Bản tin cải cách hành chính ngày 06/3/2018

10:52, Thứ Tư, 7-3-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH. 1

1.  Chấm điểm 16 bộ về cắt giảm thủ tục. 1

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 3

2.  TPHCM: “Người dân, doanh nghiệp là thước đo bộ máy công quyền“. 3

3.  Quảng Nam: Chuyển sang "nền hành chính phục vụ" 4

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 4

4.  Cải cách kiểm tra chuyên ngành và cắt giảm điều kiện kinh doanh: Cần đi vào thực chất! 4

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH. 5

5.  Tài sản kê khai không trung thực: Tịch thu hay đánh thuế?. 5

6.  Phòng chống tham nhũng: Không thể nửa vời 6

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 8

7.  Đề án nhân tài đòi quá nhiều thủ tục. 8

8.  Chấm điểm thực chất 10

9.  Đối thoại kiến tạo. 11


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Chấm điểm 16 bộ về cắt giảm thủ tục

Tổ công tác của Thủ tướng vừa có báo cáo gửi Thủ tướng đánh giá việc triển khai cắt giảm thủ tục liên quan đến kiểm tra chuyên ngành và điều kiện kinh doanh tại 16 bộ.

Cụ thể, danh mục số mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành của Bộ Công Thương là 702, đã cắt giảm 402. Tổng số điều kiện kinh doanh của Bộ này là 1.215, đã cắt giảm 675.

Bộ Xây dựng được đánh giá là có nỗ lực lớn khi trong 280 điều kiện kinh doanh của Bộ Xây dựng, đã đề xuất bãi bỏ 89 điều kiện, đơn giản hóa 94 điều kiện.

Trong khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có 7.698 dòng hàng thuộc 251 nhóm sản phẩm phải kiểm tra chuyên ngành nhưng chưa đề xuất cắt giảm gì.

Tương tự, hai Bộ Tài nguyên và Môi trường, Giao thông Vận tải mỗi Bộ cũng chưa đề xuất cắt giảm gì đối với hàng trăm mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành do Bộ mình quản lý.

Danh mục số mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành của Bộ Y tế có 802 nhưng cũng mới chỉ cắt giảm được 7 loại sản phẩm; giảm 95 số lô hàng.

Bộ Y tế có tổng số điều kiện kinh doanh là 853 nhưng chưa nêu cụ thể phương án đề xuất cắt giảm các điều kiện kinh doanh này là bao nhiêu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo có 241 điều kiện kinh doanh, cần cắt bỏ 121 điều kiện nhưng Bộ này cũng chưa đề xuất gì...

Tổ công tác của Thủ tướng nhận xét, các bộ chưa đề xuất cụ thể cách thức quản lý đối với các danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành đang bị chồng chéo, chịu nhiều hình thức kiểm tra của nhiều bộ hoặc của nhiều cơ quan, đơn vị thuộc một bộ.

Tình trạng độc quyền trong hoạt động kiểm tra, đánh giá sự phù hợp chưa được khắc phục triệt để. Chi phí của thủ tục kiểm tra chuyên ngành vẫn là gánh nặng lớn đối với doanh nghiệp...

Về kết quả kiểm tra về điều kiện kinh doanh cho thấy hiện nay có 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh với 3.571 yêu cầu, điều kiện.

Tính trung bình, có khoảng hơn 14 yêu cầu, điều kiện áp dụng với mỗi ngành, nghề đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực khác nhau.

Các điều kiện kinh doanh được quy định tại 237 văn bản quy phạm pháp luật, gồm 66 luật, 3 pháp lệnh, 162 nghị định. Không ít ngành, nghề thuộc danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chưa thật sự đáp ứng tiêu chí quy định tại Luật Đầu tư 2014 về sự cần thiết phải quy định là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Một số điều kiện đầu tư kinh doanh đặt ra yêu cầu quá mức cần thiết để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước, tạo ra rào cản gia nhập thị trường, hạn chế cạnh tranh.

Nhiều điều kiện đầu tư kinh doanh được quy định chung chung, không rõ ràng, thiếu cụ thể, khó xác định, như: "phải phù hợp", "phải đủ", "phải sạch sẽ", "phải thoáng mát", "phải thuận tiện", "phải có đạo đức tốt", "phải có đủ sức khỏe", "phải có trình độ"...

Một số điều kiện đầu tư kinh doanh áp đặt phương thức kinh doanh cứng nhắc, can thiệp quá sâu vào quyền tự chủ tổ chức sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gây tác động bất lợi đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, như bắt buộc phải thành lập một loại hình doanh nghiệp cụ thể; yêu cầu kinh doanh theo một phương thức nhất định; phải phù hợp với quy hoạch ngành, sản phẩm; phải có mặt bằng, quy mô, công suất sản xuất, kinh doanh tối thiểu hoặc phải sử dụng một loại công nghệ nhất định...

Tổ công tác kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các bộ, cơ quan rà soát toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật, đề xuất bãi bỏ, sửa đổi những quy định chồng chéo, không đồng bộ, không hợp lý về kiểm tra chuyên ngành và điều kiện kinh doanh gây cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhằm bảo đảm cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, thủ tục kiểm tra chuyên ngành và điều kiện theo hướng xây dựng 1 Nghị định sửa nhiều Nghị định theo trình tự, thủ tục rút gọn, báo cáo Chính phủ trong quý 2 năm 2018.

Xây dựng lộ trình, phương án cắt giảm cụ thể và phải bảo đảm nguyên tắc việc cắt giảm, sửa đổi hoặc bãi bỏ phải thực chất, không cắt giảm, bãi bỏ hoặc sửa đổi theo kiểu cơ học thuần túy, gộp nhiều điều kiện vào 1 điều kiện; tuyệt đối không cắt giảm, bãi bỏ cái này lại bổ sung cái khác hoặc sửa đổi, cắt giảm theo kiểu thay đổi tên gọi.

Khẩn trương xây dựng phương án cắt giảm, bãi bỏ điều kiện kinh doanh, thủ tục hành chính không cần thiết, bất hợp lý, gây khó khăn, cản trở đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp... (Vneconomy.vn 5/3) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: “Người dân, doanh nghiệp là thước đo bộ máy công quyền“

“Thước đo của bộ máy công quyền là phục vụ cho người dân và doanh nghiệp (DN) một cách tốt nhất. Thi đua được đánh giá qua việc người dân và DN có hài lòng với công tác quản lý nhà nước và sự phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức hay không”.

Ông Nguyễn Thành Phong, Chủ tịch UBND TP.HCM, nhấn mạnh như vậy trong Hội nghị tổng kết phong trào thi đua yêu nước, công tác thi đua-khen thưởng năm 2017, triển khai phương hướng nhiệm vụ năm 2018 và trao tặng các hình thức khen thưởng cấp nhà nước diễn ra vào chiều 5-3.

Đánh giá lại những mặt đã làm được trong suốt năm 2017, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong nhận định các phong trào thi đua yêu nước đã giúp TP thực hiện có hiệu quả bảy giải pháp đột phá trong cải cách hành chính, kéo giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông, giảm ngập nước, bảo vệ môi trường và ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu, chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, hoạt động đối ngoại được triển khai hiệu quả và toàn diện...

Ông Phong còn nhấn mạnh rằng năm 2018 là năm đầu tiên TP.HCM thực hiện đề án tăng thu nhập cho cán bộ, công nhân, viên chức theo hiệu quả công việc. Ông nhận định đây là cơ hội mới để tạo động lực cho phong trào thi đua của toàn hệ thống chính trị TP, vừa là động lực cũng là thách thức với cán bộ, công chức, viên chức TP trong thời gian tới.

“Thước đo của bộ máy công quyền là phục vụ cho người dân và DN một cách tốt nhất, thi đua được đánh giá qua việc người dân và DN có hài lòng với công tác quản lý nhà nước và sự phục vụ của cán bộ, công chức hay không” - ông Phong nói.

Ông Phong cho biết UBND TP.HCM đã sớm trình đề án cho Thành ủy và HĐND TP.HCM về kế hoạch tăng thu nhập và đề nghị từng ngành, từng huyện, từng đơn vị chủ động vận dụng quyết định thu nhập tăng thêm trên tinh thần công khai, minh bạch, hiệu quả. (Pháp Luật TPHCM 6/3) Về đầu trang

Quảng Nam: Chuyển sang "nền hành chính phục vụ"

Cuối tháng 1, thành phố Tam Kỳ khai trương Trung tâm Hành chính công thành phố (tại số 159, Trưng Nữ Vương). Đây là trung tâm hành chính công cấp huyện thứ 3 của tỉnh (sau thành phố Hội An và thị xã Điện Bàn), hướng đến mục tiêu chuyển từ “nền hành chính quản lý” sang “nền hành chính phục vụ” người dân.

Ông Văn Anh Tuấn - Chủ tịch UBND thành phố Tam Kỳ cho rằng, việc thành lập Trung tâm Hành chính công thành phố sẽ góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, năng động, làm tốt nhiệm vụ phục vụ nhân dân, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong thời gian đến mục tiêu của thành phố là nâng tỷ lệ số lượng thủ tục hành chính của các cơ quan, đơn vị thực hiện tại trung tâm lên 70% cuối năm 2018 và đến năm 2019 đạt 100%; cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính so với quy định của Trung ương, tỉnh đạt tỷ lệ 30%. Đồng thời tăng số lượng thủ tục hành chính thực hiện quy trình 4 bước, gồm tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt, trả kết quả ngay tại trung tâm, đạt tỷ lệ 50% số thủ tục thực hiện. Ngoài ra, phấn đấu 50% thủ tục hành chính thực hiện tại trung tâm cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, trong đó 20% mức độ 4.

Theo ông Tuấn, lấy sự hài lòng của tổ chức, công dân làm thước đo thành công của cải cách hành chính, một trong những vấn đề quan trọng nhất là tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm việc tại trung tâm, tăng cường giáo dục đạo đức công vụ trong thực thi nhiệm vụ. Yêu cầu cán bộ trung tâm là những người phải có đủ năng lực, trình độ, kỹ năng làm việc cũng như tinh thần và ý thức, trách nhiệm phục vụ người dân. (Baoquangnam.com.vn 5/3) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cải cách kiểm tra chuyên ngành và cắt giảm điều kiện kinh doanh: Cần đi vào thực chất!

Trước tình trạng cải cách kiểm tra chuyên ngành xuất nhập khẩu (XNK) và cắt, giảm điều kiện kinh doanh theo tinh thần chỉ đạo của Chính phủ có dấu hiệu chậm chạp, Chính phủ đã yêu cầu các bộ cần khẩn trương, làm thực chất và hiệu quả. 

Tinh thần chỉ đạo của Chính phủ về cải cách kiểm tra chuyên ngành hàng hóa XNK năm 2018 là cắt, giảm 50% số mặt hàng và 50% thủ tục kiểm tra. Tại cuộc họp mới đây kiểm tra 16 Bộ về thực hiện nhiệm vụ theo chỉ đạo của Chính phủ và của Thủ tướng về vấn đề này, Tổ công tác của Thủ tướng cho biết: Bộ Y tế có nhiều mặt hàng kiểm tra chuyên ngành nhất (802 mặt hàng), đến nay, đã cắt, giảm được ở lĩnh vực an toàn thực phẩm. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có 128 mặt hàng và 37 bộ thủ tục hành chính cần đề xuất cắt, giảm chưa thực hiện; số mặt hàng cần đề xuất cắt, giảm nhưng chưa thực hiện ở Bộ Tài nguyên và Môi trường là 55; Bộ Giao thông vận tải là 64…

Ngoài kiểm tra chuyên ngành, có 3.571 điều kiện kinh doanh thuộc 243 ngành nghề quy định tại 237 văn bản pháp luật do 13 Bộ quản lý cần đề xuất cắt, giảm 50% những điều kiện không cần thiết gây phiền hà, khó khăn cho doanh nghiệp (DN). Bộ Công Thương đã tiên phong cắt, giảm 675 điều kiện (trên 50%) thuộc phạm vi chức năng quản lý; các Bộ khác cần đề xuất cắt, giảm điều kiện kinh doanh trong năm 2018 gồm: Bộ Y tế (quản lý 853 điều kiện), Bộ Giao thông vận tải (498 điều kiện), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (345 điều kiện), Bộ Tài chính (447 điều kiện), Bộ Xây dựng (280 điều kiện), Bộ Thông tin và Truyền thông (250 điều kiện), Bộ Giáo dục và Đào tạo (241 điều kiện)…

Theo đánh giá của Tổ công tác của Thủ tướng, cải cách môi trường kinh doanh trong thời gian qua đã có những kết quả tích cực, các Bộ đã cam kết tự cải cách, niềm tin của DN ngày càng tăng. Tuy nhiên, cam kết của các Bộ cần có sự nỗ lực, quyết liệt và cầu thị thực hiện. Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung - Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) - nhận xét: Kết quả cải cách kiểm tra chuyên ngành, cắt, giảm điều kiện kinh doanh đạt được ở cấp Bộ còn chưa đồng đều, có nơi làm tốt, có nơi mới chỉ dừng lại ở mức có phương án. Bộ nào lãnh đạo chủ chốt chỉ đạo sát sao, quyết liệt thì ở đó có kết quả tốt, chuyển biến nhanh và ngược lại, vẫn còn có biểu hiện chần chừ, thậm chí thực hiện kiểu "đối phó".

Chính phủ đặt mục tiêu năm 2018 cắt, giảm 50% thủ tục kiểm tra chuyên ngành và điều kiện kinh doanh. Thực hiện quyết liệt và nhanh như ở Bộ Công Thương từ lúc khởi động (năm 2017) đến khi ra được Nghị định chính thức để cắt, giảm cũng đã mất khoảng 4 - 5 tháng. Do vậy, tiến sĩ Nguyễn Đình Cung lo ngại, nếu các Bộ không quyết liệt, khẩn trương, mục tiêu đặt ra sẽ rất khó hoàn thành.

Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng - Tổ trưởng Tổ công tác của Thủ tướng - nhận xét: Chuyển động cải cách kiểm tra chuyên ngành và cắt, giảm điều kiện kinh doanh được DN đánh giá cao, song việc cải cách của các Bộ cần phải đi vào chiều sâu để thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng kinh tế. Cần khẩn trương đưa ra phương án cắt, giảm điều kiện kinh doanh cụ thể, rõ ràng cho từng vấn đề; kiểm tra chuyên ngành phải đổi mới mạnh mẽ sang áp dụng phương thức quản lý rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, công khai hóa các tiêu chuẩn, quy chuẩn và không được biến tiêu chuẩn, quy chuẩn thành điều kiện kinh doanh... (Báo Công Thương Điện Tử 6/3) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tài sản kê khai không trung thực: Tịch thu hay đánh thuế?

Ngày 5/3, Ủy ban Tư pháp họp phiên toàn thể lần thứ tám, cho ý kiến về dự thảo Luật Phòng chống tham nhũng sửa đổi.

Báo cáo giải trình, Tổng Thanh tra Chính phủ Lê Minh Khái cho hay, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội, dự thảo luật đã bổ sung điều 59, quy định về xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, tài sản, thu nhập tăng thêm không được giải trình một cách hợp lý.

Theo đó, qua xác minh, nếu kết luận tài sản, thu nhập thực tế lớn hơn tài sản, thu thập đã kê khai hoặc việc giải trình về tài sản, thu nhập tăng thêm không hợp lý thì cơ quan thuế sẽ xem xét thực hiện việc truy thu thuế thu nhập cá nhân với thuế suất lên tới 45%. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện ra Tòa án.

Theo nhóm nghiên cứu của Ủy ban Tư pháp, hiện nay chưa có quy định xử lý tài sản mà người sở hữu có được một cách bất thường, không giải trình được hoặc giải trình không hợp lý về nguồn gốc hợp pháp. Trong khi đây là những tài sản tiềm ẩn nguy cơ có nguồn gốc từ tham nhũng, vi phạm pháp luật. Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Mạnh Cường cho hay, với cách thức xử lý cụ thể về tài sản, thu nhập không giải trình được, nhóm nghiên cứu có hai loại ý kiến.

Loại thứ nhất, nhiều ý kiến tán thành với quan điểm xử lý thông qua thuế thu nhập cá nhân với mức thuế suất 45%. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, có thể áp dụng chế tài xử phạt của nhà nước theo hướng tài sản này sẽ bị tịch thu một phần.

Đại biểu Quốc hội Trương Trọng Nghĩa đề nghị, dự thảo luật nên có định nghĩa thế nào là kê khai không trung thực. Kê thiếu hay không kê, có cố tình hay vô ý? “Chuyện kê khai tài sản muốn trung thực đối với nhiều quan chức cũng rất khó, vì tài sản của họ rất nhiều, nên phải chia ra, định nghĩa cho rõ”, ông Nghĩa bày tỏ. Không đồng tình phương án truy thu từ thuế, ông Nghĩa đề nghị tài sản không giải trình được thì phải thu hồi.

Cùng quan điểm, theo Viện trưởng Viện Lập pháp Nguyễn Đình Quyền, không thể xử lý bằng thuế được. Bởi như thế sẽ vi phạm các quy định của luật khác, trong đó có Luật Phòng, chống rửa tiền. Vấn đề thu hồi tài sản của một cá nhân, tổ chức nào đó phải qua con đường tư pháp. Đó là con đường duy nhất hợp hiến và hợp pháp. “Cần quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp không chứng minh được nguồn gốc của tài sản là hành vi tội phạm và do tòa án phán xử”, ông Quyền nhấn mạnh. (Tiền Phong 6/3, Thành Nam) Về đầu trang

Phòng chống tham nhũng: Không thể nửa vời

Một đề xuất đáng chú ý đã được cơ quan soạn thảo dự án Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đưa ra trong bản dự thảo mới nhất được Ủy ban Tư pháp thẩm tra hôm qua, 5.3. Theo đó, tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không kê khai; tài sản, thu nhập biến động mà không được giải trình một cách hợp lý sẽ được xử lý thông qua việc truy thu thuế thu nhập cá nhân, coi đây như là khoản thu nhập vãng lai phát sinh mà người kê khai hoặc vợ/chồng, con chưa thành niên của người kê khai phải nộp theo quy định.

Trước đó, trong quá trình soạn thảo, lấy ý kiến về dự án Luật, đã có nhiều ý kiến đề nghị phải quy định cơ chế xử lý sớm tài sản tham nhũng, bao gồm cả việc xử lý tài sản, thu nhập kê khai không trung thực hoặc tài sản, thu nhập tăng thêm không được giải trình một cách hợp lý. Nhưng dự thảo Luật trình Quốc hội vẫn chỉ quy định việc xử lý người kê khai không đúng, còn việc xử lý tài sản, thu nhập không giải trình được nguồn gốc hợp pháp vẫn hoàn toàn để ngỏ.

Theo Ban soạn thảo, quy định như vậy là để phù hợp với nguyên tắc trách nhiệm chứng minh thuộc về Nhà nước của pháp luật tố tụng hình sự. Ở đây là, Nhà nước có trách nhiệm phải chứng minh được tài sản, thu nhập có nguồn gốc bất minh, bất hợp pháp, nếu không chứng minh được thì Nhà nước không thể “chạm tay” vào tài sản, thu nhập đó. Đó cũng là kẽ hở pháp lý khiến cho nhiều quan chức, cựu quan chức say sưa “sáng tác” ra những câu chuyện bi hài về nguồn gốc của các khối tài sản “khủng” như nhờ nuôi lợn, chăn gà, đi xe ôm, buôn chổi đót, lao động cật lực thời trẻ hay đi vay bạn bè… “Chúng ta bị tắc ngay ở chỗ này, vì với điều kiện hiện nay, không một cơ quan nhà nước nào có thể kiểm soát được đường đi lắt léo, tinh vi của các tài sản, thu nhập bất minh hay do tham nhũng mà có”, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp Nguyễn Đình Quyền khẳng định.

Để phá vỡ tình thế bế tắc này, mở đường cho việc xử lý và thu hồi có hiệu quả hơn tài sản tham nhũng, ngay tại Kỳ họp thứ Tư, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị, phải thiết lập được một cơ chế đặc biệt, vượt lên trên khuôn khổ pháp lý thông thường. Nhiều nội dung cụ thể của cơ chế này đã được các đại biểu Quốc hội đưa ra như: Người thuộc diện kê khai tài sản, thu nhập có trách nhiệm phải giải trình về nguồn gốc hợp pháp của tài sản, thu nhập tăng thêm, không được kê khai hoặc kê khai không trung thực. Quyền tài sản chỉ được bảo vệ theo đúng tinh thần của Hiến pháp khi đó là tài sản hợp pháp. Nếu người thuộc diện kê khai không chứng minh được tài sản, thu nhập của mình có nguồn gốc hợp pháp thì Nhà nước có quyền áp dụng các biện pháp xử lý tùy theo mức độ vi phạm.

Việc luật hóa một cơ chế như vậy sẽ đem lại ít nhất là 3 “lợi ích kỳ vọng”: Khắc phục được khoảng trống pháp lý; sớm khoanh vùng, nhận diện tài sản, thu nhập bất minh, tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng; củng cố lòng tin của người dân vào hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, niềm tin vào sự công khai, minh bạch và trong sạch của bộ máy công quyền.

Với đề xuất kể trên, dự thảo Luật đã tiến thêm được một bước so với dự thảo Luật trình QH nửa năm trước. Nhưng việc quy định chung một hình thức xử lý cho tất cả các trường hợp kê khai không trung thực, tài sản, thu nhập tăng thêm không được giải trình một cách hợp lý có phù hợp không? Việc xem tài sản, thu nhập kê khai không trung thực, không kê khai và tài sản, thu nhập biến động không được giải trình một cách hợp lý như là khoản thu nhập vãng lai phát sinh mà người kê khai hoặc vợ/chồng, con chưa thành niên của người kê khai phải nộp theo quy định, có dẫn đến sự lẫn lộn, nhập nhèm về nguồn gốc của tài sản, thu nhập hay không? Và như vậy, có dẫn đến việc áp dụng luật một cách tùy nghi không?

Một cơ chế để xử lý có hiệu quả tài sản, thu nhập tăng thêm, không được kê khai hoặc kê khai không trung thực mà không giải trình được nguồn gốc hợp pháp là vấn đề mới, khó và phức tạp. Việc luật hóa cơ chế này không thể chậm trễ hơn.

Những “lợi ích kỳ vọng” kể trên có thành hiện thực không hay sẽ lại nửa vời, như một số cơ chế của Luật Phòng, chống tham nhũng hiện hành? Đó là đòi hỏi của cử tri và nhân dân, đồng thời cũng là thách thức đối với việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế này trong hai kỳ họp tới của Quốc hội. (Đại Biểu Nhân Dân 6/3, tr1+2) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Đề án nhân tài đòi quá nhiều thủ tục

Hội nghị phản biện dự thảo đề án thu hút chuyên gia, nhà khoa học và lao động sáng tạo trẻ về công tác ở các sở, ban, ngành, các khu công nghệ cao của TP giai đoạn 2018-2022 do Ủy ban MTTQ TP HCM tổ chức ngày 5-3 đã thu hút 18 ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự.

"TP đang trải thảm đỏ đón nhân tài nhưng coi chừng dưới thảm có đinh" – Giáo sư – Tiến sĩ (GS-TS) Nguyễn Ngọc Giao, Chủ tịch Hội Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật TP, mở đầu hội nghị bằng một cảnh báo thẳng thắn như vậy. Dẫn chứng, GS-TS Giao nói thủ tục là những chiếc đinh lớn. Một chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài đọc đề án này xong người ta cũng ngại vì phải thực hiện nhiều thủ tục quá, đáp ứng nhiều điều kiện quá mới được tuyển chọn, trong khi chúng ta nói là thu hút nhân tài.

Đồng quan điểm, GS-TS Phan Thị Tươi, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Bách khoa, nói: "Nếu là tôi thì tôi cũng không làm đơn xin thi 2 vòng ứng tuyển". Theo dự thảo đề án, các ứng viên phải làm hồ sơ dự tuyển, trải qua quy trình 2 vòng tuyển chọn là sơ tuyển và sát hạch.

PGS-TS Trần Hoàng Ngân, Giám đốc Học viện Cán bộ TP, cho biết khoản 3, điều 6 trong Nghị quyết 54 có 2 nội dung chính. Đó là HĐND TP có quyền quyết chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức và quy định mức thu nhập cho các chuyên gia, nhà khoa học tài năng của TP. Theo PGS-TS Ngân, trước đây cơ chế này bị ràng buộc, bị dính các khung. Khi một nhà khoa học lên báo cáo đề tài thì buộc ký rất nhiều. Do đó, có Nghị quyết 54 khi thực hiện phải tinh gọn những thủ tục ấy. Như thế mới thu hút được người tài về làm việc cho TP.

Giám đốc Học viện Cán bộ TP nói tài chính cũng cần nhưng người làm khoa học cần nhất là môi trường làm việc. Vì vậy, bên cạnh chế độ đãi ngộ xứng đáng, TP cần tạo một cơ chế và môi trường làm việc thuận lợi để các nhà khoa học được tự do sáng tạo, tự do cống hiến.

Vấn đề làm sao áp dụng chính sách lương cao, nhiều đãi ngộ sao cho công bằng cũng được các đại biểu đưa ra phản biện. GS-TS Giao cho rằng không nên phân biệt nhà khoa học trong nước và ngoài nước. "Hai nhà khoa học cùng làm trong một cơ quan, một công việc nhưng lương khác nhau thì không ổn. Họ phải được đối xử như nhau, người làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít. Chỉ nên khác là hỗ trợ cho nhà khoa học nước ngoài về ăn ở, đi lại" - GS-TS Giao kiến nghị.

TS Trương Minh Huy Vũ, Đại học Quốc gia TP HCM, lấy ví dụ: "Hai người cùng làm trong một đơn vị. Một anh được đào tạo theo chương trình 300, chương trình 500 thạc sĩ - tiến sĩ của TP nhưng lương chỉ 5 triệu đồng. Một anh được thu hút theo đề án này thì lương có thể tới 150 triệu đồng. Sự chênh lệch như thế là quá cao". TS Vũ gợi ý có thể hỗ trợ bằng cách khác trong đời sống sinh hoạt hằng ngày chứ không nhất thiết phải là lương.

Cũng góp ý về lương cho nhân tài được thu hút, GS-TS Phan Thị Tươi nói đề án quy định tiền lương hằng tháng cho 2 nhóm chuyên gia đầu ngành và lao động sáng tạo trẻ. Hai nhóm này được tính lương hệ số 9,4 và 8,8; tính ra hơn kém nhau chưa tới 1 triệu đồng. Theo bà, một chuyên gia và một người xuất sắc mới ra trường mà lương cách nhau như vậy là rất khó chấp nhận.

Chủ tịch Hội Luật gia TP Võ Thị Kim Hồng đặt vấn đề: "Cán bộ, công chức, viên chức đang làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập không thuộc đối tượng đề án nhưng họ cũng có nhiều công trình nghiên cứu, sáng tạo hiệu quả, đủ tiêu chuẩn theo đề án thì tính sao? Nếu họ không được chế độ đãi ngộ tương xứng thì tài năng sẽ bị thui chột".

Nói rõ thêm, GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn lưu ý một trong những mục tiêu của đề án là thu hút đội ngũ lao động sáng tạo trẻ về làm tại các đơn vị, cơ quan nhà nước thì họ sẽ làm chung với cán bộ, công chức đương nhiệm. Làm cùng nhau, cùng một công việc mà lương chênh lệch thì chưa chắc tốt, nhiều khi còn tác dụng ngược.

Hầu hết các ý kiến tại hội nghị đều cho rằng dự thảo đề án nặng tính hành chính, chưa có sự tách biệt rạch ròi giữa hai nhóm đối tượng là các chuyên gia, nhà khoa học và lao động sáng tạo trẻ về làm công chức viên chức trong các cơ quan nhà nước. "Tôi thấy đây là đề án tuyển chọn cán bộ chứ không phải đề án thu hút nhân tài" - GS-TS Nguyễn Ngọc Giao nhìn nhận.

Bà Võ Thị Kim Hồng kiến nghị đề án nên viết thành 2 phần riêng biệt cho 2 nhóm đối tượng trên bởi 2 nhóm đối tượng là hoàn toàn khác nhau, đóng góp chất xám cũng khác nhau. Đối với lao động sáng tạo trẻ thì phải cân đối với đội ngũ cán bộ, công chức tại đơn vị đó.

Ngoài ra, các đại biểu cũng đề nghị phải tin tưởng giao cho người đứng đầu các đơn vị trong việc tuyển chọn, không nhất thiết chủ tịch UBND TP phải đứng ra làm chủ tịch hội đồng tuyển dụng trong mọi trường hợp. TP chỉ nên đề ra khung về mặt tiêu chí, quy trình thẩm định, còn lại giao cho cơ sở, vừa nhẹ cho TP vừa tăng tính chủ động, tự chủ cho cơ sở. Nếu cơ sở làm sai thì đưa thủ trưởng cơ sở đó ra "trị"! (Người Lao Động 6/3, tr6)Về đầu trang

Chấm điểm thực chất

Thanh tra Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 63/QĐ - TTCP về việc Phê duyệt Bộ chỉ số đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng đối với UBND cấp tỉnh năm 2017. Với thang điểm 100 và 4 nội dung đánh giá: Quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng; Kết quả thực hiện các biện pháp phòng ngừa; Phát hiện các hành vi tham nhũng và Xử lý các hành vi tham nhũng, không ít người kỳ vọng, Bộ chỉ số này sẽ thực sự trở thành công cụ đo lường hiệu quả, phản ánh đúng thực trạng tại các địa phương.

Không phải tới bây giờ, Bộ chỉ số đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng tại địa phương mới được đề cập tới. Năm 2016, cũng có Bộ chỉ số được thí điểm cùng với phương pháp đánh giá dựa trên bằng chứng, chỉ tiêu cụ thể - một sự thay đổi rất tiến bộ so với các phương pháp đánh giá về phòng, chống tham nhũng trước đây đã được áp dụng. Kết quả là điểm số trung bình của cả nước đạt 58,34/100 điểm, địa phương đạt điểm cao nhất là tỉnh Lào Cai với 77,67 điểm và địa phương có điểm thấp nhất là Vĩnh Long với 43,53 điểm. 31 địa phương có điểm số thấp hơn điểm số trung bình trên toàn quốc. Đáng nói là kết quả này cũng tương đồng với kết quả các bộ chỉ số khác có nội dung lên quan công tác phòng, chống tham nhũng nói chung như: Chỉ số cải cách hành chính, Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay Chỉ số Hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh.

Với những nội dung đánh giá rất cụ thể nêu trên, nhiều chuyên gia cho rằng, sẽ không còn tình trạng nhiều địa phương lúng túng như năm đầu thực hiện và “biện minh” rằng bộ chỉ số nhiều, phức tạp, liên quan đến nhiều đơn vị, thời gian thực hiện ngắn nên việc triển khai còn chậm, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị liên quan trong đánh giá, tự đánh giá và tổng hợp điểm số. Bởi thực tế, kết quả đánh giá năm ngoái đã chỉ ra có sự chênh lệnh giữa báo cáo của Thanh tra Chính phủ với đánh giá của UBND cấp tỉnh. Yêu cầu then chốt khi đánh giá là phải có bằng chứng, nhưng khi Thanh tra Chính phủ đối chiếu thì các địa phương không đưa ra được chứng cứ thỏa đáng. Một trong những nguyên nhân đầu tiên chính là nhận thức trong đánh giá chưa chính xác và cũng không loại trừ “bệnh thành tích” khi ghi nhận kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng của chính địa phương mình.

Vậy mới có chuyện kê khai tài sản thu nhập, năm 2015, trên 564.000 cán bộ ở cấp tỉnh phải kê khai, nhưng các địa phương không phát hiện trường hợp nào kê khai không trung thực. Hay việc kiểm tra thực hiện các quy định về nộp lại quà tặng và tặng quà, quá trình thanh tra, kiểm tra cũng không phát hiện sai phạm. Cả nước có duy nhất một địa phương phát hiện có đơn vị sai phạm trong việc trích tiền ngân sách mua quà tặng trị giá 1,2 triệu đồng. Trong khi Bộ chỉ số không đặt ra cứ phải vụ án hình sự mới là vụ việc, mà ngay cả hành vi tham nhũng bị xử lý hành chính cũng cần được thống kê, thế nhưng rút cục có địa phương thậm chí không phát hiện vụ việc nào.

So với năm đầu thực hiện, nhiều người kỳ vọng, năm nay, việc đo lường bằng điểm số, định lượng với những bằng chứng cụ thể, sẽ cho thấy được bức tranh toàn cảnh hơn về công tác phòng, chống tham nhũng tại từng địa phương. Tuy nhiên, muốn đánh giá thực chất cần phải có những giải pháp tổng thể bắt đầu từ khâu rà soát, phát hiện điểm mạnh, điểm yếu ở địa phương, từng bước khắc phục hạn chế, giúp công tác phòng, chống tham nhũng đi vào thực chất và hiệu quả hơn.

Chấm điểm là một chuyện, sau chấm điểm sẽ ra sao cũng là câu hỏi được đặt ra, bởi không thể chấm điểm rồi đâu lại hoàn đấy. Công tác phòng, chống tham nhũng ở cấp tỉnh có vai trò quan trọng trong việc xây dựng một nền quản trị liêm chính. Do vậy, việc đo lường phải cho thấy hiệu quả thiết thực trong công tác quản lý nhà nước, làm căn cứ để đánh giá tư cách, năng lực của lãnh đạo như Chỉ thị 50 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng đã đề ra. (Đại Biểu Nhân Dân 6/3, tr2) Về đầu trang

Đối thoại kiến tạo

Cho dù kết quả của cuộc đối thoại chính sách giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp ngành ô tô diễn ra vừa qua còn phải đợi các cuộc họp phân tích chuyên sâu, nhưng xu hướng chắc chắn sẽ tốt lên theo nghĩa tích cực nhất.

Các doanh nghiệp đã thoải mái vì được nói ra những ấm ức, những nghi ngờ về khoảng mờ chính sách, được giãi bày những thực tiễn kinh doanh, cả khó khăn, thuận lợi và những phi lý mà họ đang phải đối mặt.

Các cơ quan quản lý nhà nước có cơ hội chia sẻ những nhu cầu quản lý nhà nước, yêu cầu của nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi; lý giải sự lựa chọn chính sách trong bài toán tổng thể kinh tế - xã hội.

Điều quan trọng là, thông điệp tạo dựng môi trường chính sách thuận lợi, bình đẳng, cạnh tranh, giảm chi phí cho doanh nghiệp thêm một lần nữa được Tổ công tác của Thủ tướng xác định là kim chỉ nam cho các cuộc làm việc xem xét, nghiên cứu kiến nghị của doanh nghiệp trong cuộc đối thoại trong nội bộ cơ quan quản lý nhà nước.

Tư duy dựng rào cản hành chính vốn ăn sâu, bén rễ trong nhiều thế hệ công chức, các nhà hoạch định chính sách tiếp tục nhận thêm những phản biện đầy sức nặng từ cả thị trường lẫn đòi hỏi nội tại.

Các doanh nghiệp sẽ an tâm với các kế hoạch kinh doanh khi biết chắc chắn rằng, các vấn đề của doanh nghiệp, doanh nhân sẽ được cân nhắc với tinh thần của Chính phủ kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo và hiệu quả - thông điệp 10 chữ mà Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi tới bộ máy trong năm 2018.

Có lẽ cũng phải nhắc tới kế hoạch làm việc tới đây về việc cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh giữa Tổ công tác của Thủ tướng với các bộ Công an, Quốc phòng, Tư pháp, Công thương, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Giao thông - Vận tải, Xây dựng, Khoa học và Công nghệ, Lao động - Thương binh và Xã hội, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Tài nguyên và Môi trường, Thông tin và Truyền thông, Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ ngày 28/2.

Đây là phần việc mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ưu tiên trong năm nay, khi đặt mục tiêu đưa Việt Nam vào nhóm ASEAN-4 về năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh trong Nghị quyết 01, trong đó bảo đảm cắt giảm, đơn giản hóa 50% danh mục hàng hóa, sản phẩm và thủ tục kiểm tra chuyên ngành, cắt giảm, đơn giản hóa 50% điều kiện đầu tư, kinh doanh.

Chuẩn bị cho các cuộc làm việc này, các bộ, ngành được yêu cầu rà soát, đề xuất cụ thể phương án cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu cũng như các phương án cắt giảm, bãi bỏ điều kiện kinh doanh không cần thiết, bất hợp lý theo hướng vừa bảo đảm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vừa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, nhất là với những ngành nghề đặc thù.

Nhưng có lẽ cũng cần thêm các cuộc đối thoại với doanh nghiệp từng ngành, lĩnh vực, để mọi việc đều được đặt lên bàn.

Sẽ không thể có một phương án tuyệt đối, một chính sách dung hòa mọi lợi ích, nhưng khi các đối tượng chịu tác động sẵn sàng cùng ngồi bàn thảo, cân nhắc các khía cạnh, các quyết định chính sách sẽ trở nên rõ ràng, minh bạch, xác thực và dễ chấp nhận ngay cả với những nhóm có thể sẽ phải chia sẻ lợi ích trước mắt. (Đầu Tư 6/3, Bảo Duy)Về đầu trang./.

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.050.435 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này