Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 02/11/2020
1. TPHCM: “Mỗi cán bộ là đại sứ trong cải cách hành chính”
2. Cam Lâm, Khánh Hòa: Khảo sát mức độ hài lòng dịch vụ hành chính công
3. Ứng dụng công nghệ thông tin tạo nhiều đột phá cho ngành tài chính
4. CITES tiếp nhận 113 hồ sơ qua Hệ thống một cửa Quốc gia
5. Tuyên Quang: 46 cán bộ, công chức, viên chức không bị thu hồi quyết định tuyển dụng
6. Vĩnh Phúc nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
7. Giải trình nguồn gốc tài sản gian dối: Kỷ luật nặng!
8. Nộp hồ sơ "on", thanh toán "off"
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TPHCM: “Mỗi cán bộ là đại sứ trong cải cách hành chính”
Đó là ý kiến chỉ đạo của ông Ngô Minh Châu - phó chủ tịch UBND TP.HCM - tại hội nghị tổng kết chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 và phương hướng, nhiệm vụ giai đoạn 2021-2030, sáng 30-10.
Báo cáo tại hội nghị, bà Ngô Thị Hoàng Các - phó giám đốc Sở Nội vụ - cho biết giai đoạn 2011-2020, TP đã tập trung triển khai xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách pháp luật trong cải cách hành chính.
Giai đoạn 2011-2015, TP thực thi 197/197 thủ tục hành chính, kiến nghị đơn giản hóa 77 thủ tục, sửa đổi bổ sung 41 thủ tục, bãi bỏ 18 thủ tục… Giai đoạn 2016-2019, TP đề xuất phương án đơn giản hóa 44 thủ tục hành chính.
Các đơn vị đã rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, đa dạng hóa cách thức thực hiện, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; triển khai cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" trong tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính.
Theo bà Các, TP đã tăng cường cơ chế tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp, năm 2019 số người được UBND giao làm việc giảm gần 25.000 người so với năm 2017. TP đang triển khai sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, xã chưa đạt chuẩn 50% cả về tiêu chuẩn diện tích và dân số; tinh giản biên chế, nâng cao hiệu quả hoạt động.
Các đơn vị đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính, thúc đẩy xây dựng chính quyền điện tử.
Phát biểu tại hội nghị, ông Nguyễn Trọng Thừa - thứ trưởng Bộ Nội vụ - đánh giá cao kết quả TP.HCM đạt được trong cải cách hành chính. Theo ông Thừa, TP.HCM đã lấy dân làm trung tâm của cải cách, sự hài lòng của người dân là thước đo chất lượng, hiệu quả công việc.
Trong đó, ông Thừa cho rằng đề án thành lập TP Thủ Đức đã được TP triển khai xây dựng tích cực. Việc thành lập TP Thủ Đức là phù hợp với yêu cầu thực tiễn, gắn liền với thực hiện chủ trương tinh gọn bộ máy, tinh giản biên chế.
Tuy nhiên, ông Thừa cho rằng một số đơn vị còn chưa cập nhật, công khai kịp thời thủ tục hành chính, tình trạng trễ hẹn trong giải quyết thủ tục hành chính còn xảy ra, việc tinh giản biên chế còn bất cập.
Ông Thừa chỉ đạo TP.HCM trong thời gian tới tiếp tục triển khai các biện pháp cụ thể đẩy mạnh cải cách hành chính, kịp thời khắc phục hạn chế. TP cần đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu quả. (Tuoitre.vn 01/11, Mai Hương – Thảo Lê)Về đầu trang
Cam Lâm, Khánh Hòa: Khảo sát mức độ hài lòng dịch vụ hành chính công
UBND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa vừa ban hành kế hoạch đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với UBND huyện. Theo đó, việc khảo sát nhằm đo lường khách quan, chính xác chất lượng dịch vụ và mức độ hưởng thụ lợi ích từ dịch vụ hành chính công. Thông qua đó, xây dựng và thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thủ tục hành chính và dịch vụ công.
Thời gian điều tra từ ngày 15-10 đến 15-11, bằng các hình thức: Phát phiếu điều tra; phỏng vấn điện thoại; phỏng vấn trực tiếp tại nhà công dân và bộ phận một cửa của huyện. Tổng cộng có 150 phiếu phân bổ cho các phòng chuyên môn: Tài chính - Kế hoạch; Tư pháp; Tài nguyên - Môi trường; Kinh tế hạ tầng.
Huyện giao Phòng Nội vụ chủ trì, triển khai theo tiến độ, tổng hợp, báo cáo UBND huyện; đề xuất giải pháp khắc phục, cải tiến, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công; Phòng Tài chính - Kế hoạch lập dự toán, bố trí kinh phí thực hiện; Trung tâm Văn hóa, Thông tin và Thể thao, Cổng Thông tin điện tử phổ biến tuyên truyền và công bố kết quả khảo sát đến người dân. (Baokhanhoa.vn 01/11, Q.V)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Ứng dụng công nghệ thông tin tạo nhiều đột phá cho ngành tài chính
Thời gian qua, việc triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn ngành tài chính cho thấy thay đổi tích cực trong công tác quản lý nhà nước, trở thành phong trào thi đua yêu nước mang lại hiệu quả rõ rệt cho toàn xã hội, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.
Thanh toán điện tử (E-payment) là Đề án nộp thuế điện tử và thông quan 24/7 được Tổng cục Hải quan triển khai từ năm 2017. Với hình thức này, doanh nghiệp (DN) có thể nộp tiền thuế vào mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện, bảo đảm thông tin nộp tiền được thanh khoản thuế kịp thời, chính xác. Giảm thời gian nộp thuế, đồng thời thông quan hàng hóa ngay sau khi nộp thuế, DN rút ngắn được rất nhiều thời gian hoàn thành thủ tục hải quan (TTHQ).
Trong thời gian qua, hệ thống thông quan điện tử VNACCS/VCIS đã được triển khai thực hiện tại 100% Cục, Chi cục Hải quan trong phạm vi cả nước, với 99,65% DN tham gia thực hiện. Đến nay, tất cả TTHQ cơ bản đã được tự động hóa với thời gian xử lý bộ hồ sơ hải quan chỉ từ một tới ba giây.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tính đến thời điểm hiện tại, số thu ngân sách bằng phương thức điện tử đạt 97,1% tổng số thu ngân sách, cao gấp hơn 1,5 lần so với giai đoạn 2011-2015.
Ứng dụng CNTT đã tạo ra những thành tích nổi bật của Tổng cục Hải quan trong giai đoạn 2016 - 2020. Năm 2019, đơn vị này đã được Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA) trao Giải thưởng "Cơ quan Nhà nước chuyển đổi số xuất sắc năm 2019".
Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT đã trở thành phong trào thi đua được triển khai rộng rãi tại các đơn vị của Bộ Tài chính. Trong giai đoạn 2016-2020, Bộ Tài chính đã phát động phong trào thi đua "Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, đẩy mạnh phát triển và ứng dụng CNTT xây dựng Bộ Tài chính điện tử", triển khai ứng dụng sâu rộng công nghệ trong hầu hết các hoạt động nghiệp vụ, quản lý nhà nước của ngành.
Trong đó, Bộ đã thực hiện xây dựng Chính phủ điện tử ngành tài chính, xây dựng hệ thống thông tin báo cáo kết nối với hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ, triển khai chương trình quản lý văn bản điều hành eDocTC, xây dựng chương trình quản lý văn bản và điều hành trên nền tảng Mobile App, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến...
Tại các đơn vị, việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT cũng trở thành phong trào thi đua được triển khai đồng bộ. Kho bạc Nhà nước cũng phát động phong trào thi đua “Tập trung nguồn lực thực hiện thành công Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước; đẩy mạnh cải cách và hiện đại hóa theo định hướng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; thực hiện tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động; hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao”.
Bộ Tài chính cũng triển khai phần mềm quản lý Thi đua - Khen thưởng và triển khai ứng dụng trong toàn ngành, giúp cho công tác thi đua khen thưởng của ngành được triển khai một cách hiệu quả, đồng bộ và thông suốt. (Nhandan.com.vn 01/11)Về đầu trang
CITES tiếp nhận 113 hồ sơ qua Hệ thống một cửa Quốc gia
Theo Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN-PTNT), thủ tục hành chính cấp giấy phép CITES qua hệ thống một cửa Quốc với xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu mẫu vật thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và mẫu vật động vật, thực vật hoang dã thuộc các Phụ lục CITES qua Hệ thống một cửa quốc gia đến nay được đơn vị thực hiện rất tốt.
Cụ thể, từ ngày 1/7/2020 đến nay, Cơ quan Quản lý CITES Việt Nam, Tổng cục Lâm nghiệp đã tiếp nhận 113 hồ sơ qua Hệ thống một cửa Quốc gia, trong đó đã giải quyết 108 hồ sơ, cấp 183 giấy phép, đang thực hiện giải quyết 5 hồ sơ.
Lĩnh vực văn phòng điện tử, đơn vị cũng duy trì tốt việc thực hiện phần mềm xử lý văn bản của Bộ. Phổ biến, tập huấn và quán triệt thực hiện Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư, duy trì trang tin điện tử của Tổng cục, cung cấp thông tin theo quy định.
Thực hiện các phần mềm, cơ sở dữ liệu quản lý ngành, tiếp tục duy trì cập nhật, sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu, phần mềm, ứng dụng được cài đặt, tích hợp trên Hệ thống thông tin quản lý ngành lâm nghiệp.
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống và thực hiện dịch vụ công trên phần mềm một cửa dùng chung của Bộ NN-PTNT, bắt đầu từ 01/9/2020. Tiếp tục duy trì Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2015, các ứng dụng theo dõi và cảnh báo sớm lửa rừng trong phòng chống và cảnh báo cháy rừng.
Trong lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, Tổng cục Lâm nghiệp tiếp tục thực hiện tốt các biện pháp phòng dịch đối với các tổ chức, cá nhân đến trụ sở Tổng cục nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết thủ tục hành chính.
Tổ chức các cuộc họp để lắng nghe, kịp thời tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy các doanh nghiệp, người dân duy trì sản xuất ổn định trong trạng thái bình thường mới trước diễn biến của dịch Covid-19.
Xử lý những kiến nghị, phản ánh của người dân, doanh nghiệp về các quy định liên quan đến thủ tục hành chính lĩnh vực lâm nghiệp về khai thác gỗ và lâm sản, giải đáp vướng mắc của cơ quan quản lý tại địa phương.
Về cải cách tài chính công, thực hiện quy định về phân bổ, điều hành dự toán phân giao dự toán, nhập dữ liệu kịp thời trên hệ thống Tabmis. Rà soát dự toán thu chi và thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước năm 2020, tổng hợp đề xuất báo cáo Bộ điều chỉnh dự toán và hoàn thành xây dựng dự toán ngân sách năm 2021. (Nongnghiep.vn 02/11)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Tuyên Quang: 46 cán bộ, công chức, viên chức không bị thu hồi quyết định tuyển dụng
Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang vừa ban hành Quyết định 1489/QĐ-UBND về việc không thu hồi quyết định tuyển dụng, giữ nguyên các quyết định có liên quan về công tác cán bộ đối với cán bộ, công chức, viên chức.
Các văn bản mà tỉnh Tuyên Quang làm căn cứ để ra quyết định không thu hồi quyết định tuyển dụng, giữ nguyên các quyết định có liên quan về công tác cán bộ đối với cán bộ, công chức, viên chức gồm:
Căn cứ Kết luận số 71-KL/TW ngày 24/3/2020 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xử lý sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức theo Thông báo kết luận số 43-TB/TW ngày 28/12/2017 của Bộ Chính trị; Căn cứ hướng dẫn số 2965/HD-BNV ngày 15/6/2020 của Bộ Nội vụ về xứ lý đối với những trường hợp có sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức.
Cùng một số Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang; Theo đề nghị của Sở Nội vụ Tuyên Quang.
Từ các căn cứ trên, Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang ban hành quyết định không thu hồi quyết định tuyển dụng, giữ nguyên các quyết định có liên quan về công tác cán bộ đối với 46 cán bộ, công chức, viên chức. Quyết định này có hiệu lực thi hành kế từ ngày ký.
Ngày 24/3/2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Kết luận số 71-KL/TW về xử lý sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức theo Thông báo kết luận số 43-TB/TW ngày 28/12/2017 của Bộ Chính trị.
Ngày 15/6/2020, Bộ Nội vụ có hướng dẫn về xứ lý đối với những trường hợp có sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức.
Như vậy, 46 cán bộ, công chức, viên chức theo Quyết định 1489/QĐ-UBND ngày 26/10/2020 không bị thu hồi quyết định tuyển dụng có thể trong công tác tuyển dụng đã có sai phạm. (Kinhtenongthon.vn 02/11, Hoàng Văn)Về đầu trang
Vĩnh Phúc nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên
Nhiều năm liền các cấp ủy trong toàn Ðảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc coi trọng nâng cao chất lượng tổ chức cơ sở đảng, đảng viên. Các cấp ủy tập trung chỉ đạo, ban hành các chủ trương, nghị quyết lãnh đạo trên các lĩnh vực sát với tình hình thực tiễn của địa phương, đơn vị.
Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy các cấp củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phát triển về số lượng, bảo đảm chất lượng; tập trung công tác bồi dưỡng kết nạp đảng viên mới, nhằm để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng trong toàn Ðảng bộ.
Ban Chấp hành Ðảng bộ tỉnh đã ban hành Ðề án số 04 về nâng cao chất lượng chi bộ đảng trong sạch, vững mạnh giai đoạn 2017- 2020; Kết luận số 13 về thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng chi bộ đảng trong giai đoạn hiện nay; Kế hoạch số 122 về rà soát, sàng lọc đảng viên và đưa các đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Ðảng; chỉ đạo các cấp ủy triển khai, thực hiện tốt việc quán triệt Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Ðảng, các quy định về nêu gương; Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị đến toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo...
Các cấp ủy tổ chức và giám sát cán bộ, đảng viên thực hiện rèn luyện, giữ gìn tư cách đạo đức, phẩm chất; duy trì chấp hành nghiêm Ðiều lệ Ðảng; nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện, học tập, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, vụ lợi cá nhân; chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, các biểu hiện tiêu cực khác. Công tác kiểm tra, giám sát việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình được coi trọng, đổi mới, bảo đảm sát thực tiễn, hiệu quả; việc rà soát, sàng lọc, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Ðảng được thực hiện nghiêm túc trong toàn Ðảng bộ.
Nhiệm kỳ 2015-2020, bình quân mỗi năm, Ðảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc kết nạp được 2.389 đảng viên (chỉ tiêu đại hội 2.300 đảng viên/ năm). Ðội ngũ đảng viên trên địa bàn tỉnh phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu trong học tập, công tác, lao động sản xuất, có bản lĩnh chính trị vững vàng. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt hơn 95%/năm; tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt gần 89%/năm (so với nhiệm kỳ trước là 85%). (Nhân dân 02/11)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Giải trình nguồn gốc tài sản gian dối: Kỷ luật nặng!
"Tôi chưa thấy có một cơ chế nào có thể kiểm soát hiệu quả nhất cả công tác kê khai lẫn công tác giám sát, kiểm tra việc kê khai"
Nghị định 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 và Luật Phòng chống tham nhũng 2018 quy định, người có nghĩa vụ kê khai mà kê khai không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử với người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, hay người đã được bầu, bổ nhiệm… thì bị áp dụng một trong các hình thức kỷ luật cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; với người được quy hoạch vào chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch…
Hoàn toàn đồng tình với các quy định trên, PGS.TS Võ Kim Sơn (Học viện hành chính Quốc gia) cho rằng, nếu thực hiện tốt, nghiêm túc việc kê khai, kiểm soát kê khai chắc chắn sẽ hạn chế được rất nhiều tình trạng gian dối nhằm che giấu, tẩu tán tài sản tham nhũng. Qua đó, cũng giúp công tác phòng chống, thu hồi tài sản tham nhũng hiệu quả hơn.
Vị PGS cho hay, lâu nay công tác kê khai tài sản của cán bộ, công chức vẫn là khâu yếu, còn hình thức và chiếu lệ, khiến việc thu hồi tài sản tham nhũng gặp nhiều khó khăn, tỉ lệ thu hồi thấp. Theo PGS Võ Kim Sơn, nguyên nhân là do công tác thực hiện kê khai chưa tốt nhưng bên cạnh đó, công tác giám sát, kiểm soát việc kê khai, xác minh kê khai đúng hay sai, đủ hay thiếu cũng yếu, vẫn chủ yếu dựa trên cơ chế tự giác, trung thực của người kê khai, chính vì thế mà hiệu quả chưa cao.
"Chúng ta vẫn chờ đợi người kê khai sẽ thật tâm, thật lòng, trung thực kê khai đầy đủ tài sản, thu nhập cá nhân, tuy nhiên, đây là việc không phải ai cũng làm được.
Nếu một cán bộ, công chức trong sáng, không tham ô, tham nhũng tôi tin tài sản cũng như hồ sơ họ kê khai cũng sáng rõ như ban ngày, họ không ngần ngại che giấu có mấy căn nhà, mấy lô đất, nguồn gốc dòng tiền mua nhà, mua đất đó kiếm được từ đâu.
Tuy nhiên, với một cán bộ, công chức đã có ý đồ và có hành vi tham ô, tham nhũng thì không dại gì họ khai hết để bị cách chức, kỷ luật, thậm chí là khởi tố hình sự.... Bởi, đi cùng với việc kê khai sẽ là giải trình nguồn gốc tài sản. Nếu phải kê khai đủ cả 10 lô đất, vài căn biệt thự, mấy cái siêu xe thì giải trình nguồn gốc tài sản đó thế nào? Tiền kiếm được từ đâu? Chẳng nhẽ lại để lộ ra cái đuôi tham ô, tham nhũng hay lại viện cớ nuôi lợn, buôn chổi đót mà trở thành đại gia?", PGS Võ Kim Sơn phân tích và khẳng định rất khó đặt niềm tin vào tính tự giác, trung thực của người kê khai.
Từ thực tế đó, vị PGS cho rằng để biết được họ có kê khai trung thực không, kê khai đủ không, thì lại phải cần tới cơ chế thứ hai, chính là cơ chế kiểm tra, giám sát việc kê khai. Nhưng cái khó của công tác kiểm tra, giám sát lại vướng phải một số cơ chế công khai, minh bạch khác.
Ông lấy ví dụ, muốn kiểm tra, giám sát hiệu quả thì phải biết được người kê khai có thu nhập bao nhiêu, có bao nhiêu tài khoản gửi ngân hàng, bao nhiêu căn nhà... Đây đều là những thông tin không dễ kiểm tra, bởi đều là những thông tin thuộc diện bí mật cá nhân, được bảo vệ theo luật pháp.
Như vậy, để các quy định mới có hiệu lực thực thi cao thì luật phải xác định thật rõ cơ chế kiểm tra, giám sát trong thực hiện kê khai tài sản của cán bộ, công chức. Trong đó, cơ chế giám sát có thể được điều chỉnh bằng nhiều thủ tục, pháp lý khác nhau. Ví dụ, khi thực hiện các giao dịch mua bán đất đai sẽ phải thực hiện giao dịch, số tiền mua bán, phải có tên chủ sở hữu... nếu nắm chắc được các quy trình này chắc chắn sẽ kiểm soát, giám sát được dòng tài sản chuyển dịch của người đứng ra mua đất, đồng thời cũng sẽ nắm rõ được thông tin người này đã thực hiện bao nhiêu giao dịch, mua bao nhiêu lô đất, từ đó cũng xác minh được dòng tiền thực hiện mua bán đất đai kiếm được từ đâu ra?
"Tới đây lại phải nói tới vai trò của cơ chế quản lý là vô cùng quan trọng. Chúng ta hoàn toàn ủng hộ các quy định xử lý nghiêm, ngăn chặn triệt để tình trạng gian dối, tham ô, tham nhũng, nhưng để làm được như vậy thì cả hai cơ chế kê khai; giám sát, kiểm tra kê khai muốn làm được tốt là một thách thức rất lớn hiện nay. Cho tới nay, tôi chưa thấy có một cơ chế nào có thể kiểm soát hiệu quả nhất cả công tác kê khai lẫn công tác giám sát, kiểm tra việc kê khai", vị chuyên gia nhấn mạnh.
Nhấn mạnh về cơ chế quản lý, PGS.TS Võ Kim Sơn lo ngại, nếu không làm tốt sẽ lại là kẽ hở hợp thức hóa các hành vi gian dối. Thậm chí là hai lần gian dối, thứ nhất là kê khai không trung thực và lần thứ hai chính là giải trình không trung thực.
Nhắc lại câu chuyện cán bộ giải trình xây biệt thự từ tiền nuôi lợn, buôn chổi đót, vị chuyên gia nói rõ, nếu công tác quản lý được làm tốt sẽ không có chuyện cán bộ, công chức giải trình thế nào cũng được, khai kiếm tiền từ đâu cũng xong.
"Tôi chỉ lấy ví dụ, nếu anh kê khai làm nhà từ buôn chổi đót, nuôi lợn thì thử làm phép tính trong 1 năm nuôi lợn, bán chổi có kiếm được 10 tỷ không? Nếu trong một năm anh kiếm được ngần ấy tiền, 10 năm sau anh làm biệt thự 100 tỷ thì đúng là tiền anh kiếm được từ nuôi lợn, bán chỗi, rõ ràng đó phải là tấm gương sáng, cần phải được biểu dương. Ngược lại, nếu một năm không kiếm được như vậy mà lại làm nhà nhiều hơn số tiền kiếm được thì phải đặt ra câu hỏi số tiền làm nhà có từ đâu?
Một phép tính đơn giản sẽ tính được ngay, đến khi đó, sẽ trả lời được ngay câu hỏi người kê khai đã trung thực, kê khai đúng, đủ hay chưa? Vai trò của cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát chính là phải làm rõ được điểm này.
Nếu cơ chế quản lý, kiểm soát không tốt thì không những không thể cách chức, xử lý được ai mà còn là cơ hội hợp thức hóa những hành vi gian dối. Điều này rất nguy hiểm", vị PGS chỉ rõ. (Baodatviet.vn 02/11, Lam Lam)Về đầu trang
Nộp hồ sơ "on", thanh toán "off"
Gần 6 năm kể từ khi Cổng thông tin một cửa quốc gia được vận hành vào cuối tháng 11/2014, nhưng đến nay vẫn chưa được tích hợp tính năng thanh toán điện tử.
Thanh toán điện tử hay thanh toán trực tuyến là hình thức giao dịch không sử dụng tiền mặt và hoạt động thanh toán được thực hiện trên môi trường internet. Các hình thức thanh toán điện tử phổ biến hiện nay gồm Internet Banking, Mobile Banking, ví điện tử hay tiền di động.
Hiện tại, Cổng một cửa quốc gia chưa có tính năng cho phép doanh nghiệp thanh toán trực tiếp lệ phí trên Cổng. Doanh nghiệp sau khi thực hiện thủ tục trên Cổng sẽ nhận thông báo lệ phí thủ tục hành chính từ bộ, ngành giải quyết thủ tục và thực hiện thanh toán thông qua dịch vụ ngân hàng hoặc nộp tiền mặt.
Chuyển khoản ngân hàng là hình thức thanh toán được sử dụng nhiều nhất, nhưng tiền mặt vẫn có vai trò quan trọng khi thực hiện các thủ tục hành chính xuất nhập khẩu.
Tiền mặt được 67% doanh nghiệp sử dụng trong các giao dịch hành chính với cơ quan kiểm dịch và 49% doanh nghiệp lựa chọn khi làm thủ tục với cơ quan cấp phép cho hàng hóa xuất nhập khẩu, tức là các bộ quản lý chuyên ngành. Tương tự, có trên 45% doanh nghiệp trả tiền mặt khi làm thủ tục hành chính với đơn vị cảng vụ, cơ quan y tế và tổ chức đánh giá sự phù hợp.
Theo kết quả khảo sát, nhìn chung doanh nghiệp đã sẵn sàng hạ tầng cho các giao dịch hành chính với cơ quan nhà nước bằng phương thức thanh toán điện tử khi 86,5% doanh nghiệp cho biết “chắc chắn sẽ tham gia ngay” hoặc “có thể sẽ tham gia ngay” nếu Cổng triển khai thanh toán điện tử. Chỉ khoảng 13,5% doanh nghiệp tham gia khảo sát chưa sẵn sàng cho sự thay đổi hình thức thanh toán.
Lý giải điều này, doanh nghiệp đưa ra các nguyên nhân như “chưa hiểu rõ về thanh toán điện tử” là lý do phổ biến nhất (36%), tiếp đến là “lo ngại về an toàn” (26%), “thủ tục thanh toán điện tử phức tạp” (23%) và “không muốn thay đổi” (11%). Những khó khăn này chủ yếu do sự thiếu thông tin gây nên.
Thực tế cho thấy, doanh nghiệp sử dụng thanh toán điện tử rất phổ biến trong các giao dịch kinh doanh thông thường. Theo kết quả khảo sát, 86% doanh nghiệp đã dùng thanh toán điện tử trong giao dịch kinh doanh trong vòng 12 tháng qua. Trong đó, khoảng 21% doanh nghiệp luôn luôn sử dụng hình thức này và 1/3 doanh nghiệp thường xuyên sử dụng. Tỷ lệ doanh nghiệp không thanh toán điện tử trong 1 năm trở lại đây chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ là 14%.
Ngoài các doanh nghiệp, thời gian qua, các ngân hàng cũng không ngừng thúc đẩy và mở rộng thanh toán điện tử đối với dịch vụ công.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 6/2019, cả nước có khoảng 50 ngân hàng đã thỏa thuận phối hợp thu thuế, phí điện tử với thủ tục thuế, hải quan trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố và tất cả các quận, huyện trên cả nước; 27 ngân hàng và 10 tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phối hợp thu tiền điện; 100% cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế bắt đầu triển khai đề án phối hợp với các ngân hàng để nhờ thu hộ tiền khám chữa bệnh.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định rằng việc sử dụng thanh toán điện tử đã trở nên phổ biến ở thời điểm hiện tại. Đa số doanh nghiệp đã tiếp cận được với thanh toán điện tử và hầu như toàn bộ các ngân hàng trong nước đã tham gia thị trường này.
Trong bối cảnh ứng dụng công nghệ trong tài chính đang phát triển nhanh chóng ở Việt Nam, việc triển khai thanh toán điện tử trên Cơ chế một cửa quốc gia sẽ giúp quá trình làm thủ tục hành chính nhanh chóng hơn, dễ dàng theo dõi hơn và an toàn hơn cho doanh nghiệp khi không phải mang theo tiền mặt.
Khi được hỏi về thời điểm mà các doanh nghiệp muốn thanh toán điện tử được triển khai trên Cổng thông tin một cửa quốc gia thì phần lớn doanh nghiệp đều chọn năm 2020 với 71,31% doanh nghiệp lựa chọn, tiếp đến là năm 2021 với tỷ lệ 19,04% và chỉ 9,66% doanh nghiệp lựa chọn sau năm 2021.
Các doanh nghiệp cũng nhận thấy việc thực hiện thanh toán điện tử trên Cơ chế một cửa quốc gia có thể bắt đầu từ các thủ tục hành chính của cơ quan hải quan. Tỷ lệ doanh nghiệp mong muốn cơ quan này dùng thanh toán điện tử là 85%, cao hơn đáng kể so với các cơ quan khác trong điều tra là cảng vụ (60%), doanh nghiệp kinh doanh cảng (54%) hay cơ quan y tế (52%).
Để triển khai hiệu quả và đồng bộ dịch vụ thanh toán điện tử trên Cổng, trong giai đoạn tới, Tổng cục Hải quan với nhiệm vụ là cơ quan đầu mối cần nghiên cứu đề xuất với Ủy ban chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa ASEAN, Cơ chế một cửa quốc gia và tạo thuận lợi thương mại (Ủy ban 1899) và Bộ Tài chính để sớm đưa chức năng thanh toán điện tử vào vận hành trên Cổng.
Việc tích hợp thanh toán điện tử lên Cổng cần thực hiện song song với việc hoàn thiện các quy định để quản lý, giám sát hệ thống thanh toán điện tử mới, các dịch vụ trung gian thanh toán, cũng như ban hành quy định về trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ, những người sử dụng và bên thứ ba.
Quá trình triển khai thanh toán điện tử cũng cần có sự phối hợp của các cơ quan nhà nước với nhau, cũng như có sự tham gia của khu vực tư nhân trong cung cấp các dịch vụ thanh toán. Hợp tác công - tư trong việc thiết kế và cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử sẽ có vai trò quan trọng trong suốt quá trình triển khai. (Tinnhanhchungkhoan.vn 31/10)Về đầu trang./.