành phố không chỉ dừng lại ở việc thống kê mà đang tìm hướng tháo gỡ những vướng mắc về thẩm quyền. Bởi nhiều thủ tục được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do bộ, ngành Trung ương ban hành, khiến việc bãi bỏ phải tuân thủ đúng căn cứ pháp lý.
Quyết tâm cải cách được thể hiện rõ qua chỉ đạo của lãnh đạo thành phố. Tại cuộc họp về cắt giảm thủ tục hành chính hồi tháng 10/2026, Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trương Việt Dũng nhấn mạnh, đây là nhiệm vụ bắt buộc phải hoàn thành, không dừng ở mức chỉ tiêu phấn đấu.
Theo yêu cầu của thành phố, các sở, ngành và 126 xã, phường phải hoàn thành rà soát danh mục thủ tục hành chính có thể cắt giảm trong tháng 10/2026. Trên cơ sở đó, căn cứ khoản 1 Điều 8 Luật Thủ đô 2026, UBND thành phố sẽ tổng hợp danh mục thủ tục không đủ điều kiện thực hiện, thủ tục không thực hiện trên địa bàn, trình HĐND thành phố xem xét, thông qua tại kỳ họp cuối năm. (Danviet.vn 03/11)
Đà Nẵng: Đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số
Với phương châm lấy người dân làm trung tâm, chính quyền cơ sở ở các xã vùng cao Đà Nẵng đẩy mạnh cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số, nỗ lực rút ngắn khoảng cách địa lý, nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân.
Ghi nhận tại địa phương miền núi Sông Vàng, không khí làm việc tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã luôn diễn ra khẩn trương. Chị Bríu Thị Thìn (xã Sông Vàng) đến trung tâm để làm các thủ tục liên quan đến đất đai. Chị được cán bộ hướng dẫn tỉ mỉ cách thực hiện một số khâu trên môi trường trực tuyến.
Ông Lê Văn Tư, Chủ tịch UBND xã Sông Vàng cho biết, Trung tâm Phục vụ hành chính công của xã đang hoạt động ổn định và hiệu quả. Từ ngày 15/12/2025 đến 20/9/2026, xã tiếp nhận và giải quyết 4.516 hồ sơ. Trong đó có 3.949 hồ sơ được thực hiện trực tuyến, đạt tỷ lệ 99,89%. Tỷ lệ hồ sơ trả trước và đúng hạn đạt mức gần tuyệt đối là 99,96% và tỷ lệ thanh toán trực tuyến đạt 98,26%. Đặc biệt, xã không để xảy ra tình trạng hồ sơ tồn đọng.
Tại xã Thạnh Mỹ, một địa bàn rộng lớn với dân cư phân tán, thách thức lớn nhất nằm ở kỹ năng số của một bộ phận người dân. Nhận diện khó khăn này, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã lấy thông điệp “Hành chính công chủ động - Tận tụy phục vụ nhân dân” và “Chính quyền thân thiện, vì nhân dân phục vụ” làm kim chỉ nam.
Hành trình cải cách hành chính tại các xã vùng cao của Đà Nẵng đang chứng kiến sự bứt phá mạnh mẽ trong việc ứng dụng các nền tảng số. Tại xã Bến Giằng, từ ngày 1/1 đến 14/9/2026, địa phương tiếp nhận 2.504 hồ sơ, với tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt mức cao 2.484 hồ sơ. Hiện xã cung cấp 250 dịch vụ công trực tuyến toàn trình và 195 dịch vụ công trực tuyến một phần.
Ông Châu Ngọc Vĩnh, Chủ tịch UBND xã Bến Giằng khẳng định, địa phương đang khai thác hiệu quả phần mềm một cửa điện tử, hệ thống quản lý văn bản và thực hiện ký số hồ sơ đồng bộ. Việc liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cấp được bảo đảm, giúp hạn chế tối đa yêu cầu người dân phải cung cấp lại những thông tin đã có sẵn trên hệ thống.
Tương tự, xã Phước Chánh cũng xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng chính quyền số cấp xã. Địa phương tập trung vào việc chuẩn hóa, cập nhật cơ sở dữ liệu để bảo đảm tính chính xác và khả năng tái sử dụng dữ liệu. (Baodanang.vn 03/11)
https://baodanang.vn/day-manh-cai-cach-hanh-chinh-gan-voi-chuyen-doi-so-3357230.html
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Quy định mới về phí, lệ phí ngoại giao tại Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài
Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 163/2026/TT-BTC quy định mức thu, miễn, chế độ thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao áp dụng tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Thông tư này quy định mức thu, miễn, chế độ thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao và các lĩnh vực khác (gọi chung là phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao) áp dụng tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Thông tư này áp dụng đối với người nộp phí, lệ phí, tổ chức thu phí, lệ phí và tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thu, nộp phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao áp dụng tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.
Mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao áp dụng tại các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại Biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực ngoại giao (Phụ lục I và Phụ lục II) ban hành kèm theo Thông tư này.
Người nước ngoài là khách mời (kể cả vợ hoặc chồng, bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng và các con cùng đi theo khách mời) của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ; hoặc do lãnh đạo Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mời với tư cách cá nhân.
Viên chức, nhân viên hành chính kỹ thuật của Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự nước ngoài và Cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam và thành viên gia đình (gồm vợ hoặc chồng, bố mẹ đẻ, bố mẹ vợ hoặc chồng và các con chưa thành niên) theo nguyên tắc có đi có lại.
Các trường hợp xin cấp thị thực nhưng được miễn phí thị thực theo quy định của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo thỏa thuận song phương. ( Baochinhphu.vn 02/11)
Cần chính sách đột phá để thu hút, phát triển luật sư là người dân tộc thiểu số
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, chiều 2/11, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật Luật sư (sửa đổi). Các đại biểu đề nghị cần quy định cụ thể vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với tổ chức luật sư; đồng thời, có chính sách đột phá nhằm hỗ trợ, đào tạo, thu hút và phát triển luật sư là người dân tộc thiểu số nhằm cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho địa bàn khó khăn.
Tại phiên thảo luận, các đại biểu cơ bản thống nhất với nội dung của dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) và đánh giá cao Cơ quan soạn thảo đã nghiên cứu, bổ sung nhiều nội dung mới, trong đó có việc đổi mới phương thức đào tạo, tuyển chọn luật sư, quy định về kỳ thi quốc gia về luật sư, mở rộng phạm vi nghề nghiệp cũng như phát triển tổ chức hành nghề luật sư, đẩy mạnh chuyển đổi số cũng như tăng cường trách nhiệm của luật sư trong chuyển đổi số.
Từ những phân tích nêu trên, đại biểu Nguyễn Phi Hùng đề nghị bổ sung 1 khoản vào Điều 31 dự thảo Luật (về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn Luật sư) quy định cụ thể: Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư có trách nhiệm thiết lập kênh tiếp nhận thông tin phản ánh công khai (trực tiếp và trực tuyến), định kỳ xử lý và công khai kết quả trên trang thông tin điện tử. Đồng thời định kỳ hằng năm báo cáo, giải trình với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp về kết quả tiếp nhận, giải quyết ý kiến phản ánh của Nhân dân đối với đội ngũ luật sư tại địa phương. (Quochoi.vn 02/11)
https://quochoi.vn/cacvilanhdao/Pages/hoat-dong.aspx?ItemID=102624
Nghị quyết 57-NQ/TW: Công nghiệp sinh học – động lực mới cho nông nghiệp xanh
Theo Quyết định số 4066/QĐ-BNNMT, Chương trình được triển khai nhằm cụ thể hóa Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 31/7/2026. Các nhiệm vụ được thực hiện trong giai đoạn 2026–2035, tập trung vào hoàn thiện cơ chế, chính sách; phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng tiềm lực nghiên cứu; phát triển doanh nghiệp và mở rộng hợp tác quốc tế.
Chương trình xác định công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng, góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng ngành nông nghiệp và môi trường dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trọng tâm là từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ sinh học có sức cạnh tranh, phục vụ nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững.
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường. Bộ Nông nghiệp và Môi trường định hướng tập trung làm chủ các công nghệ chiến lược như công nghệ gen thế hệ mới, công nghệ chỉnh sửa gen; đồng thời phát triển các sản phẩm có khả năng ứng dụng rộng rãi, đáp ứng yêu cầu sản xuất và thị trường.
Trong lĩnh vực trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi và thủy sản, Chương trình đặt mục tiêu phát triển 10–15 giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản thế hệ mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng kháng bệnh, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải. Các giống mới được tạo ra từ công nghệ tế bào, chỉnh sửa gen và chọn giống chính xác, hướng tới chuyển giao, nhân rộng vào sản xuất hàng hóa, phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu và ứng dụng, Chương trình chú trọng xây dựng tiềm lực khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ công nghiệp sinh học. Mục tiêu đặt ra là đào tạo, bồi dưỡng 500 cán bộ, nghiên cứu viên trình độ cao về công nghệ sinh học và 2.000 lượt kỹ thuật viên, cán bộ quản lý thuộc phạm vi Bộ. (TTXVN/Bnews.vn 02/11)
Công nghệ số góp phần lan tỏa tri thức pháp luật
Từ những chuyến tuần tra, kiểm soát trên biển đến các cuộc gặp gỡ tại cảng cá, cán bộ, cảnh sát viên Phòng Pháp luật, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 kết hợp tuyên truyền trực tiếp với ứng dụng công nghệ số, đưa kiến thức pháp luật đến gần hơn với ngư dân.
Với phương châm "mỗi cảnh sát viên là một tuyên truyền viên pháp luật", cán bộ Phòng Pháp luật, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 luôn chú trọng đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, sát với thực tiễn thực hiện nhiệm vụ trên biển.
Những quy định liên quan đến khai thác thủy sản, sử dụng thiết bị giám sát hành trình tàu cá (VMS), bảo vệ môi trường biển, bảo đảm an toàn hàng hải và phòng, chống vi phạm pháp luật được giải thích cụ thể thông qua các buổi gặp gỡ, trao đổi trực tiếp với chủ tàu, thuyền trưởng và ngư dân.
Cùng với tuyên truyền trong quá trình tuần tra, kiểm tra, kiểm soát trên biển, Phòng Pháp luật, Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 2 đẩy mạnh phổ biến pháp luật tại các cảng cá khu vực miền Trung, gắn với ứng dụng công nghệ số.
Với phương châm "đến từng cảng cá, gặp từng chủ tàu, thuyền trưởng, ngư dân", cán bộ phối hợp với chính quyền địa phương, ban quản lý cảng cá và Bộ đội Biên phòng xuống từng tàu đang neo đậu, gặp gỡ chủ tàu, thuyền trưởng, thuyền viên để tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng mã QR như một "điểm truy cập pháp luật số" dành cho ngư dân.
Chỉ bằng thao tác quét mã trên điện thoại thông minh, bà con có thể tra cứu các văn bản, tìm hiểu những quy định cần thiết trong quá trình khai thác. Mã QR còn tích hợp kênh tiếp nhận ý kiến, phản ánh, chia sẻ của ngư dân, tạo sự tương tác hai chiều với lực lượng Cảnh sát biển. Việc kết hợp tuyên truyền trực tiếp với cung cấp thông tin số giúp ngư dân tiếp tục tìm hiểu pháp luật sau mỗi buổi gặp gỡ, nâng cao tính thường xuyên và hiệu quả của công tác tuyên truyền. (Daibieunhandan.vn 01/11, Thanh Điếu)
https://daibieunhandan.vn/cong-nghe-so-gop-phan-lan-toa-tri-thuc-phap-luat-10441383.html
Xã Gia Tường – Ninh Bình: Triển khai Mô hình “Hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính trước giờ làm việc 30 phút”
Từ tháng 11/2026, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Gia Tường triển khai mô hình hướng dẫn, giải quyết thủ tục hành chính trước giờ làm việc 30 phút vào các ngày thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu hằng tuần.
Theo đó, cán bộ, công chức trực tiếp hỗ trợ người dân chuẩn bị, hoàn thiện hồ sơ; hướng dẫn nộp hồ sơ trực tuyến, sử dụng VNeID, thanh toán trực tuyến và tra cứu kết quả giải quyết thủ tục hành chính, góp phần hạn chế việc đi lại nhiều lần, tiết kiệm thời gian cho Nhân dân.
Đây là giải pháp thiết thực nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao tinh thần trách nhiệm và chất lượng phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động. (Giatuong.ninhbinh.gov.vn 02/11)
Bắc Ninh: Tối ưu khả năng vận hành của trợ lý Nhân dân
Tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Kinh Bắc, một địa bàn đô thị trung tâm có lượng lớn hồ sơ, ứng dụng trợ lý Nhân dân được cài đặt trên 9 máy tính để hỗ trợ người dân tra cứu, lựa chọn và thực hiện thủ tục hành chính. Theo ông Nguyễn Duy Hà, Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Kinh Bắc, số hồ sơ tiếp nhận mỗi ngày của Trung tâm khá lớn, khoảng 300 hồ sơ, trong đó, gần 50% là hồ sơ liên quan đến các ngành dọc như thuế, đất đai với yêu cầu xử lý nhiều thông tin.
Theo ghi nhận, thời gian thực hiện một hồ sơ rút ngắn khoảng 50 - 70% tùy loại thủ tục; cán bộ và người dân giảm đáng kể thao tác nhập liệu thủ công. Có những thủ tục công dân có thể hoàn thành trong thời gian từ 5 - 10 phút, thay vì cả giờ đồng hồ như trước kia. Từ hiệu quả bước đầu đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Kinh Bắc sẽ nghiên cứu, tham mưu để triển khai ứng dụng rộng hơn ra các tổ dân phố, khi các đơn vị được trang bị máy tính, máy in, máy quét nhằm đưa công cụ hỗ trợ đến gần người dân ngay tại khu dân cư.
Để bảo đảm các điều kiện sẵn sàng vận hành ứng dụng trợ lý Nhân dân, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố đề nghị 15 xã, phường khẩn trương rà soát thiết bị, đường truyền và bố trí nhân lực phù hợp. Công ty Cổ phần Đầu tư Kỷ Nguyên Mới Việt Nam cài đặt, hướng dẫn sử dụng và phân công nhân sự hỗ trợ trực tiếp, kịp thời xử lý khó khăn, vướng mắc trong thời gian thí điểm.
Kết quả, từ ngày 27/10 đến hết ngày 30/10/2026, tại 15 xã, phường, ứng dụng trợ lý Nhân dân được cài đặt cho 122 máy tính cán bộ, 37 máy hỗ trợ công dân, tổng số hồ sơ phát sinh qua ứng dụng là 1.813 hồ sơ. Ứng dụng đã hỗ trợ giọng nói đối với 106 thủ tục hành chính; trong đó, 86 thủ tục toàn trình có tính năng này.
Theo chị Nguyễn Thị Bích Nhung, cán bộ kỹ thuật Công ty Cổ phần Đầu tư Kỷ Nguyên Mới Việt Nam, để ứng dụng vận hành ổn định, các địa phương cần bảo đảm đường truyền mạng, kết nối máy quét và các thiết bị như máy tính, tai nghe, mic. Đặc biệt, tinh thần trách nhiệm của cán bộ ở cơ sở là hết sức quan trọng, không chỉ thành thạo thao tác kỹ thuật mà còn phải nắm chắc quy trình, thành phần hồ sơ và các thủ tục đã được tích hợp trên ứng dụng để hướng dẫn cho người dân. (Baobacninhtv.vn 03/11)
https://baobacninhtv.vn/bac-ninh-toi-uu-kha-nang-van-hanh-cua-tro-ly-nhan-dan-postid457551.bbg
Trung Sơn – Phú Thọ: hướng tới nền hành chính phục vụ
Là xã miền núi có địa bàn rộng, dân cư phân bố thưa, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 99,9% dân số, Trung Sơn đứng trước không ít khó khăn trong triển khai dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) và phổ cập kỹ năng số. Trước yêu cầu đổi mới phương thức quản lý, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân, UBND xã đẩy mạnh cải cách hành chính (CCHC), trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính (TTHC) gắn với chuyển đổi số và thực hiện Đề án 06 của Chính phủ.
Để công tác CCHC đi vào thực chất, xã tập trung rà soát quy trình, thành phần hồ sơ, thời gian giải quyết TTHC; kịp thời phát hiện những bất cập để đề xuất đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, đề cao trách nhiệm người đứng đầu, siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính, tăng cường trách nhiệm giải trình, chấn chỉnh biểu hiện gây phiền hà, nhũng nhiễu và thực hiện nghiêm việc xin lỗi người dân khi hồ sơ giải quyết chậm hạn.
Các TTHC thuộc thẩm quyền được niêm yết tại Trung tâm Phục vụ hành chính công, cập nhật trên hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh và Trang thông tin điện tử xã. Đồng thời, công khai mã QR tra cứu thủ tục, số điện thoại của lãnh đạo trung tâm và cán bộ tiếp nhận, trả kết quả, giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin, theo dõi quá trình giải quyết hồ sơ và kịp thời phản ánh những vấn đề phát sinh.
Tính đến tháng 9, xã đã rà soát 461 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết cấp xã, trong đó có 325 thủ tục cung cấp DVCTT toàn trình và 136 thủ tục cung cấp DVCTT một phần. Đến hết tháng 9, xã tiếp nhận 1.488 hồ sơ, trong đó 1.191 hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến, chiếm 80,04%; 297 hồ sơ tiếp nhận trực tiếp, chiếm 19,95%. Đã giải quyết 1.473 hồ sơ, đạt 98,99%, còn 15 hồ sơ đang trong quá trình xử lý tại thời điểm báo cáo. Đáng chú ý, 100% hồ sơ được số hóa và trả kết quả trên môi trường điện tử. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cao cho thấy việc ứng dụng công nghệ trong giải quyết TTHC từng bước phát huy hiệu quả, góp phần giảm thời gian đi lại, tạo thuận lợi cho người dân và nâng cao tính công khai trong hoạt động của cơ quan hành chính. (Baophutho.vn 03/11)
https://baophutho.vn/trung-son-huong-toi-nen-hanh-chinh-phuc-vu-263863.htm
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN
Vượt qua chính mình: Từ bẫy thu nhập trung bình đến năng lực phát triển mới
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển có ý nghĩa đặc biệt. Sau bốn thập kỷ đổi mới, từ một nền kinh tế nghèo, Việt Nam đã vươn lên nhóm nền kinh tế thu nhập trung bình cao.
Mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu mới về chất, không chỉ tăng trưởng nhanh hơn mà phải tạo dựng những năng lực phát triển mới. Đây là chặng đường khó khăn hơn nhiều so với việc khai thác các lợi thế đã tạo nên thành công trong quá khứ.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là làm thế nào để Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn, mà quan trọng hơn là làm sao vượt qua những giới hạn của mô hình tăng trưởng đã tạo nên thành công trong các thập kỷ qua, kiến tạo năng lực cho những thập niên tới và chuyển hóa cơ hội phát triển thành sức mạnh quốc gia.
Bốn thập kỷ đổi mới đã tạo nên những thay đổi có ý nghĩa lịch sử đối với kinh tế nước ta. Cải cách thể chế, mở cửa và hội nhập đã giải phóng nguồn lực, mở rộng không gian sản xuất, kinh doanh và thị trường; thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam tham gia ngày càng sâu vào các chuỗi sản xuất toàn cầu. Những thành quả đó tạo nền tảng quan trọng cho bước phát triển tiếp theo.
Nhưng khi nền kinh tế bước sang trình độ cao hơn, bài toán phát triển cũng thay đổi. Ở giai đoạn đầu, tăng trưởng có thể được thúc đẩy bằng cách huy động thêm vốn, lao động, đất đai và mở rộng quy mô sản xuất. Tuy nhiên, khi tiền lương tăng, cơ cấu lao động thay đổi, hiệu quả của việc bổ sung vốn có xu hướng giảm dần và cạnh tranh ngày càng gay gắt, những động lực từng tạo ra tăng trưởng sẽ không còn đủ mạnh như trước. Khi đó, vấn đề không còn đơn giản là huy động thêm bao nhiêu nguồn lực, mà là tạo ra bao nhiêu giá trị từ những nguồn lực đang có.
Khái niệm "bẫy thu nhập trung bình" thường được dùng để mô tả tình trạng nền kinh tế sau giai đoạn tăng trưởng nhanh, đạt mức thu nhập trung bình nhưng sau đó tăng trưởng và năng suất chậm lại, không thể tiến lên nhóm các nền kinh tế thu nhập cao.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận đây là vấn đề về mức thu nhập, chúng ta chưa chạm tới bản chất của bẫy: nền kinh tế không tạo ra đủ năng suất và năng lực mới để duy trì quá trình phát triển khi những động lực cũ dần tới giới hạn.
Khi nền kinh tế còn ở trình độ thấp, tích lũy vốn, mở rộng sản xuất, chuyển dịch lao động và tiếp nhận công nghệ có thể tạo ra những bước tiến lớn về năng suất. Nhưng khi trình độ phát triển tăng lên, các động lực này dần bộc lộ giới hạn. Muốn tiếp tục tăng trưởng, quốc gia phải nâng cao năng lực hấp thụ và làm chủ công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng chất lượng nguồn nhân lực và phát triển các doanh nghiệp trong nước có khả năng cạnh tranh ở trình độ cao hơn.
Vì thế, năng suất không chỉ là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng mà còn biểu hiện của năng lực phát triển. Doanh nghiệp có năng lực công nghệ cao có thể tạo ra nhiều giá trị hơn với cùng lượng lao động và vốn. Người lao động có kỹ năng tốt hơn có thể đảm nhiệm những công việc có giá trị gia tăng cao hơn. Thể chế hiệu quả giúp nguồn lực được phân bổ tới những lĩnh vực có năng suất cao hơn; quản trị tốt giúp các quyết định được chuyển hóa thành kết quả; năng lực đổi mới cho phép nền kinh tế liên tục tạo ra sản phẩm, quy trình và mô hình kinh doanh mới.
Do đó, vượt qua bẫy thu nhập trung bình không thể chỉ bằng cách nâng tốc độ tăng GDP trong một vài năm. Điều quyết định là khả năng tạo ra năng suất và năng lực mới đủ nhanh để duy trì tăng trưởng ở trình độ phát triển cao hơn.
Đối với kinh tế nước ta, thách thức hiện nay không chỉ là vượt qua ngưỡng thu nhập, mà phải xây dựng năng lực để tiếp tục vượt qua những giới hạn của chính mình. Đây là sự thay đổi căn bản trong cách nhìn nhận bài toán phát triển. (Xaydungchinhsach.chinhphu.vn 02/11)
Bài viết cùng chuyên mục
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 02/11/2026 (02/11/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 30/10/2026 (30/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 29/10/2026 (29/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 28/10/2026 (28/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 27/10/2026 (27/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 26/10/2026 (26/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 23/10/2026 (23/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 22/10/2026 (22/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 21/10/2026 (21/10/2026)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 20/10/2026 (20/10/2026)