Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 21/5/2018
1. Chính phủ chỉ đạo sắm xe công phải “triệt để tiết kiệm”
2. Tăng áp lực cải cách từ trên xuống
3. TPHCM: Thủ tục cấp giấy chứng nhận có tỷ lệ hài lòng kém nhất
4. Sở “mềm” hay “cứng” là do đặc thù công việc
5. Thay thế kịp thời các cán bộ yếu kém, sai phạm
6. Cán bộ, công chức tương tác trên mạng xã hội theo nguyên tắc lành mạnh
7. Phải có cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập cán bộ
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Tìm sự đồng thuận từ đối thoại
9. Bộ máy cồng kềnh mơ nền công vụ 4.0
10. Kết nối điện tử kiểu “nửa vời”
11. Quan tham tỉnh nghèo gây kinh động lãnh đạo Trung Quốc
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Chính phủ chỉ đạo sắm xe công phải “triệt để tiết kiệm”
Tại báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2017 gửi đến Quốc hội, Chính phủ cho biết, một trong những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tài sản công là khuyến khích các cơ quan, tổ chức, đơn vị áp dụng cơ chế khoán kinh phí sử dụng xe ô tô hoặc thuê xe ô tô để phục vụ công tác.
"Việc mua sắm mới xe ô tô và trang thiết bị đắt tiền của các bộ, ngành trung ương và địa phương theo tinh thần triệt để, tiết kiệm", Chính phủ khẳng định.
Theo báo cáo của Chính phủ, Chính phủ ban hành Nghị định quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô và Nghị định quy định về tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô tại đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương thực hiện rà soát, sắp xếp lại xe ô tô hiện có của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc phạm vi quản lý;
Đồng thời, chuyển đổi công năng sử dụng xe ô tô, điều chuyển xe ô tô từ nơi thừa sang nơi thiếu so với tiêu chuẩn, định mức, bảo đảm hiệu quả sử dụng tài sản công theo quy định.
Trường hợp còn thiếu xe ô tô theo tiêu chuẩn, định mức mà không có xe ô tô phù hợp để điều chuyển thì Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan trung ương, cơ quan, người có thẩm quyền theo phân cấp của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trung ương, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc mua xe ô tô trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 được giao và nguồn kinh phí được phép sử dụng theo quy định của pháp luật.
"Không sử dụng vốn vay nước ngoài trong khuôn khổ các chương trình dự án sử dụng vốn vay ODA, vốn vay ưu đãi, vay thương mại để mua xe ô tô công", báo cáo nêu rõ.
Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2017, số xe ô tô công tăng do mua mới, tiếp nhận là 2.604 chiếc với tổng nguyên giá 2.265,17 tỷ đồng. Trong đó: khối Trung ương tăng 1.118 chiếc với tổng nguyên giá 1.175,53 tỷ đồng; khối Địa phương tăng 1.486 chiếc với tổng nguyên giá 1.089,64 tỷ đồng.
Trong tổng số 2.604 xe ô tô công tăng của năm 2017 thì có 1.523 xe tăng do tiếp nhận, điều chuyển giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị với tổng nguyên giá là 1.234,32 tỷ đồng; mua mới là 1.081 xe với tổng nguyên giá là 1.030,85 tỷ đồng (trong đó: xe phục vụ chức danh 22 xe; xe phục vụ công tác chung 366 xe; xe chuyên dùng 693 xe).
Tổng số xe ô tô công hiện có 39.425 chiếc với tổng nguyên giá 25.554,21 tỷ đồng chiếm 2,21% tổng giá trị tài sản nhà nước, tổng giá trị còn lại 8.613,91 tỷ đồng.
Báo cáo Chính phủ cũng cho biết, trong thời gian qua, các Bộ, ngành, địa phương đã khẩn trương rà soát và xử lý các xe ô tô dôi dư đang quản lý; tiếp tục thực hiện rà soát, sắp xếp xe ô tô phục vụ công tác chung theo đúng định mức, tiêu chuẩn (từ 01 - 02 xe/đơn vị).
Bộ Tài chính đã có văn bản đề nghị các Bộ, ngành, địa phương chỉ đạo đấu giá xe ô tô thanh lý theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Bộ Tài chính đã có văn bản đề nghị các Bộ, ngành, địa phương báo cáo tình hình tiếp nhận, sử dụng xe ô tô do doanh nghiệp biếu, tặng, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Sau khi Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, Bộ Tài chính đã có văn bản hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương thực hiện xử lý và yêu cầu kiểm điểm, rút kinh nghiệm trong việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng xe ô tô biếu, tặng không đúng quy định.
Tiếp đó, trong năm 2017, chính sách khoán xe công đã được nhân rộng và được triển khai thí điểm tại một số Bộ, ngành, địa phương bước đầu có kết quả như:
Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ, Bộ Thông tin và truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Lai Châu, Thái Nguyên, Hải Dương, Hưng Yên, Phú Yên, Lâm Đồng.... (Đầu Tư Chứng Khoán 21/5)Về đầu trang
Tăng áp lực cải cách từ trên xuống
Nghị quyết (NQ) số 19-2018/NQ-CP vừa ban hành được kỳ vọng sẽ làm tăng áp lực lớn cho các bộ, ngành, địa phương phải tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh hơn nữa.
Chia sẻ tinh thần mới của NQ số 19-2018/NQ-CP, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương cho biết, một trong những điểm trọng tâm là bãi bỏ, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh với mục tiêu là hoàn thành việc bãi bỏ hơn một nửa điều kiện kinh doanh. Mục tiêu này tưởng dễ dàng nhưng qua thực hiện cho thấy là rất khó. Nay đã gần bước sang tháng 6, nhưng chỉ mới có Bộ Công Thương bãi bỏ 600 điều kiện kinh doanh. Các bộ đang xếp hàng trình Chính phủ các nghị định. Tốc độ tương đối chậm. Còn về nội dung, liệu các bộ có thực sự bãi bỏ không, hay chỉ là hình thức, vẫn là vấn đề đáng bàn. Do đó, Chính phủ tiếp tục tạo áp lực lớn cho các bộ trưởng, đặc biệt là về mặt thời gian.
Trọng tâm thứ hai là thuận lợi hóa thương mại, quản lý các hoạt động chuyên ngành xuất nhập khẩu. Nền kinh tế chúng ta đang mở, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2017 đạt hơn 400 tỷ USD. Nếu tạo thuận lợi thương mại sẽ giảm được chi phí rất lớn.
Mục tiêu của Nghị quyết lần này là phải giảm được tỷ lệ kiểm tra trước thông quan từ 30% xuống còn 10%. Theo ông Cung, đây là tham vọng rất lớn. Để làm được điều đó thì phải cắt bỏ đi hơn một nửa danh mục hàng hóa, chứ không phải là nhóm hàng hóa thuộc quản lý chuyên ngành xuất nhập khẩu.
Tiếp đó là kết nối được một cổng quốc gia về thủ tục thông quan. Hiện số được kết nối rất ít so với thủ tục đang làm, không đầy 20%, nhưng kết nối một cách thực chất chỉ có một thủ tục, đó là khai báo hóa chất. Còn lại tưởng rằng đã kết nối, nhưng lại vừa làm điện tử, vừa làm thủ công trên giấy. Như vậy, thay vì giảm chi phí cho doanh nghiệp (DN) thì lại tăng thêm chi phí cho họ, vì vừa phải làm cái này, vừa phải tuân thủ cái kia.
Dường như, các cơ quan nhà nước đang ngập ngừng trong việc triển khai thực hiện cải cách lĩnh vực này. Chừng nào vẫn còn dở dang ở mức độ 3 và 4 như hiện nay thì không có áp lực để cải cách. Do đó, lần này bắt buộc phải kết nối dịch vụ công ở mức độ 4, nghĩa là hoàn toàn thông quan điện tử, bỏ các hồ sơ bằng giấy. Có ép buộc như vậy mới hy vọng cải cách thực chất. Cần phải điện tử hóa, số hóa các thủ tục hành chính, dịch vụ công nói chung và quản lý chấp hành nói riêng.
Đối với việc thực thi, ông Nguyễn Đình Cung cho biết, Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP đặc biệt nhấn mạnh tới các địa phương. Nếu như ở các NQ trước, đối tượng này được đề cập khá mờ nhạt, thì lần này đã có những chỉ dẫn tốt hơn cho các địa phương để gắn việc thực hiện NQ với việc thực hiện cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Trong đó, thúc đẩy đánh giá năng lực cạnh tranh đến các cấp quận/huyện, sở, ban, ngành. Hy vọng, với cách làm đó, trên nóng, giữa ấm, chứ không phải là “trên nóng, dưới nóng, giữa lạnh” như Thủ tướng từng chỉ trích. Và NQ sẽ tạo ra một công cụ “đốt nóng” từ trên xuống dưới, đặc biệt là bộ phận trung gian.
Cùng với áp lực hành chính mạnh mẽ này, ông Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh, vai trò của cơ quan giám sát độc lập, DN và báo chí ngày càng quan trọng hơn, tạo sức ép cho các bộ trưởng, chủ tịch UBND tỉnh, thành phố phải luôn luôn “nóng”, từ đó người đứng đầu phải thúc đẩy xuống các cấp dưới, làm “nóng” cả hệ thống.
Chia sẻ với Báo Đấu thầu, ông Vũ Tiến Lộc - Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết, liên tiếp trong 13 năm qua, VCCI đã thực hiện điều tra và công bố chỉ số PCI cấp tỉnh. Điều quan trọng nhất không phải là xếp hạng, mà là tạo sự lan tỏa về cải thiện môi trường kinh doanh, nhân rộng các mô hình, cách làm tốt giữa các địa phương. “Chỉ riêng việc học tập mô hình thành công của địa phương khác thì đã là tốt lắm rồi. Báo cáo PCI hàng năm còn chỉ ra các dư địa cải cách còn lại, cho thấy những lĩnh vực yếu kém nào địa phương cần tập trung giải quyết, cải thiện trong các năm tới”, ông Lộc nhấn mạnh.
Hiện nay đã phân cấp mạnh đến các địa phương, nhưng theo ông Lộc, DN vẫn phản ánh có tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, chủ trương thì đúng nhưng thực hiện chưa đạt yêu cầu. Để tạo áp lực cải cách mạnh mẽ hơn nữa, không dừng lại ở việc đánh giá PCI cấp tỉnh, VCCI sẽ tiếp tục triển khai một bộ công cụ DCI để các DN đánh giá chất lượng thi hành công vụ, chất lượng điều hành ở cấp quận/huyện, sở, ban, ngành. Mục tiêu là để đẩy áp lực cải cách từ cấp tỉnh xuống cấp huyện, sở, ban, ngành. Trong tương lai, áp lực này cần phải đẩy xuống cấp phòng, cấp xã, phường và từng công chức.
“Có lẽ, nếu không làm hoặc không đạt kết quả, thì không nên kiểm điểm hay tranh cãi nhiều, mà thay người khác. Có như vậy mới tạo động lực cải cách tốt hơn ở khâu giữa là cục, vụ, sở - đây đang là điểm nghẽn trong việc thực thi Nghị quyết 19 hiện nay”, ông Nguyễn Đình Cung đề xuất. (Baodauthau.vn 21/5, Lê Xuân)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TPHCM: Thủ tục cấp giấy chứng nhận có tỷ lệ hài lòng kém nhất
UBND TPHCM tổ chức sơ kết 2,5 năm thực hiện chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2016-2020. Báo cáo tại hội nghị sơ kết, ông Huỳnh Công Hùng, Phó Giám đốc Sở Nội vụ TPHCM, cho biết trong 2 năm 2016- 2017 tỷ lệ hài lòng của người dân về thủ tục hành chính đạt trên 80%.
Tỷ lệ hài lòng cao nhất thuộc về dịch vụ mầm non, kém nhất thuộc về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản trên đất. Theo ông Hùng, mặc dù nỗ lực nhưng còn nhiều chỉ tiêu cần cố gắng. TP sẽ đầu tư để có kho dữ liệu dùng chung và có quy chế vận hành, chia sẻ cho các quận/huyện. Khi vận hành kho dữ liệu mới thực hiện được thủ tục công trực tuyến.
Kết luận hội nghị, Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thành Phong cho biết cải cách hành chính là 1 trong 7 Chương trình trọng điểm của TP. Để cải cách hành chính trong thời gian tới đạt hiệu quả hơn cần tăng cường trách nhiệm người đứng đầu, cải cách thể chế hành chính, cải cách bộ máy nhà nước. (Sài Gòn Giải Phóng 21/5, Trà Giang)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Sở “mềm” hay “cứng” là do đặc thù công việc
Chủ trương sáp nhập một số Sở, ngành ở địa phương đang khiến không ít cán bộ tâm tư. Bảo là lo lắng thì không hẳn, nhưng cũng chưa an tâm khi công việc sắp tới có thể sẽ nhiều xáo trộn. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến khác…
Ủng hộ chủ trương sáp nhập (chính xác hơn là hợp nhất) các Sở, nhằm tin gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực phối hợp và hiệu quả công việc, một lãnh đạo ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Ninh cho rằng, việc hợp nhất là xu thế không thể cưỡng lại. Và nên làm càng sớm càng tốt. “Chúng tôi cho rằng việc hợp nhất sẽ làm tinh gọn bộ máy, tăng hiệu lực quản lý Nhà nước và đào tạo cán bộ một cách bài bản hơn. Việc này Quảng Ninh đã, đang và sẽ làm triệt để”, vị lãnh đạo giấu tên này nói.
Nêu ví dụ việc hợp nhất trước đây giữa ngành nông nghiệp và ngành thủy sản của tỉnh Quảng Ninh, ông này cho rằng, trước đó, rất nhiều ý kiến phản đối, lo lắng việc hợp nhất sẽ khiến ngành thủy sản, vốn được cho là “phụ”, sẽ yếu đi. Vai trò quản lý Nhà nước, phát triển thủy sản của tỉnh sẽ không còn được như trước. Tuy nhiên, thực tế chứng minh ngược lại.
“Nếu trước khi hợp nhất, ngành thủy sản của tỉnh chỉ chiếm hơn 30% GDP ngành nông nghiệp, với mức độ khai thác, đánh bắt chiếm tỷ lệ cao hơn nuôi trồng, thì đến nay, ngành này đã tăng tốc đến kinh ngạc, chiếm 51% GDP của nông nghiệp Quảng Ninh, trong đó nuôi trồng, chế biến chiếm tỷ lệ lớn”, vị cán bộ này phân tích.
Trong dự thảo đề án sáp nhập các Sở của Bộ Nội vụ, gồm việc nhập Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Công thương thành Sở Công nghiệp, Nông nghiệp và Thương mại, nhiều ý kiến bày tỏ lo lắng trước việc phân định cơ quan nào sẽ là chính, cơ quan nào là phụ.
Vẫn vị lãnh đạo này cho rằng, chính hay phụ không hề quan trọng, quan trọng ở chỗ, nên ổn định đội ngũ cán bộ chuyên ngành, bởi trước nay nó đã được vận hành theo hệ thống, đã được đào tạo để thực hiện chuyên môn. Nếu nay hợp nhất mà có sự thay đổi, thì ngay bản thân công việc sẽ bị ảnh hưởng, sau đó ảnh hưởng dây chuyền đến toàn hệ thống.
“Chúng tôi cho rằng, với chức năng quản lý Nhà nước trên địa bàn, thì mỗi chuyên viên của Sở sẽ là một chuyên gia. Việc hợp nhất nếu làm bài bản, không xáo trộn chuyên môn, thì sẽ rất tốt. Chúng ta có điều kiện thu gọn bộ máy, đào tạo kỹ năng và chuyên môn cho cán bộ tốt hơn, từ đó tổ chức bồi dưỡng, quy hoạch cán bộ. Làm được điều này sẽ là bước tiến rất lớn”, lãnh đạo ngành nông nghiệp Quảng Ninh đề xuất.
Vị này phân tích thêm, trước đây, bộ máy cồng kềnh, chúng ta có 500 cán bộ làm công tác quản lý Nhà nước nhưng công việc vẫn không chạy, thì nay, với việc hợp nhất, hoặc tinh giản biên chế, bộ máy chỉ còn 100 người nhưng phải quản lý, vận hành kiểu khác. Có thể áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, hoặc đề ra các chế tài hậu kiểm, phân cấp phân quyền cho địa phương…
“Trước đó, Quảng Ninh đã tổ chức hợp nhất nhiều cơ quan. Chúng tôi nhận thấy, việc này không những tinh giản được bộ máy cồng kềnh, mà còn khiến công việc thông suốt hơn, giảm được nhiều khâu, nhiều tầng nấc trong thủ tục hành chính”, ông cho hay.
Vấn đề đặt ra là sau khi sáp nhập liệu rằng công việc có hiệu quả hơn không, đời sống anh em thế nào, công việc có được thông suốt không hay lại sinh ra nhiều cấp quản lý?
Theo một lãnh đạo Sở Công thương Quảng Ninh, việc hợp nhất Sở phù hợp xu thế cải cách hành chính, giảm đầu mối, tạo tiền đề giảm biên chế, tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các Sở. Điều này sẽ tạo điều kiện phục vụ người dân và doanh nghiệp (DN) tốt hơn.
“Tôi chỉ nêu ví dụ, với một DN chế biến nông sản, ngoài việc xây dựng vùng nguyên liệu phải có sự hỗ trợ từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thì việc xây dựng nhà máy, lựa chọn công nghệ, hay những thủ tục khác như cấp điện và các nguyên liệu đầu vào, phải do ngành Công thương cấp phép. Như vậy, nếu việc hợp nhất thành công, thì DN sẽ bớt đi nhiều đầu mối thủ tục”, ông cho hay.
Tuy vậy, nhìn nhận chung của các lãnh đạo một số Sở được đề xuất hợp nhất đều cho rằng, lo lắng nhất là sự ổn định của bộ máy quản lý. “Cán bộ, chuyên viên được đào tạo chuyên ngành A, nhưng khi hợp nhất, do yêu cầu của cấp trên, có thể phải chuyển sang quản lý lĩnh vực B. Như vậy sẽ rất khó. Không những ảnh hưởng đến công việc của cán bộ ấy, mà ảnh hưởng đến sự vận hành của cả hệ thống, bởi quản lý Nhà nước không đơn thuần là làm việc độc lập của từng cá nhân”, vị này cho biết.
Thực tế, không phải sau khi Bộ Nội vụ đề xuất việc sáp nhập một số Sở, ngành thì mới rộ lên thông tin lo lắng. Trước đây, tỉnh Quảng Ninh đã thành lập một số cơ quan trên cơ sở tiến hành sáp nhập một loạt cơ quan có chức năng tương đương nhằm tinh giản bộ máy hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động.
Theo đó, tỉnh thành lập mới Ban Quản lý (BQL) Dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở sáp nhập BQL Đầu tư và xây dựng công trình trọng điểm tỉnh với BQL Dự án các công trình giao thông thuộc Sở Giao thông vận tải; thành lập BQL Dự án đầu tư xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp tỉnh trên cơ sở sáp nhập BQL Các công trình văn hóa - thể thao và các BQL dự án đầu tư thuộc các Sở Giáo dục và Đào tạo, Y tế... Tỉnh cũng thành lập mới Cơ quan tham mưu, giúp việc chung khối Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể cấp tỉnh.
Ngoài ra, Quảng Ninh sẽ tập trung chỉ đạo thực hiện thí điểm hợp nhất các cơ quan tham mưu cấp ủy với cơ quan chuyên môn của chính quyền cấp huyện như: Tổ chức với Nội vụ, Cơ quan Ủy ban kiểm tra với Thanh tra, Văn phòng cấp ủy – HĐND - UBND ở những nơi đã thực hiện nhất thể hóa chức danh và có đủ điều kiện.
Tới đây, Quảng Ninh triển khai dứt điểm việc chuyển chức năng bồi dưỡng lý luận chính trị của Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cấp huyện về Ban Tuyên giáo cấp huyện, chức năng tài chính, phục vụ về Văn phòng cấp ủy.
Tỉnh đã giải thể các cơ quan công lập khi những công việc của cơ quan này đã được xã hội hóa. Đồng thời, tỉnh rà soát và sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp công theo hướng hợp nhất và tự chủ tài chính như đã hợp nhất 3 đoàn nghệ thuật chèo, cải lương, kịch thành một đoàn nghệ thuật chung; hợp nhất 5 đơn vị sự nghiệp công phòng chống các dịch bệnh của Sở Y tế thành một cơ quan kiểm soát dịch bệnh… (Nông Nghiệp Việt Nam 21/5)Về đầu trang
Thay thế kịp thời các cán bộ yếu kém, sai phạm
Hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong, thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.
Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ vừa được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành nêu 8 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong công tác cán bộ trong đó có nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới.
Theo đó, Trung ương yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị phải nâng cao trách nhiệm, triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ và tạo môi trường, điều kiện để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ. Coi trọng trang bị kiến thức về công tác cán bộ cho lãnh đạo các cấp. Tập trung nâng cao chất lượng bí thư cấp uỷ, người đứng đầu các cấp và đội ngũ cán bộ cấp cơ sở.
Hoàn thiện cơ chế, đẩy mạnh thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ có triển vọng và đặc biệt quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện lớp cán bộ kế cận. Chủ động nắm, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đối với sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc ở trong nước và nước ngoài. Cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu.
Xây dựng đồng bộ, toàn diện các đối tượng cán bộ ở các cấp. Chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, tính chuyên nghiệp, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học; có chính sách ưu đãi để xây dựng, sử dụng đội ngũ các nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực. Củng cố, nâng cao ý thức trách nhiệm và tính Đảng đối với cán bộ trong các doanh nghiệp nhà nước, nhất là người đứng đầu; xây dựng quy định về tuyển dụng, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ quản trị doanh nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Nghiên cứu thực hiện cơ chế, chính sách liên thông, bình đẳng, nhất quán trong hệ thống chính trị; liên thông giữa cán bộ, công chức cấp xã với cán bộ, công chức nói chung, giữa nguồn nhân lực ở khu vực công và khu vực tư; có cơ chế cạnh tranh vị trí việc làm để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và tiến tới bỏ chế độ "biên chế suốt đời".
Quản lý chặt chẽ, hiệu quả đội ngũ cán bộ các cấp theo hướng: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về cán bộ. Địa phương, cơ quan, đơn vị phải thực hiện nghiêm việc quản lý cán bộ theo quy định của cấp có thẩm quyền. Cơ quan sử dụng cán bộ phải quản lý cán bộ chặt chẽ, hiệu quả. Người đứng đầu chịu trách nhiệm chính về quản lý cán bộ theo phân cấp. Bản thân cán bộ thực hiện nghiêm các quy định, quy chế, cam kết của mình; báo cáo, giải trình trung thực và chịu trách nhiệm khi có yêu cầu.
Hoàn thiện các quy định, quy chế để kiểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không đủ sức khoẻ, có sai phạm, không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong, thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.
Quân đội và Công an có đề án riêng để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tình hình mới. (Báo Chính Phủ Điện Tử 20/5)Về đầu trang
Cán bộ, công chức tương tác trên mạng xã hội theo nguyên tắc lành mạnh
Ngày 18-5, Bộ TT-TT đã tổ chức tọa đàm Xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội vì môi trường mạng lành mạnh tại Việt Nam.
Ông Đỗ Quý Vũ- Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông (Bộ TT-TT) cho biết, Bộ quy tắc ứng xử trên mạng xã hội cho các cán bộ công chức, viên chức và người lao động trong các cơ quan nhà nước sử dụng dịch vụ mạng xã hội.
Theo đó, các đối tượng này nên sử dụng mạng xã hội để thực hiện tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, quảng bá về đất nước - con người, văn hóa tươi đẹp của Việt Nam, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các nội dung thông tin tích cực.
Cán bộ, công chức, viên chức nên đấu tranh phản bác các thông tin sai trái, lên tiếng ủng hộ những thông tin tích cực trên mạng xã hội và bình luận có văn hóa, không sử dụng từ ngữ gây thù hận khi sử dụng mạng xã hội.
Bên cạnh đó, cán bộ, công chức, viên chức nên kiểm tra độ tin cậy các thông tin trước khi tương tác trên mạng xã hội và nhanh chóng phản hồi những câu hỏi, những thông tin trái chiều hay nghi vấn về các vấn đề có liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn.
Theo dự thảo trên, cán bộ, công chức, viên chức phải xuất hiện trên mạng xã hội theo nguyên tắc về minh bạch và thực hiện tương tác trên mạng xã hội theo nguyên tắc về lành mạnh và nguyên tắc bảo mật thông tin;
Phải thực hiện tương tác trên mạng xã hội về các vấn đề chính sách của Đảng, Nhà nước phải phù hợp với vai trò, nguyên tắc, quyền hạn của cá nhân và của cơ quan chủ quản. Trong đó, phải thông báo rõ ràng về các tương tác trên mạng xã hội là việc làm mang tính cá nhân, không đại diện cho cơ quan chủ quản.
Ngoài ra, cán bộ, công chức, viên chức phải thông báo cho các cơ quan hữu quan về các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội.
Dự thảo Bộ Quy tắc này cũng khuyến nghị người dân sử dụng dịch vụ mạng xã hội nên bình luận có văn hóa, không sử dụng từ ngữ gây thù hận khi sử dụng mạng xã hội và kiểm tra độ tin cậy các thông tin trước khi tương tác trên mạng xã hội, thông báo cho các cơ quan hữu quan về các thông tin xấu, độc, các tin đồn gây ảnh hưởng tiêu cực trên mạng xã hội. (An Ninh Thủ Đô 19/5)Về đầu trang
Phải có cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập cán bộ
Dự thảo báo cáo ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cho hay cử tri cả nước rất phấn khởi khi nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp đã được xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, kể cả đối với cán bộ lãnh đạo cấp cao, cán bộ đương chức và cán bộ đã nghỉ hưu.
Cử tri và nhân dân mong muốn Đảng và Nhà nước tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí ở các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở, coi đây là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết của cả hệ thống chính trị.
Cử tri cả nước cũng đề nghị Đảng, Nhà nước tiếp tục có giải pháp hiệu quả để phòng chống tham nhũng, lãng phí, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật kiên quyết xử lý nghiêm những người có liên quan đến tham nhũng, lãng phí, gây thất thoát tài sản của Nhà nước.
Bên cạnh đó, cử tri TP.HCM thì đề nghị xử lý nghiêm minh các hành vi bao che hoặc làm sai lệch hồ sơ, kết quả thanh tra, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời phải có biện pháp thu hồi tài sản tham ô, tham nhũng một cách hiệu quả.
Cùng đó cần có một cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức mang tính độc lập và thực hiện theo quy định của pháp luật. Đồng thời có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát, hỗ trợ cơ quan. (Pháp Luật TPHCM 21/5)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Tìm sự đồng thuận từ đối thoại
Tại hội nghị về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, được tổ chức hôm 19.5, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thẳng thắn chỉ rõ, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người diễn biến phức tạp đó là một số địa phương không thực hiện nghiêm túc việc đối thoại với dân. Một vài cán bộ còn nặng tư tưởng “đối đầu” với dân mà chưa thấy trách nhiệm của mình.
Khiếu nại, khiếu kiện đông người, đơn thư vượt cấp đã trở thành vấn đề nóng trong công tác tiếp dân thời gian qua. Không ít trường hợp, người dân do quá bức xúc, thiếu kiềm chế vì không được giải quyết thấu đáo đã có những phản ứng tiêu cực trong quá trình đi khiếu nại gây bất ổn xã hội.
Tại Phiên họp thứ 24 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua, dự thảo Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân do Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hầu A Lềnh trình bày nêu rõ: Cử tri và nhân dân tiếp tục phản ánh về công tác quản lý đất đai của chính quyền một số địa phương chưa chặt chẽ, các dự án quy hoạch chưa được công khai, việc thu hồi đất thiếu minh bạch; công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư còn nhiều bất cập, gây bức xúc trong nhân dân. Trên cơ sở đó, cử tri đề nghị chính quyền địa phương tăng cường đối thoại, triển khai các giải pháp đồng bộ, hiệu quả, giải quyết thỏa đáng quyền lợi của nhân dân.
Ngoại trừ một số trường hợp bị xúi giục và kích động, nhìn chung người dân đều ở vào hoàn cảnh “cực chẳng đã” mới đi khiếu nại, khiếu kiện vì cho rằng, quyết định hành chính đã ảnh hưởng đến quyền lợi của mình. Có một thực tế mà bao năm qua vẫn chưa giải quyết được đó là số vụ khiếu nại, khiếu kiện chiếm tỷ lớn lại chủ yếu tập trung ở lĩnh vực đất đai. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này một phần là do chính sách đất đai của chúng ta còn chồng chéo, nhiều thay đổi. Điều đáng nói nữa là, việc thực hiện thu hồi, đền bù và giải phóng đất đai có nơi không minh bạch dẫn đến người dân nghi ngờ và phản ứng trong quá trình thu hồi đất. Trong khi đó, chính quyền cơ sở, cơ quan có thẩm quyền lại chưa thực sự giải quyết thấu tình, đạt lý làm cho người dân bức xúc dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện đông người...
Thực tế này đã được Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Thanh Hải nêu ra tại Phiên họp thứ 24 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa qua, đó là cử tri tiếp tục phản ánh công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhiều nơi còn chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật. Hiện tượng người đứng đầu UBND các cấp không tiếp công dân định kỳ nhưng chưa được thanh tra, kiểm tra để chấn chỉnh, xử lý kịp thời, dẫn tới việc coi nhẹ nhiệm vụ tiếp công dân, không kịp thời nắm bắt, giải quyết tâm tư nguyện vọng của người dân nên tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, phức tạp, kéo dài diễn biến theo chiều hướng gia tăng. Việc xử lý các cán bộ sai phạm được phát hiện qua khiếu nại, tố cáo của công dân vẫn còn có dấu hiệu ngại va chạm, nể nang, né tránh, ít cán bộ bị xử lý kỷ luật chủ yếu là rút kinh nghiệm, xử lý nội bộ còn chiếm tỷ lệ lớn… Có lẽ, vì nương nhẹ, né tránh trong xử lý các cán bộ vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đã làm cho việc tiếp công dân có nơi kém hiệu quả.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo cần được làm tốt ngay từ cơ sở. Mỗi cán bộ tiếp công dân mỗi cấp thực hiện nhiệm vụ phải làm hết trách nhiệm của mình, tránh đùn đẩy dẫn đến tình trạng đơn thư vượt cấp, gây bức xúc kéo dài. Đã đến lúc cần xác định và xử lý trách nhiệm của từng địa phương, từng lãnh đạo trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Điều cần hơn là phải tăng cường đối thoại với dân, cùng nhau tháo gỡ từ những vướng mắc, bất cập trong chính sách pháp luật đến việc thực thi trong thực tế để có tiếng nói đồng thuận giữa người dân và chính quyền. (Đại Biểu Nhân Dân 21/5, tr2, Hà An)Về đầu trang
Bộ máy cồng kềnh mơ nền công vụ 4.0
Trong 4 tháng đầu năm, thu 3 đồng thì chi tới 2 đồng cho bộ máy có thể không phải là điều ảm đạm chúng ta tưởng tượng. Vẫn có cách tinh giản biên chế, giảm chi thường xuyên và áp lực vay để bù bội chi ngân sách.
Báo cáo về tình hình thu, chi ngân sách 4 tháng đầu năm 2018 do Bộ Tài chính vừa công bố cho thấy một sự thật kém vui. Trong cơ cấu tổng thu nội địa đạt 446.400 tỉ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ năm ngoái, số thu từ dầu thô đóng góp hơn 19.000 tỉ đồng, bằng 53,3% dự toán năm. Dù được trấn an rằng, mức đóng góp chỉ khoảng 4% vào tổng thu ngân sách, thấp hơn rất nhiều so với mức 15-20% của 5-7 năm trước đây nhưng không thể lờ đi kịch bản dầu thô sẽ là cứu tinh cho ngân sách, đặc biệt khi giá dầu tăng từ đầu năm và xu hướng này vẫn đang tiếp diễn.
Gót chân Asin trong thu hút FDI lại hé lộ. Hai điểm sáng Samsung và Formosa có mức tăng trưởng sản xuất tăng gấp nhiều lần cùng kỳ năm ngoái nhưng số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu, chủ yếu từ các doanh nghiệp thuộc khối này lại giảm bớt. Lũy kế thu 4 tháng ước đạt 90.000 tỉ đồng, giảm khoảng 2,9% so với cùng kỳ năm 2017.
Nếu thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng, món quà tặng đặt trên thảm đỏ chào đón doanh nghiệp FDI, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu còn 59.000 tỉ đồng, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước. Với cơ cấu thu ngân sách như vậy, gánh nặng vẫn dồn lên vai khối doanh nghiệp tư nhân trong nước, chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việt Nam vẫn đi trên lối mòn dù đã được cảnh báo.
Điều này càng biểu hiện rõ hơn nếu nhìn thẳng vào số liệu chi ngân sách. Cùng kỳ 2 năm liên tiếp 2017-2018, chi thường xuyên chiếm xấp xỉ 2/3 tổng thu ngân sách. Đã vậy, khi phân bổ nguồn ngân sách chẳng thể gọi là dồi dào của Việt Nam, mỗi năm vẫn ghi nhận khoảng 5 tỉ USD (xấp xỉ 110.000 tỉ đồng, tương đương 2-3% GDP) chi sai hoặc sai mục đích. Khoản vay hàng trăm ngàn tỉ đồng để bù đắp bội chi ngân sách càng thêm phi lý trước sự hoang phí quá mức. Đương nhiên, thắc mắc tiền đi đâu chỉ có thể “bắc thang lên hỏi ông Trời”.
Trao đổi với phóng viên, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Lê Cao Đoàn, Viện Kinh tế Việt Nam, nhận định, trong những năm tới, tình hình cân đối ngân sách của Việt Nam khó sáng sủa hơn khi số chi không giảm bớt còn nguồn thu sẽ ngày càng thu hẹp.
“Thứ nhất, ngay cả khi chưa thể đồng tình hoàn toàn với nhận định, năng suất lao động của một số ngành Việt Nam thua kém cả Campuchia, vẫn phải thừa nhận thực tế, năng suất và hiệu quả của nền kinh tế Việt Nam quá thấp. Các hệ thống khác phục vụ cho nền kinh tế phát triển như doanh nghiệp, tài chính, ngân hàng... đều chưa tương thích và hỗ trợ quá trình sản xuất, thu không bù chi dẫn đến việc không có thặng dư để đầu tư nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.
Thứ 2, chỉ cần nhìn vào thực tế, có thể thấy, rừng tự nhiên bị tàn phá gần cạn kiệt, Tây Nguyên cạn khô do thủy điện, đồng bằng sông Cửu Long kẹp giữa 2 gọng kìm cạn nước từ thượng nguồn và nước mặn từ biển xâm lấn... Đó đều là những nguồn lực cho sự phát triển dài hạn. Như vậy, những thứ của để dành đã bị tiêu phí cho các mục tiêu ngắn hạn trước mắt, đồng nghĩa, dư địa để phát triển của nền kinh tế Việt Nam đang càng lúc càng nhỏ lại. Theo logic này, vòng xoáy cân đối thu - chi sẽ khó khăn hơn rất nhiều”, vị chuyên gia giải thích.
Cân đối thu - chi nhiều năm nay vẫn là vấn đề khiến các nhà quản lý kinh tế đau đầu. Phép tính hằng ngày của các bà nội trợ khi ở tầm quốc gia khiến các bộ óc kinh tế không tầm thường bối rối. Lựa chọn tăng thu, thay vì giảm chi đang được coi là phương án ít gập ghềnh hơn.
Quả thật, sau hòn đá dò đường thuế tài sản, mới đây, tờ trình về Thuế Bảo vệ môi trường đã được đưa lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, mức thuế với xăng được đề xuất từ 3.000 đồng/lít lên 4.000 đồng/lít, với dầu diesel từ 1.500 đồng/lít lên 2.000 đồng/lít, thuế với dầu mazut và dầu nhờn, dầu hỏa, mỡ nhờn tăng lên 2.000 đồng/lít.
Nếu đề xuất này được thông qua, ngân sách sẽ có thêm 14.368 tỉ đồng/năm, khoản thu giúp gánh gồng phần nào áp lực chi tiêu. Việc áp đặt sắc thuế mới hay điều chỉnh mức đóng thuế có thể buộc phải chấp nhận như một giải pháp tình thế. Tuy vậy, không thể không tìm kiếm lời giải thuyết phục và bền vững, lựa chọn tối ưu được dư luận đồng thuận là thực hiện tinh giản biên chế.
Hòn đá tảng chặn đường tiến tới mục tiêu này là cách thực hiện việc tinh giản biên chế. Nhiều giải pháp như siết chặt lượng tuyển mới, khuyến khích công chức, viên chức nghỉ hưu sớm, cơ cấu lại bộ máy tổ chức, trả lương theo vị trí công việc... tất cả đều đã được đưa ra, chỉ có điều, kể cả không có nhiều lực cản thân hữu, lợi ích nhóm, vẫn loay hoay như gà mắc tóc, không biết bắt đầu từ đâu. Tuổi hưu đang đề xuất được nâng lên càng khiến tinh giản biên chế tiến gần hơn tới ngưỡng bất khả thi.
Về vấn đề này, ông Lê Cao Đoàn đưa ra cách tiếp cận rất đáng chú ý. Theo vị chuyên gia, bộ máy quản lý hiện nay được hình thành phù hợp với nền kinh tế bao cấp. Sự thay đổi về đường lối kinh tế, hướng tới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khiến cho mô hình tổ chức cũ không còn tương thích.
Nếu độ lệch đó không được điều chỉnh, mục tiêu giảm mức độ cồng kềnh và tăng hiệu lực của bộ máy quản lý, tiến tới một nền công vụ hiện đại khó thành hiện thực. Tất nhiên, câu hỏi được đặt ra vẫn là, chúng ta nên làm thế nào? Vị chuyên gia cho rằng, đi sai bước nào thì quay đầu đi lại bước đấy. Các nước phát triển đã phải kinh qua những bài học cay đắng trong suốt 300 năm, để xây dựng nền móng, căn bản và phù hợp với mô hình phát triển kinh tế của mình. Chúng ta cũng không ngoại lệ. (Nhipcaudautu.vn 21/5)Về đầu trang
Kết nối điện tử kiểu “nửa vời”
Liên quan tới cơ chế một cửa và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thời gian qua, không ít doanh nghiệp bức xúc cho rằng cơ chế áp dụng hệ thống điện tử hiện nay còn rất “nửa vời”. Thậm chí, mặc dù đã có cổng thông tin một cửa quốc gia nhưng doanh nghiệp vẫn phải chạy khắp nơi nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành hay thanh toán các khoản phí cho hải quan.
Đại diện cho nhiều ý kiến của doanh nghiệp, Phó Giám đốc Văn phòng của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính) Phạm Thị Ngọc Thủy cho biết, cổng thông tin một cửa quốc gia đã có nhưng để được thông quan trên cổng này, doanh nghiệp vẫn phải chạy khắp nơi nộp kết quả kiểm tra chuyên ngành hay thanh toán các khoản phí. Lấy ví dụ đơn giản, bà Phạm Thị Ngọc Thủy nêu trường hợp khi doanh nghiệp có kết quả kiểm tra chuyên ngành, các đơn vị phải in ra giấy và nộp lại cho hải quan hoặc gọi điện để thông báo cụ thể, sau đó hàng hóa mới được xem xét thông quan. Ngay cả với dự thảo Nghị định cơ chế một cửa quốc gia đang được xin ý kiến, bà cho rằng, quy định hiện chỉ nêu về kết nối giữa cổng thông tin một cửa quốc gia với doanh nghiệp và các bộ, cơ quan quản lý chuyên ngành, trong khi không hề có điều khoản nào quy định kết nối giữa cổng với chính các cơ quan hải quan. Dẫn chứng một trường hợp tại Hải Phòng, doanh nghiệp ngoài nộp thuế còn phải nộp phí cửa khẩu cảng biển và nhiều khoản phí khác. Nhưng những khoản phí này không hề liên kết với hệ thống một cửa nên doanh nghiệp vẫn phải tới từng địa chỉ nộp tiền thủ công.
Tại Hội thảo tham vấn dự thảo Nghị định về cơ chế một cửa và kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu diễn ra tại Hà Nội mới đây, nhiều doanh nghiệp cũng phản ánh việc áp mã HS đang còn tình trạng tùy nghi, biểu hiện ở việc có một số mặt hàng đã được doanh nghiệp khai báo và định mã HS, nhưng nếu có thay đổi về màu sắc hay kích cỡ mà không phản ánh bản chất của sản phẩm thì doanh nghiệp vẫn phải khai báo lại từ đầu. Từ phía doanh nghiệp, rõ ràng nhiều quy trình vẫn còn cồng kềnh và không cần thiết. Cùng với đó, việc phân lưu lượng hàng hóa tự động, vẫn thủ công nên làm mất nhiều thời gian của doanh nghiệp.
Đại diện Công ty Chuyển phát nhanh UPS Việt Nam nêu thực tế, quá trình chờ kiểm định hàng vẫn mất nhiều thời gian và không rõ ràng, việc kiểm tra chuyên ngành phải qua nhiều khâu, từ phân công kiểm tra tới thực tế kiểm định, đợi chờ kết quả. Tuy nhiên, hàng hóa của doanh nghiệp thực tế đang ở khâu nào thì chính doanh nghiệp cũng không được thông báo cụ thể mà thường phải đi hỏi trực tiếp.
Cải cách thủ tục hành chính đối với hàng hóa xuất nhập khẩu là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ trong những năm gần đây. Không thể phủ nhận những thành tựu đáng kể trong cải cách thủ tục hành chính về kiểm tra chuyên ngành, nhưng các chuyên gia đều công nhận phần lớn thủ tục hành chính về kiểm tra chuyên ngành vẫn chưa được triển khai trực tuyến, chủ yếu vẫn theo phương pháp thủ công và cồng kềnh. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan Nguyễn Công Bình cho biết, số thủ tục hành chính được triển khai trên cổng một cửa quốc gia chưa nhiều, chỉ chiếm 47/284 tổng số thủ tục hành chính. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai đã bộc lộ những tồn tại, chồng chéo, bất cập do quy định trong văn bản pháp luật được xây dựng theo phương thức thủ công truyền thống, thiếu sự phối hợp, liên kết giữa các thủ tục hành chính liên quan dẫn đến còn nhiều yêu cầu về thông tin chứng từ không cần thiết. Chồng chéo trong quy định về thủ tục hành chính của các bộ, ngành, mức độ tiêu chuẩn hóa, đơn giản hóa, hài hòa quy trình thủ tục hành chính còn thấp, thiếu cơ sở pháp lý quy định trách nhiệm của các bộ, ngành trong việc chia sẻ thông tin thực hiện thủ tục hành chính... Do đó việc xây dựng một văn bản pháp quy mang tầm Nghị định là cần thiết để tạo hiệu quả thuận lợi thương mại.
Theo Giám đốc Phòng Phát triển kinh tế và quản trị nhà nước (USAID Việt Nam) Michael Trueblood, trong dài hạn cần có hệ thống pháp luật để hướng dẫn bộ và cơ quan thực hiện đúng thủ tục kiểm tra chuyên ngành. Với dự thảo Nghị định Cơ chế một cửa quốc gia sẽ giúp Việt Nam tiếp tục tạo thuận lợi thương mại hơn nữa cho các doanh nghiệp thông qua việc đơn giản thủ tục hải quan và xuất nhập khẩu, hỗ trợ đơn giản hóa thủ tục thông quan theo hướng giảm tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và thiết lập một cơ chế liên ngành để bảo đảm sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan. Góp ý thêm cho Dự thảo Nghị định, chuyên gia Phạm Thị Ngọc Thủy mong muốn cần có thêm quy định rõ ràng kết nối tự động giữa các cơ quan trong đó bao gồm cả ngành hải quan. Chỉ có như vậy, doanh nghiệp mới có thể hoàn toàn ngồi một nơi, vào cổng thông tin một cửa là giải quyết được toàn bộ vấn đề.
Cùng quan điểm với bà Thủy, Chuyên gia tư vấn Dự án GIG (USAID) Phạm Thanh Bình cho rằng, dự thảo cần quy định vấn đề cổng điện tử phải bỏ chứng từ giấy, chỉ có chứng từ điện tử. Mặt khác, một số thuật ngữ trong dự thảo cũng cần phải được nêu rõ, ví dụ cơ quan giải quyết thủ tục hành chính chuyên ngành nên ghi là cơ quan cấp giấy phép và cơ quan kiểm tra chuyên ngành, hệ thống xử lý chuyên ngành cần ghi rõ là hệ thống xử lý thông tin điện tử của cơ quan cấp phép và của cơ quan chuyên ngành.
Từ những góp ý của đại diện các cơ quan chức năng cũng như kiến nghị của doanh nghiệp, đại diện Tổng cục Hải quan đã tiếp thu ý kiến và cho biết sẽ nhanh chóng chỉnh lý, hoàn thiện nghị định theo tinh thần Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh của Chính phủ theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế, để từ đó xây dựng được một văn bản pháp luật đủ pháp lý và mang tính thực tiễn. (Đại Biểu Nhân Dân 20/5, tr2, Nguyễn Thủy)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Quan tham tỉnh nghèo gây kinh động lãnh đạo Trung Quốc
Dư luận Trung Quốc đang xôn xao trước sự thật về vụ một cán bộ lãnh đạo cấp sở ở tỉnh nghèo Cam Túc khi bị điều tra đã phát hiện vơ vét tới 9,2 tỷ NDT (32.200 tỷ VND). Một nguồn tin từ cơ quan điều tra cho biết, vụ án này đã khiến lãnh đạo trung ương rúng động.
Theo tạp chí “Tài Tân chu san” số ra ngày 14/5, quan tham này là Lôi Chí Cường – từng giữ các chức Cục trưởng Tài chính, Phó thị trưởng thành phố Thiên Thủy, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tín dụng nông thôn tỉnh Cam Túc.
Trong quá trình điều tra, Lôi Chí Cường đã chủ động giao nộp hơn 200 triệu NDT tang vật phần lớn đều nằm ngoài những điều mà tổ điều tra nắm được trước đó. Đi sâu điều tra, họ kinh hoàng phát hiện ra Cường còn có thêm 9 tỷ NDT nữa không khai báo. Cam Túc là tỉnh nghèo nằm ở Tây Bắc Trung Quốc, diện tích phần lớn là sa mạc, thuộc số địa phương kinh tế chậm phát triển nhất Trung Quốc nên việc phát hiện ra vụ án “quan nhỏ tham nhũng khủng” này đã khiến ban lãnh đạo trung ương kinh động.
Đi sâu điều tra vụ án Lôi Chí Cường, các nhân viên điều tra đã lần ra vụ án tham nhũng của Vương Tam Vận, Ủy viên Trung ương, Bí thư tỉnh ủy Cam Túc từ việc giao du làm ăn của Vương Sướng - con trai Vương Tam Vận với con trai Cường. Sau khi Cường bị bắt để điều tra hôm 26/4/2017, con trai ông ta cũng sa lưới đã khai ra những điều bất lợi cho Vương Tam Vận, dẫn đến Vận bị bắt hôm 11/7/2017.
Lôi Chí Cường sinh năm 1958 quê Vũ Sơn, Cam Túc, tốt nghiệp Khoa Tài chính Đại học Tài chính Mậu dịch Cam Túc. Sau khi tốt nghiệp ông ta vào công tác trong ngành tài chính tỉnh, leo dần từ nhân viên lên cấp phòng, ban rồi Bí thư đảng ủy, Cục trưởng Tài chính thành phố Thiên Thủy. Tháng 1/1999, Cường được bổ nhiệm chức Phó Thị trưởng Thiên Thủy; đến 8/2005 điều qua Liên minh HTX tín dụng nông thôn tỉnh làm Phó Bí thư kiêm Bí thư Ủy ban Kiểm tra kỷ luật đảng ủy rồi Bí thư đảng ủy; từ 6/2007 là Chủ nhiệm Liên minh cho đến khi bị điều tra ngày 26/4/2017. Ngày 9/10/2017 Viện Kiểm sát tỉnh Cam Túc quyết định phát lệnh bắt giam Cường vì có dấu hiệu phạm tội nhận hối lộ.
Ngày 24/2/2018, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc thông báo: Viện Kiểm sát tỉnh Cam Túc đã chỉ định Viện Kiểm sát thành phố Khánh Dương khởi tố vụ án Lôi Chí Cường, Bí thư đảng ủy, Chủ nhiệm Liên minh HTX tín dụng nông thôn tỉnh Cam Túc (cấp trưởng sở) phạm tội nhận hối lộ và có số tài sản cực lớn không thể giải trình. Bản khởi tố của Viện Kiểm sát Khánh Dương cáo buộc: Lôi Chí Cường đã lợi dụng tiện lợi khi giữ các chức vụ Phó thị trưởng Thiên Thủy và Chủ nhiệm Liên minh HTX tín dụng nông thôn tỉnh Cam Túc để mưu lợi cho người khác rồi nhận hối lộ số tiền cực lớn và có số tài sản cực lớn không thể giải trình nguồn gốc, cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội nhận hối lộ và có tài sản lớn nguồn gốc bất minh.
Tài Tân viết: “Lối sống sa đọa của Lôi Chí Cường khiến người ta kinh sợ. Khi khám nhà đã thu giữ được số đồ cổ chở đầy 2 xe tải. Nhà riêng của Cường sẽ được bảo tồn nguyên trạng để làm nơi giáo dục mang tính cảnh báo như trường hợp “Hồng Lâu” của Lại Xương Tinh ở Quảng Đông trước đây”. Từ lâu, dân chúng Cam Túc đã gọi Lôi Chí Cường là “Lôi bát ức” (ám chỉ Cường có tài sản 800 triệu tệ), không ngờ số tài sản thực của ông ta còn lớn gấp mười mấy lần lời đồn. (Thanh Tra 20/5)Về đầu trang./.
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/5/2018 (18/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/5/2018 (18/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 15/5/2018 (15/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 14/5/2018 (15/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 11/5/2018 (14/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 10/5/2018 (11/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 09/5/2018 (09/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 08/5/2018 (09/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 07/5/2018 (09/05/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 04/5/2018 (07/05/2018)

