Bản tin cải cách hành chính ngày 29/10/2018

15:56, Thứ Hai, 29-10-2018

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 1

1.  TPHCM: Khi thạc sĩ về phường. 1

2.  Hà Nội yêu cầu chuẩn hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính. 3

3.  Hà Nội: Dần hiện thực mục tiêu xây dựng chính quyền điện tử. 3

4.  Long An: Đột phá cải cách thủ tục hành chính. 4

5.  Cải cách hành chính “3 trong 1” ở Đà Nẵng. 5

LĨNH VỰC CẢI CÁCH.. 7

6.  Bỏ hình thức quản lý dân cư theo sổ hộ khẩu: Thận trọng, có lộ trình cụ thể. 7

7.  Sửa Luật Quản lý thuế: Cải cách thủ tục hành chính trong giải quyết hoàn thuế. 8

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH.. 9

8.  Năm 2019, chi cải cách tiền lương và tinh giản biên chế 43.350 tỷ đồng. 9

9.  Chi thường xuyên lớn “không chỉ cho bộ máy mà cho cả người dân”. 10

10.  Hải Phòng: Cán bộ, công chức không sử dụng rượu bia trong giờ làm việc. 11

TIN THẾ GIỚI 12

11.  Tổng thống Zimbabwe bất lực nhìn nền kinh tế nước nhà sụp đổ. 12


CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TPHCM: Khi thạc sĩ về phường

Hoàng Thị Minh Ngọc và Dương Thanh Hậu là 2 trong số hàng trăm cán bộ thuộc chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của Thành ủy TPHCM khi phân công về cơ sở đã phát huy tốt vai trò của một cán bộ trẻ.

Chỉ vào tuyến hẻm 59 đường Số 5 khu phố 2, phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9 (TPHCM) được đổ bê tông phẳng phiu - sạch đẹp, ông Ngô Văn Lạng, Bí thư khu phố, nói: “Ngày trước, mưa chừng nửa giờ là hẻm ngập lênh láng. Sau mỗi đợt mưa như vậy, cả tuần nước vẫn chưa rút hết. Nhưng giờ thì ngon lành, chấp trời mưa cả tháng vẫn không ngập. Có được kết quả này, công của cô Ngọc rất lớn”. Cô Ngọc mà ông Lạng khen ngợi là Bí thư Đảng ủy phường Tăng Nhơn Phú B Hoàng Thị Minh Ngọc.  

Nhớ lại quá trình nâng cấp, cải tạo tuyến hẻm, ông Ngô Văn Lạng nói: “Khó khăn vô cùng, kinh phí thì hạn chế, việc vận động hiến đất mở rộng hẻm thì người chịu người không. Cứ thế, việc nâng cấp con hẻm bị kéo dài”. Khó khăn trên được đồng chí Hoàng Thị Minh Ngọc nhìn thấy ngay khi mới về nhận công tác Bí thư Đảng ủy phường (tháng 3-2015). Để tháo gỡ, hàng ngày, sau giờ làm việc, đồng chí đến gặp gỡ, lắng nghe nguyện vọng của từng hộ dân sống dọc tuyến hẻm và có những chia sẻ thấu đáo. Những phân tích có lý có tình, sự nhiệt thành của bí thư phường đã giúp các hộ dân hiểu được rằng, việc nâng cấp hẻm là việc cần làm và phải làm; lợi ích từ việc mở rộng, bê tông hóa hẻm sẽ là của toàn bộ các hộ dân trong khu phố, của chính mỗi gia đình. Dần dần, tất cả người dân đều đồng tình.

Được sự đồng thuận của người dân là một thành công lớn, Bí thư Đảng ủy phường Tăng Nhơn Phú B Hoàng Thị Minh Ngọc tiếp tục làm việc với đoàn thanh niên tổ chức vận động, kêu gọi doanh nghiệp, người dân hỗ trợ kinh phí. Cuối cùng, hẻm 59 đường Số 5 - “tuyến hẻm đau khổ” nắng bụi mưa lầy đã được bê tông hóa phẳng phiu, sạch đẹp. Ngoài ra, 3 năm qua, tại phường Tăng Nhơn Phú B còn có 29 công trình đường hẻm khác được nâng cấp, cải tạo với tổng kinh phí hơn 4,3 tỷ đồng. “Đó là kết quả của sự lãnh đạo, chỉ đạo khéo léo, sự uyển chuyển và sáng tạo của người đứng đầu cấp ủy. Chúng tôi xem chị Ngọc là tấm gương để học theo”, một cán bộ địa chính phường Tăng Nhơn Phú B chia sẻ.  

Bình Hưng Hòa A (quận Bình Tân) là phường có số dân đông nhất nước (gần 120.000 dân). Công tác quy hoạch đất đai còn ngổn ngang, xây dựng trái phép liên tục phát sinh, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng do cơ sở sản xuất nằm trong khu dân cư nhiều…

Khi tổ chức phân công về làm phó chủ tịch UBND phường “nóng” này, Dương Thanh Hậu (34 tuổi) không khỏi bỡ ngỡ, tuy nhiên với sự bản lĩnh, năng động và sáng tạo trong công việc, người cán bộ trẻ này đã biến thách thức thành cơ hội. Một trong những kết quả tích cực đạt được đó là giảm tải thủ tục trong hành chính. Chứng kiến cảnh người dân đến phường giao dịch phải chờ đợi lâu mỗi ngày, Phó Chủ tịch UBND phường Bình Hưng Hòa A Dương Thanh Hậu lấy làm trăn trở. Sau nhiều tháng suy nghĩ, đầu năm 2016, Hậu cùng một số cán bộ phường đã xây dựng và áp dụng thành công mô hình “Kiốt thông tin”.

Theo đó, người dân khi đến phường tìm hiểu thông tin quy hoạch có thể trực tiếp thao tác trên máy đặt tại phường, thay vì phải chờ đợi cán bộ mất nhiều thời gian. Đối với các thủ tục như xin sửa chữa nhà, đăng ký kết hôn, xác nhận tạm trú…, người dân khi nhập vào “Kiốt thông tin” sẽ biết được trình tự quy trình để thực hiện nhanh hơn; một số thủ tục khác, sau khi người dân nhập dữ liệu thông tin vào mẫu có sẵn, máy sẽ in ra để cán bộ phường ký, đóng dấu. Có “Kiốt thông tin”, tình trạng quá tải thủ tục hành chính ở UBND phường Bình Hưng Hòa A không còn, người dân thêm tin yêu, đồng thuận với chính quyền.

Hoàng Thị Minh Ngọc và Dương Thanh Hậu là 2 trong số hàng trăm cán bộ thuộc chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của Thành ủy TPHCM khi phân công về cơ sở đã phát huy tốt vai trò của một cán bộ trẻ. “Những phần việc mang tính sáng tạo - đột phá, những câu chuyện giải quyết thấm lòng dân ở cơ sở là kết quả chúng tôi áp dụng, rút ra được từ những bài học quý giá trong quá trình tham gia lớp đào tạo thạc sĩ của Thành ủy TPHCM. Ở đó, ngoài việc được đào tạo, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, chúng tôi còn được học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm thực tế lẫn nhau từ đồng nghiệp, thầy cô về công tác quản lý nhà nước”, Chủ tịch UBND phường 10 quận 3 Nguyễn Thị Thanh Loan (34 tuổi, cán bộ thuộc chương trình đào tạo thạc sĩ của Thành ủy TPHCM) chia sẻ về quá trình vận hành kiến thức từ chương trình đào tạo vào thực tế.

Đồng chí Võ Văn Đức, Trưởng ban Tổ chức Quận ủy quận 3, cho biết quận hiện có 60 cán bộ thuộc diện trên được phân công về cơ sở, Đảng ủy - UBND các phường. “Phần lớn các cán bộ trẻ này đều được phân công, bổ nhiệm làm lãnh đạo, quản lý. Tất cả đều phát huy tốt năng lực, luôn chịu khó, năng động, sáng tạo trong công việc”, ông Đức chia sẻ. Tại quận 9, theo Ban Tổ chức Quận ủy, công tác đánh giá cán bộ những năm gần đây cho thấy hầu hết các cán bộ tham gia chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ của Thành ủy TPHCM phân công về cơ sở làm việc đều có kết quả đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua”.

Để nâng cao hiệu quả, đồng chí Võ Văn Đức kiến nghị Thành ủy TPHCM mở rộng đối tượng, kéo giãn độ tuổi cán bộ tham gia các chương trình đào tạo; đồng thời sớm tổ chức kỳ thi tuyển công chức khối Đảng, đoàn thể; cải tiến việc thi tuyển công chức đảm bảo tính linh hoạt, hiệu quả hơn thông qua hình thức phỏng vấn, trắc nghiệm trên máy vi tính… Ngoài ra, nên tổ chức định kỳ 2 kỳ thi tuyển/năm để sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp có thể tham gia thi tuyển công chức. (Sài Gòn Giải Phóng 29/10, Quang Huy – Phạm Minh)Về đầu trang

Hà Nội yêu cầu chuẩn hóa quy trình giải quyết thủ tục hành chính

UBND TP Hà Nội vừa ban hành văn bản số 5134 yêu cầu giám đốc các sở, ban, ngành TP; chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính (TTHC).

Theo đó, cán bộ, công chức được cử ra bộ phận một cửa phải bảo đảm trình độ chuyên môn thực hiện hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ cho người dân, DN. Cần có sự tham gia của các đầu mối kiểm soát TTHC trong việc tổ chức, vận hành bộ phận một cửa, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của việc thực hiện các quy định của pháp luật. Đồng thời, chấn chỉnh việc giải quyết TTHC tại cơ quan, đơn vị, hạn chế tối đa việc người dân, DN phải đi lại nhiều lần.

TP cũng yêu cầu nghiêm túc thực hiện việc đánh giá tác động, tính toán chi phí tuân thủ TTHC tại các văn bản quy phạm pháp luật có quy định TTHC; tránh làm tăng gánh nặng cho người dân, DN; công bố, công khai TTHC theo quy định. Cùng với đó, chuẩn hóa, thống nhất quy trình nội bộ giải quyết TTHC trên địa bàn TP trên tinh thần cải cách mạnh mẽ và tạo điều kiện cho người dân, DN. (Kinh Tế & Đô Thị 28/10, Hà Bình)Về đầu trang

Hà Nội: Dần hiện thực mục tiêu xây dựng chính quyền điện tử

Trong nỗ lực xây dựng chính quyền điện tử, TP Hà Nội vừa triển khai thí điểm hệ thống một cửa điện tử dùng chung 3 cấp kết nối với hệ thống dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của TP. Qua đó, không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, mà việc đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý, điều hành còn giúp hoạt động các cơ quan, đơn vị minh bạch hơn.

Thực hiện lộ trình xây dựng Thành phố thông minh, trong những năm qua, Hà Nội đã có bước đột phá căn bản về ứng dụng CNTT theo hướng tổng thể, đồng bộ, gắn với mô hình chính quyền đô thị. Đến nay, TP đã triển khai cổng DVCTT cung cấp các dịch vụ công mức độ 3 các lĩnh vực: Tư pháp, tài nguyên và môi trường, xây dựng, giáo dục và đào tạo, thông tin và truyền thông trên một nền tảng thống nhất tại 30 quận, huyện, thị xã và 584 xã, phường, thị trấn. Ðến nay, 100% đơn vị trong hệ thống chính trị TP đã sử dụng phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc, phần mềm một cửa điện tử.

Trên toàn TP đã có 386 dịch vụ công mức độ 3 và 170 dịch vụ công mức độ 4 chiếm hơn 30% tổng số dịch vụ công của cơ quan hành chính TP. Trên cơ sở danh mục DVCTT đã được TP phê duyệt, Sở TT&TT cũng đang phối hợp với các đơn vị tiếp tục triển khai để đảm bảo đến hết năm 2018 đạt tỷ lệ 55% thủ tục hành chính được cung cấp mức độ 3 - 4. Với những nỗ lực trong triển khai, Hà Nội là địa phương dẫn đầu cả nước về tỷ lệ hồ sơ giao dịch qua mạng. Cụ thể, tỷ lệ hồ sơ đăng ký kinh doanh qua mạng đạt gần 100%; 70% người dân tự nộp hồ sơ trực tuyến.

Đáng chú ý, Sở TT&TT đang tổ chức triển khai thử nghiệm hệ thống một cửa điện tử dùng chung 3 cấp của TP, kết nối các DVCTT mức độ 3 - 4 tại một số sở, quận, huyện. Đồng thời, đang tích cực xây dựng Kiến trúc Chính quyền điện tử TP Hà Nội và Đề án xây dựng Thành phố thông minh để trình UBND TP ban hành trong năm 2018. Không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, việc ứng dụng CNTT trong quản lý, điều hành của các cơ quan ban ngành còn giúp hoạt động minh bạch, nhanh chóng hơn.

Theo kết quả xếp hạng mức độ sẵn sàng ứng dụng và phát triển CNTT (ICT index) năm 2018, do Bộ TT&TT và Hội Tin học Việt Nam công bố, Hà Nội xếp thứ ba cả nước. (Kinh Tế & Đô Thị 29/10, Trần Hà)Về đầu trang

Long An: Đột phá cải cách thủ tục hành chính

Mấy năm qua, Long An tích cực đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC), để hướng đến một nền hành chính công kiến tạo, phục vụ…, bước đầu tạo được sự tín nhiệm, hài lòng của người dân, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, góp phần đáng kể trong việc nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh…

Trung tâm Phục vụ hành chính công (TT PVHCC) của tỉnh Long An chính thức đi vào hoạt động từ ngày 17-10-2016. Với cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại và bằng sự phục vụ tận tâm, sau 2 năm đi vào hoạt động, trung tâm đã tạo được niềm tin cho “khách hàng”, qua đó chứng tỏ được nơi này là đầu mối “một cửa” rất hiệu quả, giúp người dân, doanh nghiệp tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại so với trước đây. Nhất là cùng lúc, “khách hàng” có thể thực hiện giao dịch nhiều TTHC với nhiều cơ quan nhà nước, biết được hồ sơ của mình đang ở đâu, khi nào xong…, thông qua tin nhắn SMS của trung tâm. Có thể nói, TT PVHCC tỉnh Long An được thành lập đã tạo bước đột phá trong cải cách TTHC của tỉnh, góp phần kéo giảm hồ sơ tồn đọng, quá hạn đến mức thấp nhất.

Hiện nay, ngoài TT PVHCC của tỉnh, các huyện trong tỉnh cũng thành lập trung tâm hành chính công (TTHCC) cấp huyện, mang lại hiệu quả, góp phần tạo bước đột phá trong cải cách TTHC chung của tỉnh Long An. Toàn tỉnh hiện có 15 TTHCC cấp huyện kết nối với TT PVHCC tỉnh. Chỉ tính 6 tháng đầu năm 2018, các TTHCC cấp huyện đã tiếp nhận và giải quyết hơn 34.000 hồ sơ, trong đó giải quyết trước hạn 7.500 hồ sơ. Trong số này, TTHCC thị xã Kiến Tường là TTHCC cấp huyện đầu tiên tại khu vực Đồng Tháp Mười. Từ khi được thành lập, trung bình mỗi ngày trung tâm này tiếp nhận khoảng hơn 100 lượt khách đến giải quyết và tư vấn về các TTHC.

Còn tại huyện Cần Giuộc, khi TTHCC của huyện này được thành lập và đi vào hoạt động cho đến nay, đã góp phần rút ngắn thời gian giải quyết TTHC, đối với hồ sơ có phiếu hẹn, phần mềm tự động cập nhật và thông báo kết quả giải quyết thông qua dịch vụ gửi tin nhắn SMS, thư điện tử cũng góp phần làm hài lòng khách hàng đến giao dịch.

Có thể nói, từ khi có TT PVHCC của tỉnh Long An, rồi TTHCC cấp huyện đã đơn giản hóa TTHC, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, nâng cao chỉ số PCI, PAPI của tỉnh. Theo tìm hiểu, năm 2017, chỉ số PAPI của Long An đạt 38,3/60 điểm, đứng thứ 11/63 tỉnh, thành và được xếp vào nhóm I của cả nước, tăng 11 bậc so với năm 2016. Chỉ số PCI của tỉnh cũng đứng hàng thứ 4 trong bảng xếp hạng, thuộc nhóm Tốt với 66,7/100 điểm, tăng 11 bậc so với năm 2016. (Sài Gòn Giải Phóng 29/10, Kiến Văn)Về đầu trang

Cải cách hành chính “3 trong 1” ở Đà Nẵng

Thành phố Đà Nẵng có nhiều đột phá trong cải cách thủ tục hành chính công của cả nước. Một trong những sáng kiến đang được ứng dụng hiệu quả rộng rãi đó là qui trình “3 trong 1” liên thông giải quyết 1 lần tại bộ phận 1 cửa 3 loại giấy gồm: giấy khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ 6 tuổi.

Phường Hoà Phát, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng là địa phương đầu tiên triển khai qui trình “3 trong 1” khi giải quyết 3 loại giấy tờ 1 lần gồm: giấy khai sinh, đăng ký thường trú và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ 6 tuổi tại bộ phận một cửa của phường. Thay vì phải qua nhiều nơi, đi lại nhiều lần, người dân chỉ đến bộ phận 1 cửa của phường làm thủ tục.

Ông Nguyễn Quốc Vinh, ở phường Hòa Phát cho biết, trước đây, khi làm giấy tờ cho đứa con đầu, ông phải đến UBND phường làm giấy khai sinh và Bảo hiểm y tế, sau đó đến Công an quận để đăng ký thường trú, mất gần 1 tháng mới có kết quả. Bây giờ, chỉ sau 1 tuần, ông nhận được cả 3 loại giấy khai sinh, bảo hiểm y tế và hộ khẩu cho con.

“Khi công dân tới đưa giấy tờ xong, cán bộ, nhân viên ở phường giúp rất nhiệt tình, làm thủ tục và chứng thực liền chứ không đợi chờ lâu. Việc giải quyết về  thủ tục hành chính mình rất hài lòng”, ông Vinh nói.

Thực hiện thí điểm tại phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ vào năm 2014, đến nay quy trình “3 trong 1” về giải quyết 3 loại giấy tờ 1 lần gồm: giấy khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ 6 tuổi được nhân rộng toàn thành phố Đà Nẵng.

Quy trình này trở thành điểm nhấn trong việc đổi mới, nâng cao cải cách hành chính công của thành phố Đà Nẵng. Với qui trình này, cán bộ phường sẽ làm mọi việc thay người dân, thời gian rút ngắn chỉ còn 1/3 so với trước đây, giảm chi phí cho công dân, tổ chức.

Ông Mai Xuân Tuấn, Chủ tịch UBND phường Hòa Phát, quận Cẩm Lệ cho biết, địa phương đang xây dựng quy trình “4 trong 1” liên thông giải quyết 4 hồ sơ gồm: Đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hỗ trợ chế độ mai táng phí và trợ cấp một lần đối với người có công cách mạng.

 “Việc thực hiện mô hình “4 trong 1” thì chúng tôi đã xây dựng phương án cụ thể và đã làm việc với ngành chức năng của quận Cẩm Lệ. Hiện nay, UBND quận Cẩm Lệ đã chỉ đạo phường xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện thí điểm mô hình này trên địa bàn phường, nếu có khả quan thì sẽ đưa vào thực hiện thực tế đại trà trên địa bàn quận Cẩm Lệ”, ông Tuấn cho hay.

Cơ chế một cửa liên thông, giải quyết thủ tục một lần nhiều loại giấy tờ được thực hiện hiệu quả tại các phường, xã, quận, huyện và các sở, ban, ngành trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Cùng với đó, thành phố đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cải cách hành chính. Đến nay, mạng lưới kết nối thông tin đã phủ khắp cả 3 cấp phường, xã, quận, huyện và thành phố cùng các cơ quan, đơn vị.

Ông Nguyễn Quang Thanh, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng cho biết, hơn 300 phần mềm chuyên ngành được các đơn vị, địa phương ứng dụng hiệu quả trong cải cách hành chính.

“Ứng dụng công nghệ thông tin của thành phố Đà Nẵng phục vụ cho công tác cải cách hành chính phải được liên kết lâu dài, đồng bộ giữa quận với phường, giữa sở với các đơn vị, bởi vì công nghệ luôn luôn thay đổi. Và rõ ràng, yêu cầu từ tổ chức, công dân ngày càng cao hơn. Chúng tôi tập trung mọi nguồn lực, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đối với triển khai chính quyền điện tử, đặc biệt là triển khai dịch vụ công trực tuyến, đóng góp vào quá trình cải cách hành chính”, ông Nguyễn Quang Thanh nói.

Theo Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Đà Nẵng, nhiều thủ tục hành chính về đất đai, lao động thương binh xã hội, đăng ký kinh doanh…được các sở, ngành tích hợp để giải quyết nhanh hơn. Thành phố Đà Nẵng cũng cắt giảm nhiều thủ tục hành chính rườm rà, không cần thiết, rút ngắn thời gian, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp. (VOV.vn 27/10, Đình Thiệu)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Bỏ hình thức quản lý dân cư theo sổ hộ khẩu: Thận trọng, có lộ trình cụ thể

Xung quanh việc xây dựng Dự án Luật Cư trú (sửa đổi), trong đó có phương án bãi bỏ hình thức quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú và thay thế bằng hình thức quản lý theo số định danh cá nhân, lãnh đạo Bộ Tư pháp đề nghị cần đánh giá tác động một cách thận trọng, có lộ trình cụ thể.

Luật Cư trú ban hành năm 2006 quy định nghiêm cấm lạm dụng quy định về sổ hộ khẩu để hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, có rất nhiều thủ tục “ăn theo” hộ khẩu, gây khó khăn, trở ngại cho cuộc sống của người dân. Để giải quyết tình trạng trên, Dự án Luật Cư trú bãi bỏ hình thức quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú và thay thế bằng hình thức quản lý theo số định danh cá nhân cập nhật từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho công dân trong đăng ký cư trú cũng như nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về cư trú và bảo đảm thống nhất với hệ thống pháp luật.

Mặc dù ủng hộ việc đổi mới theo hướng đơn giản hóa thủ tục hành chính trong Dự án Luật sửa đổi, tuy nhiên, các chuyên gia vẫn băn khoăn về tính khả thi vì Dự án tác động đến gần 200 văn bản quy phạm pháp luật; đồng thời, để hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư dự kiến tốn chi phí hơn 3.000 tỷ đồng. Do đó, cơ quan chủ trì soạn thảo cần đánh giá tác động chính sách một cách rõ ràng, toàn diện đến người dân và xã hội.

Xung quanh phương án bãi bỏ hình thức quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú và thay thế bằng hình thức quản lý theo số định danh cá nhân, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Trần Tiến Dũng nhận định, cách thức quản lý dân cư ở nước ta cần tiếp cận mô hình quản lý công dân theo hướng tích hợp, đơn giản mà các nước tiên tiến đang áp dụng. Phạm vi điều chỉnh của Dự án Luật phải đánh giá được tác động khi bãi bỏ hình thức quản lý theo hộ gia đình; đồng thời, phải tính tới vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân. Bên cạnh đó, cơ quan chủ trì soạn thảo phải cân nhắc tới tính khả thi vì mọi chính sách của Dự án Luật đều bắt nguồn từ cơ sở dữ liệu. Chỉ khi nào hoàn thiện được cơ sở dữ liệu mới bắt đầu bỏ sổ hộ khẩu, bỏ các thủ tục nên cần lộ trình cụ thể. Ngoài ra, phải tính toán tới vấn đề ngân sách, vấn đề bảo mật thông tin khi chia sẻ cơ sở dữ liệu dân cư tới các tổ chức đã được xã hội hóa.

Trao đổi với phóng viên, Luật sư Nguyễn Hồng Quang - Giám đốc Công ty Luật Hồng Quang cho hay, trên thế giới hiện chỉ còn vài nước quản lý dân cư bằng sổ hộ khẩu, gồm Trung Quốc, Triều Tiên và Việt Nam. “Đối với Việt Nam, việc thay thế sổ hộ khẩu bằng công cụ khác cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện, thấu đáo trên cơ sở đánh giá những ưu, nhược điểm và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước. Thông qua việc đánh giá, nếu thấy việc thay đổi là cần thiết thì cần phải có lộ trình phù hợp để tránh gây xáo trộn trong công tác quản lý Nhà nước” – luật sư Quang khẳng định. (Kinh Tế & Đô Thị 29/10, Phương Nguyên)Về đầu trang

Sửa Luật Quản lý thuế: Cải cách thủ tục hành chính trong giải quyết hoàn thuế

Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung về hoàn thuế. Theo đó, việc hoàn thuế sẽ được xây dựng trên nguyên tắc quản lý rủi ro, giảm thiểu thủ tục hành chính, hướng tới giải quyết công tác này nhanh, gọn, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế.

Tổng cục Thuế cho biết, Luật Quản lý thuế hiện hành đang quy định hoàn thuế theo các loại Luật thuế như: Luật thuế Xuất nhập khẩu, Luật thuế Thu nhập cá nhân, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và các Luật thuế khác. Bên cạnh đó, Luật Quản lý thuế hiện hành đang quy định 4 điều liên quan đến hoàn thuế, gồm: Các trường hợp thuộc diện hoàn thuế; hồ sơ hoàn thuế; Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế trong việc tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế; Trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc giải quyết hồ sơ hoàn thuế.

Theo ông Lưu Đức Huy, Vụ trưởng Vụ Chính sách, Tổng cục Thuế, hiện nay vẫn đang có một số vướng mắc cụ thể cả trong quy định của Luật cũng như trong thực tế. Cụ thể, Luật Quản lý thuế hiện hành đang quy định hoàn nộp thừa theo một số luật thuế liên quan, tuy nhiên lại không bao quát hết các trường hợp hoàn nộp thừa.

Một vướng mắc khác về hoàn thuế nữa là việc phân loại hồ sơ kiểm tra trước khi hoàn. Luật Quản lý thuế hiện hành quy định cụ thể một số trường hợp phải kiểm tra trước hoàn như hoàn lần đầu, hoàn miễn trừ ngoại giao, hoàn với doanh nghiệp chuyển đổi mô hình tổ chức, không thực hiện giao dịch thanh toán qua ngân hàng, không giải trình bổ sung thông tin trong hồ sơ hoàn thuế...

“Tuy nhiên, trên thực tế đã có nhiều trường hợp phải kiểm tra trước khi hoàn, nhưng cơ quan Thuế không đủ nguồn lực thực hiện và chưa theo nguyên tắc quản lý rủi ro, dẫn đến tính thực thi của luật chưa cao”, đại diện Tổng cục Thuế thừa nhận.

Bên cạnh đó, đối với vấn đề thẩm quyền quyết định hoàn thuế, Luật Quản lý thuế hiện hành giao cục trưởng cục thuế hoặc thủ trưởng cơ quan quản lý thu có thẩm quyền quyết định hoàn thuế, không phân biệt theo thẩm quyền phê duyệt của dự án đầu tư, độ lớn khoản được hoàn hoặc mức độ phức tạp đòi hỏi chuyên môn cao của một số trường hợp giải quyết hoàn. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cũng cho rằng, để bảo đảm việc kiểm soát hoàn tiền thuế từ ngân sách nhà nước chặt chẽ, đúng đối tượng, giảm thiểu rủi ro, mất thuế, cần thiết có quy định phân cấp trách nhiệm thủ trưởng cơ quan tài chính, cơ quan thuế được quyền quyết định hoàn thuế.

Theo đại diện ban soạn thảo dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi, để bảo đảm tính khái quát về trường hợp hoàn thuế, phù hợp với thực tế phát sinh, dự thảo Luật đã đề xuất quy định hoàn thuế theo 2 trường hợp: Hoàn theo quy định của pháp luật về thuế (theo quy định của từng sắc thuế) và hoàn trả tiền nộp thừa đối với trường hợp người nộp thuế có số tiền đã nộp ngân sách nhà nước lớn hơn số phải nộp ngân sách nhà nước.

“Trên cơ sở đó, chương Hoàn thuế tại dự thảo đã quy định rõ về hồ sơ hoàn thuế; các trường hợp hoàn thuế; tiếp nhận phản hồi thông tin hồ sơ hoàn thuế, và thẩm quyền quyết định hoàn thuế, thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế”, ông Lưu Đức Huy cho hay.

Về thẩm quyền hoàn thuế, dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi cũng đã quy định rõ về thẩm quyền hoàn thuế. Theo đó, thẩm quyền đối với trường hợp hoàn thuế theo chính sách bao gồm: Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, Cục trưởng Cục thuế tỉnh, thành phố; Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan nơi phát sinh số tiền thuế được hoàn ban hành quyết định đối với trường hợp hoàn thuế theo quy định của pháp luật về thuế). Thẩm quyền đối với hoàn nộp thừa, thủ trưởng cơ quan quản lý thuế quản lý khoản thu ban hành quyết định.

Một trong những điểm mới đáng chú ý nữa là vấn đề kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế. Cụ thể, dự thảo Luật đã bổ sung quy định thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế theo nguyên tắc quản lý rủi ro. Điều 77 dự thảo Luật quy định: “Cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra, thanh tra đối với hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước theo nguyên tắc rủi ro từ cao xuống thấp và chậm nhất trong 5 năm kể từ ngày quyết định hoàn thuế. Thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý thuế đối với hồ sơ hoàn thuế được thực hiện theo quy định tại luật này”. Quy định này được cho là phù hợp với những cải cách thủ tục hành chính thuế theo tinh thần Nghị quyết 19 của Chính phủ về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, Nghị quyết 35 của Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

Tổng cục Thuế khẳng định, dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi sẽ hoàn thiện các quy định về hoàn thuế với mục tiêu áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro trong giải quyết hoàn thuế dựa trên cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế qua công tác quản lý của cơ quan thuế và thu thập từ các cơ quan khác có liên quan.

Đồng thời sẽ cải cách thủ tục hành chính trong giải quyết hoàn thuế, rõ ràng về cơ chế trách nhiệm trong giải quyết hoàn thuế. Cụ thể, đối với một số trường hợp hoàn thuế nộp thừa, việc hoàn thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân thì không yêu cầu gửi giấy đề nghị hoàn, mà thông tin đề nghị hoàn sẽ căn cứ trên tờ khai thuế để giải hoàn thuế. Ban soạn thảo Luật cũng yêu cầu Chính phủ quy định cụ thể hồ sơ hoàn thuế đối với các trường hợp được hoàn thuế nộp thừa tiêu thụ đặc biệt, bảo vệ môi trường, hoàn thuế giá trị gia tăng trường hợp xuất khẩu, đầu tư.... (Hải Quan 28/10, Thuỳ Linh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Năm 2019, chi cải cách tiền lương và tinh giản biên chế 43.350 tỷ đồng

Báo cáo công khai Dự toán ngân sách nhà nước năm 2019 Chính phủ trình Quốc hội vừa được Bộ Tài chính công bố cho thấy, năm 2019, chi cải cách tiền lương và tinh giản biên chế là 43.350 tỷ đồng, tăng hơn 7.523 tỷ đồng so với năm nay.

Để thực hiện nguồn chi này, ngân sách trung ương sẽ chi 16.200 tỷ đồng và ngân sách địa phương chi trả 27.150 tỷ đồng. Đáng chú ý, 50% tăng thu dự toán ngân sách địa phương sẽ được sử dụng để tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương.

Đây là một phần trong tổng chi thường xuyên 1.042.816 tỷ đồng, trong đó, chi của ngân sách trung ương là 470.948 tỷ đồng và chi của ngân sách địa phương là 571.868 tỷ đồng.

Liên quan đến chi cải cách tiền lương, Bộ Tài chính cho biết, từ ngày 1/7/2019 thực hiện điều chỉnh lương cơ sở, lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công tăng 7% và tăng lương cơ sở lên 1,49 triệu đồng/tháng. Việc điều chỉnh tiền lương cơ sở dự kiến sẽ làm tăng chi khoảng 16.200 tỷ đồng. (Baodauthau.vn 29/10, Hoàng Oanh)Về đầu trang

Chi thường xuyên lớn “không chỉ cho bộ máy mà cho cả người dân”

Nhiều vấn đề liên quan tới thu – chi ngân sách và nợ quốc gia đã được làm rõ trong các phiên thảo luận tại Quốc hội những ngày qua.

Đại biểu Bùi Văn Phương, đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Ninh Bình cho rằng: Chủ trương của Nghị quyết số 18 và Nghị quyết số 19 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về sắp xếp tổ chức bộ máy về tiếp tục cải cách hành chính tinh giản bộ máy hành chính là rất đúng đắn.

Nhưng trong quá trình tổ chức thực hiện, đặc biệt là khâu thông tin, truyền thông thực hiện có phần chưa chặt chẽ, đầy đủ dẫn đến có việc hiểu lầm.

"Chúng ta nói chi thường xuyên trong ngân sách nhà nước tới gần 70%, nhưng chi thường xuyên trong này có 13 nội dung chi; trong đó có chi cho quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế, an sinh xã hội..., chứ không chỉ là chi cho bộ máy”, đại biểu phát biểu và kiến nghị cần đẩy mạnh truyền thông để người dân nhận thức đầy đủ.

“Chúng ta chi cho sự nghiệp y tế, giáo dục, đó là nhà nước đang bao cấp cho người dân, tức là chi cho người dân trong hai lĩnh vực này, nếu không, chúng ta đi bệnh viện, đi học phải đóng tiền như các đơn vị tư nhân. Việc chi của nhà nước là chi cho cả người dân chứ không chỉ vì cho bộ máy,"- đại biểu nhấn mạnh và khẳng định chi cho bộ máy hành chính chỉ khoảng 10% chi thường xuyên.

Liên quan tới băn khoăn của một số đại biểu về tình hình nợ quốc gia, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ - đại biểu Quốc hội đoàn Hà Tĩnh - đã làm rõ thêm một số thông tin.

Ngoài ra lý giải nợ quốc gia tăng, Phó Thủ tướng cho biết cơ cấu nợ này gồm nợ Chính phủ và các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước. Phó Thủ tướng khẳng định hiện nay, tỷ lệ nợ Chính phủ trong nợ quốc gia giảm mạnh còn nợ của khối tư nhân thì tăng lên.

“Vừa qua có việc doanh nghiệp của Thái Lan ThaiBev mua lại cổ phần Nhà nước ở Sabeco có giá trị khoảng 5 tỷ USD nhưng pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam nên ngoài vốn chủ sở hữu, doanh nghiệp này phải đi vay để huy động số tiền lớn để được chi phối ở Sabeco. Nợ này được tính vào nợ quốc gia nhưng Chính phủ không có nghĩa vụ phải trả nợ. Tương tự như vậy khi Vingroup vay nợ trên thị trường tài chính quốc tế để xây dựng Hãng ô tô Vinfast. Các doanh nghiệp tự nhân phải trả khoản này. Khi bán được ô tô, họ sẽ có dòng tiền để trả nợ và nợ này sẽ giảm. Việc này có rủi ro là tỷ giá và lãi suất USD có tăng lên nhưng Chính phủ đã lường trước để kiểm soát việc này.”, Phó Thủ tướng lấy ví dụ.

Phó Thủ tướng cho rằng nhận định của một số đại biểu Quốc hội cho rằng nợ công tăng cao hơn GDP là chính xác nhưng nhìn lại 3 năm qua, Chính phủ đã nỗ lực để giảm mức tăng của nợ công. Từ năm 2015 trở về trước, GDP bình quân tăng 6% nhưng nợ công tăng gấp 3 lần ở mức 18%. Hiện nay, nợ công vẫn tăng nhưng chỉ còn tăng khoảng 8% so với tăng GDP là 6,7%.

Đối với bảo lãnh Chính phủ, Phó Thủ tướng cho biết năm 2017, Chính phủ không bảo lãnh cho doanh nghiệp nào. Năm 2018 Chính phủ chỉ bảo lãnh cho 2 dự án quan trọng của ngành điện còn năm 2019 thì hạn mức bảo lãnh cũng rất thấp nhằm bảo đảm an toàn nợ công.

Tại đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao việc Quốc hội thảo luận sâu về thu chi ngân sách Nhà nước.

Về nội dung này, Thủ tướng nhấn mạnh quan điểm: “Đừng có mặc áo quá đầu. Liệu cơm gắp mắm để giữ cân đối, kể cả nợ công. Nếu đi vay tràn lan cho đầu tư phát triển sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ. Làm gì cũng đúng mức, hiệu quả. Tất nhiên nếu dừng lại không làm gì cũng chết nhưng đầu tư bừa bãi còn nguy hiểm hơn”.

Báo cáo của Chính phủ nhấn mạnh, năm 2018, chi ngân sách nhà nước được kiểm soát chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả hơn. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển đạt 26,8%, cao hơn giai đoạn trước (23,6%) và kế hoạch 2016 - 2020 (25 - 26%) . Mặc dù hàng năm vẫn bảo đảm nguồn tăng lương cơ sở 7% nhưng tỷ trọng chi thường xuyên vẫn giảm còn 63,3%,  thấp hơn đầu nhiệm kỳ (năm 2015 là 67,7%) và kế hoạch 2016 - 2020 (dưới 64%).

Bội chi ngân sách nhà nước ước khoảng 3,67% GDP, thấp hơn mục tiêu đề ra (3,7%), dự kiến đến năm 2020 còn 3,4% (mục tiêu đề ra là dưới 4%). Nợ công khoảng 61,4% GDP, giảm mạnh so với mức 63,7% năm 2016. (Báo Chính Phủ Điện Tử 29/10, Thanh Hằng)Về đầu trang

Hải Phòng: Cán bộ, công chức không sử dụng rượu bia trong giờ làm việc

Chủ tịch UBND TP. Hải Phòng Nguyễn Văn Tùng vừa ban hành Chỉ thị số 21 về việc không sử dụng rượu, bia trong giờ làm việc và khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Qua đó, nhằm nâng cao kỷ luật, kỷ cương hành chính và nâng cao nhận thức, ý thức tự giác chấp hành pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi tham gia giao thông, góp phần giảm tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn thành phố.

Theo đó, Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu tiếp tục thực hiện nghiêm quy định về không sử dụng rượu, bia, đồ uống có cồn trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa của ngày làm việc, ngày trực ở cơ quan, đơn vị theo quy định tại Quyết định số 1293/2012 của UBND thành phố và Chỉ thị số 21/CT của UBND thành phố năm 2016; Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật về việc không điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi đã sử dụng rượu, bia, đồ uống có cồn.

Chủ tịch UBND thành phố cũng yêu cầu thủ trưởng các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND quận, huyện, xã, phường, thị trấn và người đứng đầu cơ quan đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thành phố cần tổ chức quán triệt đầy đủ nội dung Chỉ thị này đến cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả với cấp ủy Đảng, chính quyền, cơ quan báo chí và nhân dân trong phòng ngừa, chấn chỉnh, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm theo quy định. Bổ sung trách nhiệm việc thực hiện Chỉ thị này vào tiêu chí để đánh giá, xếp loại thi đua cán bộ, công chức, viên chức, người lao động hàng năm của cơ quan, đơn vị.

Ban An toàn giao thông thành phố chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn giao thông, các quy định về phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia, đồ uống có cồn. Công an thành phố chỉ đạo lực lượng Cảnh sát giao thông tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm các vi phạm về nồng độ cồn trong máu và khí thở của người điều khiển phương tiện giao thông.

Tại Chỉ thị này, Chủ tịch UBND thành phố yêu cầu người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương định kỳ hàng năm báo cáo tình hình thực hiện Chỉ thị tại cơ quan, đơn vị, địa phương mình quản lý và các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc theo phân cấp báo cáo gửi UBND thành phố. Giám đốc Công an thành phố định kỳ hàng năm tổng hợp tình hình cán bộ, công chức, viên chức, người lao động vi phạm quy định về việc sử dụng rượu, bia, đồ uống có cồn khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông, báo cáo UBND thành phố; đồng thời thông báo cho cơ quan, đơn vị có cán bộ, công chức, viên chức, người lao động vi phạm biết, phối hợp xử lý kỷ luật hành chính theo quy định. (Đại Biểu Nhân Dân 27/10, tr5, Đông Bắc) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Tổng thống Zimbabwe bất lực nhìn nền kinh tế nước nhà sụp đổ

Chính quyền của tổng thống Emmerson Mnangagwa đã tự in tiền giả của quốc gia mình. Điều này chắc chắn dẫn đến siêu lạm phát và sụp đổ tiền tệ.

Khi Tổng thống Emmerson Mnangagwa tranh cử hồi tháng 7 cho chức Tổng thống Zimbabwe, ông hứa sẽ trở thành một nhà lãnh đạo thân thiện với doanh nghiệp và khiến nền kinh tế của đất nước trở nên thịnh vượng hơn. Nhưng thực tế cho thấy, ông Mnangagwa đã thể hiện mình không có khả năng thay đổi thế cục của đất nước.

Chính quyền của ông Mnangagwa đang phải vật lộn để vượt qua nền kinh tế quốc gia đã bị tàn phá trong hơn hai thập niên dưới thời ông Robert Mugabe. Nguyên do là bởi chi tiêu tràn lan, bẫy nợ khổng lồ, tham nhũng vô kể và tàn phá nghiêm trọng ngành nông nghiệp của đất nước.

Theo tờ Quartz, điểm yếu của nền kinh tế Zimbabwe là không bền vững. Chính phủ trong những căng thẳng như vậy sẽ cầu cứu Quỹ tiền tệ quốc tế cho một gói cứu trợ, như Pakistan vừa mới thực hiện. Tuy nhiên, Zimbabwe đã nợ rất nhiều từ các tổ chức cho vay quốc tế và có rất ít tổ chức muốn giúp nước này thêm.

Hơn nữa, Chính phủ Zimbabwe cũng đang ôm một khoản thấu chi khổng lồ. Bây giờ, nước này đang cố gắng áp thuế 2% cho các giao dịch tài chính điện tử nội bộ. Điều này càng làm rõ hơn sự tuyệt vọng từ Chính phủ. Nếu được triển khai, doanh thu có thể mang lại gấp đôi doanh thu như được tính từ VAT hàng năm. Nhưng điều đó đã thúc đẩy thương mại ngầm. Nó cũng làm người tiêu dùng ái ngại về nền tài chính trong tay các nhà cầm quyền hiện tại.

Theo một số nguồn tin, để phục hồi nền kinh tế, Chính phủ Zimbabwe cần phải thừa nhận những giao dịch tham nhũng và lấy lại những khoản tiền khổng lồ đã được tuồn ra khỏi đất nước vì rửa tiền. Hành động theo hướng đó sẽ giúp bắt đầu khôi phục lòng tin, một bước tiến tới nền kinh tế thịnh vượng.

Nhà đầu tư cũng có thể quay trở lại nếu tiền tệ trở nên khá hơn. Nhưng điều đó chỉ xảy ra sau khi sa thải của các bộ trưởng, bãi bỏ dịch vụ dân sự, cắt giảm quân sự, và nhiều hành động khác cho thấy ông Mnangagwa và Bộ trưởng Tài chính của ông đã nghiêm túc trong việc giảm nợ nần. Việc cắt giảm một số thỏa thuận với IMF cũng sẽ cần thiết, nhưng điều đó có thể có nghĩa là giao cho các cố vấn nước ngoài kiểm soát kho bạc. (Dân Trí 29/10, Hồng Vân)Về đầu trang./.

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.044.462 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này