Chi tiết tin - Quảng Bình
Tập trung nguồn lực nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Xác định việc phát huy và phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) là nhiệm vụ trọng tâm, thời gian qua, UBND tỉnh đã chú trọng vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển KH&CN; đổi mới cơ chế quản lý hoạt động KH&CN theo hướng triệt để xóa bỏ cơ chế xin cho; đầu tư đúng mức việc phát huy, tăng cường tiềm lực KH&CN của tỉnh... Công tác đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ KH&CN được quan tâm nhằm phục vụ tốt việc quản lý, sự nghiệp và nghiên cứu khoa học. Tính đến cuối tháng 12/2018, toàn tỉnh có 577 cán bộ, công chức, viên chức làm công tác KH&CN (trong đó có 3 Phó giáo sư; 34 Tiến sĩ, 201 Thạc sĩ và 276 Đại học).
Bên cạnh đó, tỉnh cũng tăng cường mở rộng liên kết, quan hệ hợp tác KH&CN với bên ngoài nhằm tranh thủ thu hút các nguồn lực trong nước và quốc tế để phát triển KH&CN; tiếp thu công nghệ mới, công nghệ cao và các thành tựu KH&CN tiên tiến, hiện đại, những kinh nghiệm hữu ích nhằm từng bước nâng cao năng lực KH&CN; tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích cán bộ KH&CN tham gia các hội nghị, hội thảo khoa học quốc tế ở trong, ngoài nước, tham gia nghiên cứu khoa học và giảng dạy ở nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế; triển khai nhiều chương trình hợp tác nghiên cứu, chia sẻ thông tin KH&CN. Nhìn chung, việc triển khai thực hiện cơ chế, chính sách và ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động KH&CN đã đáp ứng kịp thời yêu cầu, nhiệm vụ đề ra, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.
Toàn tỉnh đã thực hiện được 39 đề tài, dự án, trong đó có 21 đề tài, dự án được chuyển tiếp từ các năm trước. Riêng năm 2018 và 7 tháng năm 2019 thực hiện mới 18 đề tài, dự án cấp tỉnh. Các đề tài, dự án đã được nghiên cứu, nghiệm thu có ý nghĩa thực tiễn và tính ứng dụng cao như: “Nghiên cứu các giải pháp tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước của lực lượng cảnh sát giao thông về đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh”; “Nghiên cứu một số phương thức giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh”; “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công tỉnh”; “Điều tra dịch tễ học, định type vi rút cúm gia cầm độc lực cao tại tỉnh”; Dự án “Sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phụ phẩm của quá trình chế biến tinh bột Sắn”…
Thông qua kết quả nghiên cứu, các đề tài đã đưa ra những dự báo tình hình, từ đó đề xuất được giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước cũng như đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh; phương thức giám định và phản biện xã hội phù hợp với tình hình và điều kiện thực tiễn trong công tác Mặt trận của tỉnh; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công cho doanh nghiệp và người dân; thiết lập hệ thống dự báo và phòng, chống chủ động hiệu quả dịch bệnh do vi rút cúm gia cầm độc lực cao. Đặc biệt, Dự án “Sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phụ phẩm của quá trình chế biến tinh bột Sắn” đã nghiên cứu, ứng dụng công nghệ lên men để sản xuất thức ăn chăn nuôi từ bã sắn tươi nhằm tận dụng có hiệu quả nguồn bã thải từ quá trình chế biến tinh bột sắn, tạo ra nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, giá thành thấp, thay thế một phần các nguyên liệu thức ăn có giá thành cao khác, đáp ứng nhu cầu cho người chăn nuôi và nhất là làm giảm thiểu nguy cơ ô nhiểm môi trường.
Bên cạnh đó, toàn tỉnh có 07 dự án thuộc chương trình nông thôn và miền núi được triển khai trên địa bàn do Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý, đó là: Dự án Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao công nghệ nhân giống dạng dịch thể để sản xuất giống nấm Linh chi và nấm sò tại Quảng Bình; Dự án Xây dựng mô hình ứng dụng công nghệ tiên tiến chăn nuôi lợn theo phương thức công nghiệp trên vùng đất cát ven biển; Dự án Xây dựng mô hình trồng sả xen canh với cây cao su, chưng cất thu tinh dầu sả và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ bã thải sau chưng cất tại vùng miền núi; Dự án Ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ xây dựng mô hình ương giống và nuôi thương phẩm cá Chình hoa (Anguilla marmorata) đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao (dự án do Trung ương quản lý); Dự án Xây dựng mô hình ứng dụng tinh giống bò nhập ngoại sản xuất bê lai hướng thịt có năng suất, chất lượng cao trên địa bàn (dự án do Trung ương quản lý); Dự án ứng dụng khoa học và công nghệ xây dựng mô hình sản xuất giống, trồng và sơ chế dược liệu Kim tiền thảo (Desmodium styracifolium (Osb) Merr) và Sâm báo (Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr) trên vùng đất gò đồi; Dự án ứng dụng công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học để lên men nguyên liệu sống chưa chất bột và xơ làm thức ăn chăn nuôi giàu dinh dưỡng.
Hiện, các dự án thuộc chương trình nông thôn, miền núi đã và đang triển khai chủ yếu xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để tăng năng suất, chất lượng giống cây trồng vật nuôi… nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt là giúp Nhân dân các xã ven biển thiệt hại do sự cố môi trường biển do Formosa gây ra chuyển đổi ngành nghề ổn định cuộc sống từ đó ổn định chính trị - xã hội, góp phần giữ gìn an ninh chính trị trên địa bàn tỉnh.
Ngoài ra, tỉnh cũng triển khai thực hiện 30 mô hình ứng dụng, nhiệm vụ sự nghiệp KH&CN, trong đó 21 mô hình, nhiệm vụ sự nghiệp KH&CN chuyển tiếp qua từ năm 2018; 09 mô hình, nhiệm vụ sự nghiệp KH&CN triển khai mới năm 2019; nghiệm thu 14 mô hình, nhiệm vụ sự nghiệp KH&CN. Kết quả nhiều mô hình ứng dụng tiến bộ KH&CN đã mang lại hiệu quả kinh tế cao có khả năng phát triển và nhân rộng như: Điều tra, khảo sát sơ bộ hang động chưa được công bố tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng; phân lập và sản xuất giống nấm Rơm trên cơ chất rơm rạ; mô hình thử nghiệm khả năng sinh trưởng của Bò lai (BBB x lai Zebu) nuôi tại Quảng Bình. Đến nay, các mô hình đã được áp dụng vào thực tiễn sản xuất và mang lại hiệu quả thiết thực.
Có thể thấy, khoa học và công nghệ đã cung cấp các luận cứ khoa học phục vụ hoạch định các chủ trương, chính sách, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản; đào tạo, nâng cao trình độ nhân lực, chăm sóc sức khoẻ Nhân dân, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc; đẩy mạnh hoạt động du lịch, dịch vụ và các ngành nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh; đóng góp tích cực vào sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra được nhiều sản phẩm, hàng hóa có năng suất, chất lượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã - hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, hoạt động quản lý Nhà nước về KH&CN trong 02 năm qua vẫn còn một số hạn chế như: Năng lực KH&CN còn yếu, chưa đáp ứng kịp thời nhiều vấn đề của thực tiễn đổi mới, chưa gắn kết chặt chẽ và đáp ứng được yêu cầu của phát triển kinh tế - xã hội; thiếu mối liên kết chặt chẽ giữa giáo dục, đào tạo - nghiên cứu KH&CN - sản xuất, kinh doanh nên sản phẩm hoạt động nghiên cứu KH&CN chưa thực sự đi sâu vào thực tiễn đời sống sản xuất dẫn đến hiệu quả phát triển kinh tế còn thấp; nhiều doanh nghiệp chưa mạnh dạn đầu tư, nghiên cứu đổi mới công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm...
Để hoạt động KH&CN có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, tập trung nguồn lực cho nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thời gian tới, tỉnh tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu KH&CN; tập trung nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng và lợi thế cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, gắn nhiệm vụ phát triển KH&CN với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tăng cường năng lực nghiên cứu phát triển công nghệ, làm chủ công nghệ tiên tiến hiện đại, nhanh chóng nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm chủ yếu, của doanh nghiệp và cả nền kinh tế trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh đó, tỉnh cũng đẩy nhanh lộ trình đổi mới công nghệ theo hướng đi thẳng vào công nghệ hiện đại tiên tiến; chuyển giao, làm chủ những công nghệ mới nhằm tạo bước tăng trưởng mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế tỉnh, ưu tiên các ngành công nghiệp mũi nhọn, tạo hàng hóa xuất khẩu như chế biến cao su, tinh bột sắn, lương thực, súc sản, thuỷ hải sản, gỗ, sản xuất xi măng, bia và ngành nghề truyền thống; xây dựng năng lực công nghệ nội sinh trong các ngành trọng điểm, hỗ trợ nghiên cứu triển khai, cải tiến công nghệ, tạo ra sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh; phấn đấu đến năm 2020, trình độ và năng lực công nghệ của những ngành kinh tế ưu tiên của tỉnh đạt trung bình tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á...
N.Q
- 9 tháng năm 2019, kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực (20/09/2019)
- Những kết quả đạt được trong công tác giảm nghèo (18/09/2019)
- Vai trò của người có uy tín trong vận động đồng bào tham gia bảo đảm an ninh trật tự, bảo vệ đường biên cột mốc trên tuyến biên giới (18/09/2019)
- Phong trào phụ nữ vùng dân tộc từng bước được củng cố và phát triển (18/09/2019)
-
Hiệu quả từ công tác dân vận
(18/09/2019)
- Kết quả sau 10 năm phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (16/09/2019)
- Huyện Bố Trạch tập trung đẩy mạnh việc thực hiện công tác bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa truyền thống tại các địa phương (13/09/2019)
- Quảng Bình chú trọng, làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật (13/09/2019)
- Tăng cường hợp tác quốc tế về biển (11/09/2019)
- Biên giới, biển, đảo với vị trí, vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (10/09/2019)







