Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin Cải cách hành chính ngày 10/10/2024
1. Sơn La: Cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số trong ngành Thuế
2. Cà Mau: Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao mức độ hài lòng của người dân
3. Quảng Trị: Chính quyền đồng hành với doanh nghiệp, doanh nhân
4. Khánh Hòa: Nâng cao sự hài lòng của người dân
5. Phú Thọ: Phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số
6. Sóc Trăng quyết tâm thực hiện thành công quá trình chuyển đổi số
7. Đắk Nông: Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến tăng mạnh
8. Yên Bái: "Bí quyết" đứng tốp đầu cả nước về chuyển đổi số
9. Phân cấp, phân quyền cho địa phương trong thực hiện một số dự án nhà ở
10. Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó!
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Sơn La: Cải cách hành chính gắn với chuyển đổi số trong ngành Thuế
Cải cách thủ tục hành chính gắn với chuyển đổi số là cách làm của ngành Thuế tỉnh Sơn La đã phục vụ, hỗ trợ hiệu quả người nộp thuế, hoàn thành nhiệm vụ, chỉ tiêu thu ngân sách, thực hiện hiệu quả chương trình chuyển đổi số quốc gia.
Cục Thuế đã triển khai cung cấp các dịch vụ thuế điện tử phục vụ cho người dân và doanh nghiệp trong việc khai thuế, nộp thuế điện tử, dịch vụ hoàn thuế điện tử; triển khai ID khoản phải nộp hỗ trợ người nộp thuế tra cứu, xác định các khoản nộp theo tính chất, thứ tự thanh toán. Ứng dụng Etax mobile được cài đặt trên điện thoại di động thông minh cho phép cá nhân kinh doanh và hộ kinh doanh có thể tra cứu tờ khai đăng ký thuế mọi lúc mọi nơi trên thiết bị có kết nối internet, giúp người nộp thuế dễ dàng tương tác với cơ quan thuế, giảm chi phí, thời gian, hoàn thành nghĩa vụ thuế nhanh chóng, chính xác.
Thực hiện cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy định về hoạt động kinh doanh. Triển khai nhiều giải pháp để cải cách, ứng dụng công nghệ thông tin, hiện đại hóa công tác quản lý thuế, như: Triển khai ứng dụng quản lý thuế tập trung TMS; thực hiện đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế bằng phương thức điện tử, hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền; phân tích, phân loại rủi ro trong hoàn thuế; chuẩn hóa dữ liệu mã số thuế cá nhân…
Bà Trần Thị Hà, chủ hộ kinh doanh tại tổ 14, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, cho biết: Việc triển khai hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền mang lại nhiều lợi ích, như: Giúp cho người bán hàng chủ động trong việc lập hóa đơn; người mua có thể nhận hóa đơn điện tử ngay khi thanh toán..., đã phát huy hiệu quả công tác quản lý doanh thu của cửa hàng.
Công tác chuyển đổi số ngành Thuế được thể hiện trong triển khai thực hiện các đề án hiện đại hóa công tác quản lý thuế, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý thuế; ứng dụng ký điện tử tập trung, ứng dụng văn bản điều hành; sử dụng hệ thống quản lý văn bản điều hành VNPT - iOffice nhằm trao đổi thông tin với các sở, ban, ngành có liên quan cũng như cập nhật các văn bản chỉ đạo của các cấp nhanh chóng, kịp thời. Công tác quản lý mã số thuế và đăng ký thuế được thực hiện theo đúng quy định tại Thông tư số 105/2020/TT-BTC ngày 3/12/2020 của Bộ Tài chính, phối hợp với các cơ quan, ban ngành liên quan xử lý kịp thời, đúng quy định các vi phạm của người nộp thuế về thủ tục đăng ký thuế, ngừng, nghỉ kinh doanh, bỏ địa bàn kinh doanh.
Ngành Thuế tiếp tục nâng cao chất lượng công tác kê khai, quyết toán thuế; tăng cường sử dụng trang thiết bị hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến trong công tác quản lý thu thuế. Duy trì và mở rộng việc cung cấp các dịch vụ thuế điện tử; thực hiện 100% các cơ sở kinh doanh đã đăng ký áp dụng hóa đơn khởi tạo từ máy tính tiền thì phải sử dụng hóa đơn này. Các đơn vị trong ngành phát huy tinh thần sáng tạo, đột phá của đội ngũ công chức, hoàn thành tốt yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Quan tâm công tác đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính và đạo đức công vụ, để cán bộ công chức phát huy cao nhất năng lực, trí tuệ, phục vụ tốt hơn nữa người dân và doanh nghiệp. (Baosonla.org.vn 10/10, Phong Lưu)Về đầu trang
Cà Mau: Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao mức độ hài lòng của người dân
Thời gian qua, Sở NN&PTNT không ngừng đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và đạt hiệu quả cao. Từ đó, giúp rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ hành chính, đáp ứng tốt hơn nhu cầu giải quyết TTHC cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn.
Từ đầu năm đến nay, đơn vị đã hoàn thành 24/32 nhiệm vụ cải cách hành chính (CCHC) theo kế hoạch, đạt 75%; các nhiệm vụ còn lại đang thực hiện trong thời gian quy định. Ðặc biệt, để công tác tuyên truyền lĩnh vực nông nghiệp đạt hiệu quả, có sức lan toả sâu rộng trên địa bàn tỉnh, Sở triển khai Trang thông tin điện tử về sản xuất nông nghiệp. Qua đó, người dân có thể tra cứu thông tin: các mô hình hiệu quả; kỹ thuật sản xuất; chia sẻ một số chuyên đề liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp... Từ khi triển khai thực hiện năm 2019 đến nay, có hơn 3,63 triệu lượt truy cập.
Mặt khác, Sở đã thực hiện rà soát, đánh giá, đề xuất phương án đơn giản hoá đối với 24 TTHC. Ðến nay, đã triển khai thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với 119 TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở, đạt 100%. Ðặc biệt, tỷ lệ hồ sơ giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến, số hoá kết quả giải quyết TTHC thực hiện vượt chỉ tiêu theo kế hoạch CCHC của tỉnh.
Bên cạnh kết quả đạt được, theo đánh giá của đoàn kiểm tra CCHC của tỉnh đối với đơn vị vừa qua, công tác CCHC tại Sở NN&PTNT còn một số khó khăn, hạn chế nhất định. Trong đó, đơn vị chưa tham mưu UBND tỉnh ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức đối với một số đơn vị trực thuộc Sở, gồm: Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, Chi cục Chăn nuôi và Thú y, Chi cục Kiểm lâm, Chi cục Thuỷ sản, Chi cục Phát triển nông thôn. Vẫn còn tình trạng bố trí công chức, viên chức chưa đúng Ðề án vị trí việc làm được phê duyệt.
Ngoài ra, Sở chưa thực hiện công khai dự toán, công khai quyết toán của toàn ngành theo quy định; chưa xây dựng kế hoạch kiểm tra công tác quản lý tài chính, tài sản năm 2023 và tình hình phân bổ, giao dự toán năm 2024 của các đơn vị trực thuộc. Tỷ lệ văn bản, hồ sơ công việc trên môi trường mạng của đơn vị chưa đạt kế hoạch đề ra (đạt 85,89%/100%).
Theo bà Lê Thị Kim Chung, Phó chánh Văn phòng UBND tỉnh, Trưởng đoàn Kiểm tra CCHC tỉnh, thời gian tới, Sở cần thường xuyên rà soát, đề xuất rút ngắn thời gian giải quyết TTHC; kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những TTHC rườm rà, không phù hợp. Tiếp tục nâng cao chất lượng giải quyết TTHC, hạn chế thấp nhất các trường hợp hồ sơ trễ hạn; thực hiện tốt việc xin lỗi tổ chức, cá nhân đối với các trường hợp sai sót hoặc xử lý trễ hạn so với quy định (nếu có).
Ðẩy nhanh tiến độ sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị trực thuộc theo quy định. Trên cơ sở đó, ban hành hoặc tham mưu ban hành chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các đơn vị theo quy định, đảm bảo các đơn vị thuộc và trực thuộc Sở tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
Ngoài ra, tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực thi công vụ; phân công, bố trí công chức, viên chức có chuyên môn phù hợp với Ðề án vị trí việc làm được phê duyệt; mạnh dạn tinh giản những công chức, viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nhằm tạo chuyển biến về tinh thần, trách nhiệm làm việc của công chức, viên chức. Ðồng thời, có giải pháp hiệu quả khắc phục tình trạng công chức, viên chức chưa đạt chuẩn theo quy định. (Baocamau.vn 10/10, Hưng Thái - Phi Long)Về đầu trang
Quảng Trị: Chính quyền đồng hành với doanh nghiệp, doanh nhân
Với tinh thần “Chính quyền đồng hành với doanh nghiệp”, trong thời gian qua, lãnh đạo thị xã Quảng Trị luôn quan tâm nắm bắt những bắt khó khăn, vướng mắc để kịp thời tháo gỡ, động viên, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi và đồng hành với doanh nghiệp (DN) và nhà đầu tư trong suốt quá trình triển khai hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn.
Nhìn lại chặng đường trong 20 năm qua (2004-2024) song hành cùng những thay đổi diện mạo của thị xã Quảng Trị là sự nỗ lực và đóng góp to lớn của các thế hệ doanh nhân trên địa bàn, đặc biệt là các DN, doanh nhân có bề dày hoạt động trong 20 năm qua. Ngày nay, nhiều DN không ngừng phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động, nhất là về nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận và thu nhập cho người lao động trên địa bàn. Lực lượng DN đã thể hiện vai trò tiên phong, có nhiều đóng góp tích cực và chất lượng trong tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo việc làm cho người lao động, đồng thời làm tốt công tác “đền ơn đáp nghĩa”, an sinh xã hội trên địa bàn thị xã.
Tổ chức thực hiện đầy đủ, kịp thời chính sách hỗ trợ của nhà nước đối với DN, cơ sở sản xuất kinh doanh như: giản tiến độ nộp thuế, tiền thuê đất; gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất... Kịp thời hướng dẫn các nhà đầu tư quan tâm tìm hiểu triển khai các dự án trên địa bàn; tổ chức thẩm định các dự án đảm bảo nội dung, tiến độ theo đề nghị của các sở, ngành liên quan... Quy hoạch, tạo quỹ đất để kêu gọi các dự án đầu tư. Thông báo công khai, rộng rãi thông tin về các quy hoạch, các dự án, danh mục kêu gọi đầu tư để kêu gọi, quảng bá DN đầu tư vào địa bàn.
Hằng năm, UBND thị xã duy trì việc tổ chức hội nghị gặp mặt DN, hộ kinh doanh để lắng nghe những kiến nghị, đề xuất... Tiếp nhận và giải quyết kịp thời những vấn đề vướng mắc thuộc thẩm quyền đối với các DN khi triển khai thực hiện dự án đầu tư phát triển trên địa bàn thị xã; tích cực hướng dẫn, triển khai các hoạt động xúc tiến kêu gọi đầu tư vào các cụm công nghiệp Hải Lệ, Cầu Lòn - Bàu De.
Hỗ trợ, đồng hành, trợ giúp hoàn thiện hồ sơ pháp lý, giao đất cho các DN đang hoạt động tại các cụm công nghiệp, tạo điều kiện tốt nhất để DN ổn định sản xuất, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh. Kịp thời động viên, thăm hỏi các DN khi có tình huống bất lợi xảy ra như: hỏa hoạn, thiên tai, dịch bệnh... và có những giải pháp thiết thực, cụ thể hỗ trợ các DN khắc phục khó khăn, góp phần ổn định tình hình sản xuất, kinh doanh để tiếp tục duy trì và phát triển.
Với sự đồng hành kịp thời của các cấp chính quyền đối với DN đã tiếp thêm niềm tin, động lực để DN vượt khó, linh hoạt, sáng tạo trong điều hành sản xuất, kinh doanh đạt hiệu quả, duy trì tốc độ tăng trưởng của DN. Sự lớn mạnh của các DN đã đóng góp quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế - xã hội của thị xã.
Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng từ 17%- 20%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng từ 7%-10%/năm; giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng từ 3%- 5%/năm. Số tiền nộp ngân sách của DN ngày càng tăng (năm 2021: 27 tỉ đồng; năm 2022: 27,9 tỉ đồng, chiếm hơn 55% trong tổng số thu từ thuế, phí, lệ phí).
Mặc dù quy mô sản xuất của các DN trên địa bàn nhỏ, lợi nhuận không nhiều... nhưng các DN, hộ kinh doanh trên địa bàn đã tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện, chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng như: hỗ trợ kinh phí cho công tác phòng, chống COVID-19; phòng, chống thiên tai; an sinh xã hội; các hoạt động lễ hội...
Để đồng hành với DN vượt qua khó khăn, thử thách, cùng chia sẻ và hài hòa lợi ích lẫn rủi ro, chính quyền thị xã sẽ luôn cầu thị, lắng nghe, chia sẻ, sẵn sàng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho DN. Với tinh thần đó, chính quyền thị xã mong muốn và kêu gọi cộng đồng DN, doanh nhân trên địa bàn phát huy tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, nêu cao tinh thần đoàn kết để tạo sức mạnh tập thể, tạo nhiều việc làm cho người lao động, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước; tích cực tham gia các hoạt động khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, an sinh xã hội. (Baoquangtri.vn 10/10)Về đầu trang
Khánh Hòa: Nâng cao sự hài lòng của người dân
Nhìn lại 10 năm triển khai Quy chế khảo sát, đánh giá mức độ hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh, kết quả tổng hợp chung cho thấy chỉ số mức độ hài lòng trung bình của 10 khối cơ quan hành chính, đơn vị cung cấp dịch vụ hành chính công giai đoạn 2014 - 2023 có xu hướng tăng qua các năm, chỉ riêng năm 2016 có chỉ số giảm so với năm 2015. Đặc biệt, chỉ số mức độ hài lòng tăng mạnh ở các năm 2018 và 2023.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số cơ quan, đơn vị có kết quả chỉ số mức độ hài lòng chuyển biến chậm; một số tiêu chí thành phần chưa được khách hàng đánh giá cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, cá nhân; còn ghi nhận một số ít trường hợp phản ánh về thái độ phục vụ, giao tiếp ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức… đã ảnh hưởng đến kết quả đánh giá chỉ số mức độ hài lòng. Những hạn chế, thiếu sót làm cho khách hàng chưa hài lòng phải được khắc phục ngay để cải thiện, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, tổ chức, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu cải cách hành chính (CCHC) đã đề ra.
Kết quả chỉ số mức độ hài lòng là 1 trong 3 nội dung quan trọng để xác định chỉ số CCHC hàng năm của các sở, ngành, đơn vị, địa phương. Kết quả đánh giá của người dân đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước là một trong những kênh thông tin, dữ liệu quan trọng để phục vụ tốt hơn cho công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương, đặc biệt là đổi mới, cải cách dịch vụ hành chính công, nâng cao chất lượng phục vụ theo hướng lấy người dân làm trung tâm.
Để thực hiện mục tiêu phấn đấu đạt mức độ hài lòng tối thiểu 90% vào năm 2025 và tối thiểu 95% vào năm 2030, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh CCHC, trong đó tiếp tục nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong CCHC, tăng cường đổi mới, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành, đổi mới phương thức phục vụ khách hàng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ, đẩy mạnh chuyển đổi số trong cơ quan, đơn vị.
Đồng thời, tiếp tục quán triệt quan điểm “lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm”, “sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan, đơn vị”; tiếp tục đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính theo hướng không phụ thuộc vào địa giới hành chính, gắn với số hóa và sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, tạo thuận lợi và mang lại sự hài lòng cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp.
Cùng với đó, tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong hướng dẫn, hỗ trợ, tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công, tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước để phục vụ giải quyết dịch vụ công trực tuyến toàn trình; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cả về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và văn hóa công vụ, đặc biệt là các vị trí thường xuyên tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp; chủ động thiết lập, công khai và nâng cao chất lượng các đường dây nóng, kênh thông tin trực tuyến để kịp thời hỗ trợ, giải đáp vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình thực hiện dịch vụ công. Những điều đó nhằm hướng tới nâng cao mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp về sự phục vụ hành chính. (Baokhanhhoa.vn 09/10, Nam Du)Về đầu trang
Phú Thọ: Phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số
Thời gian qua, Phú Thọ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số với 3 trụ cột là chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Kết quả của chuyển đổi số đã góp phần quan trọng trong cải cách hành chính, thực hiện khâu đột phá của tỉnh về cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh, đồng thời hỗ trợ đời sống của nhân dân và hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Năm 2023, Phú Thọ nằm trong nhóm dẫn đầu về phát triển hạ tầng số trên cả nước (xếp thứ 6/63 tỉnh, thành phố), hạ tầng số là một trong các chỉ số được đánh giá là điểm mạnh làm tăng điểm xếp hạng Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương của Phú Thọ.
Nhiều ứng dụng chuyển đổi số trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội được các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và người dân trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả. Cụ thể, nhiều doanh nghiệp trong tỉnh đã chủ động ứng dụng công nghệ thông tin vào sản xuất, kinh doanh, cùng với việc đầu tư trang thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện đại, các doanh nghiệp đã ứng dụng hệ thống phần mềm quản lý sản xuất, quản trị tổng thể doanh nghiệp, kết nối thiết bị theo công nghệ IoT để quản lý tự động hoá dây chuyền sản xuất; tra cứu thông tin về sản phẩm trên các nền tảng mạng xã hội...
Bên cạnh đó, các ngành như Thuế, Y tế, Giáo dục, NN&PTNT... đã đưa phần mềm ứng dụng chuyên dùng kết nối liên thông hai chiều để hỗ trợ và thực hiện các tác nghiệp về khám, chữa bệnh hoàn toàn trên môi trường mạng; phần mềm học bạ điện tử; các phần mềm kê khai và nộp thuế điện tử, thực hiện khai báo hải quan điện tử, kho bạc điện tử, bảo hiểm điện tử, đăng ký kinh doanh qua mạng; ứng dụng “Agritech - Chuỗi nông nghiệp số”, các ứng dụng thanh toán phí, lệ phí không dùng tiền mặt... giúp chuyển đổi số lan tỏa sâu rộng trong đời sống.
Năm 2024, cũng là năm thứ 3 cùng với cả nước, tỉnh Phú Thọ hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số Quốc gia 10/10, trong đó tập trung vào Chủ đề “Phổ cập hạ tầng số và sáng tạo ứng dụng số để phát triển kinh tế số - Động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và năng suất lao động”. Tỉnh đã xây dựng kế hoạch cụ thể, phân công rõ trách nhiệm cho các cấp, các ngành tập trung đẩy mạnh, đa dạng hóa công tác truyền thông. Các hoạt động tập trung vào việc phổ biến, hướng dẫn sử dụng, các ứng dụng số, giải pháp số từ tỉnh đến cơ sở.
Trong đó, nổi bật là việc tổ chức hội thảo “Phát triển kinh tế số và xã hội số tỉnh Phú Thọ” với những định hướng, giải pháp phát triển kinh tế số và xã hội số trên địa bàn; trưng bày, giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ công nghệ số, ứng dụng số phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số. Đồng thời, triển khai các hoạt động chiến dịch ra quân “Đi từng ngõ, gõ từng nhà, hướng dẫn từng người dân sử dụng dịch vụ, ứng dụng số để phát triển kinh tế số” của Tổ công nghệ số cộng đồng từ ngày 1 đến ngày 10/10/2024 tại các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh.
Sau khi Thủ tướng ký ban hành Quyết định số 749 ngày 3/6/2020 phê duyệt Chương trình chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, tỉnh Phú Thọ đã ban hành các nghị quyết, quyết định về Đề án phát triển chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền số tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Từ đây, việc xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số được coi là nhiệm vụ trọng tâm, tạo động lực dẫn dắt chuyển đổi số trên địa bàn.
Việc sớm ban hành các chủ trương, chính sách về phát triển chính quyền số là cơ sở pháp lý để các ngành, các cấp ban hành kế hoạch, đề án thực hiện cho từng năm và giai đoạn, phù hợp với đặc thù điều kiện của từng lĩnh vực, địa phương. Ban Chỉ đạo chuyển đổi số các cấp tỉnh Phú Thọ được kiện toàn; 100% cơ quan nhà nước của tỉnh bố trí cán bộ chuyên trách, phụ trách về công nghệ thông tin; 100% xã, phường, thị trấn thành lập và duy trì hoạt động của Tổ Công nghệ số cộng đồng. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai các nhiệm vụ chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh.
Mặc dù khi triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn, vướng mắc nhưng với sự quyết tâm của cả hệ thống chính trị, tỉnh Phú Thọ đã chủ động bắt nhịp, tạo bước đột phá về chuyển đổi số trên cả 3 trụ cột: Chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Ba yếu tố quyết định đối với chuyển đổi số là con người, thể chế, công nghệ đã được tỉnh Phú Thọ thực hiện bài bản, thực chất, hiệu quả. (Baophutho.vn 10/10, Việt Hà)Về đầu trang
Sóc Trăng quyết tâm thực hiện thành công quá trình chuyển đổi số
Nắm bắt xu hướng hiện đại và lợi ích mang lại từ chuyển đổi số, Tỉnh ủy Sóc Trăng đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 27/10/2021 về Chuyển đổi số tỉnh Sóc Trăng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; qua đó tạo động lực cho phát triển kinh tế-xã hội, mang lại nhiều lợi ích cho chính quyền, doanh nghiệp và cuộc sống người dân.
UBND tỉnh đã ban hành Đề án số 03/ĐA-UBND về chuyển đổi số tỉnh Sóc Trăng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030; tham mưu thành lập Ban Chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh do đồng chí Bí thư Tỉnh ủy làm Trưởng ban Chỉ đạo; xây dựng kế hoạch chuyển đổi số trong ngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị mình phụ trách.
Tỉnh Sóc Trăng thành lập Trung tâm Giám sát điều hành tỉnh (IOC); trong đó, xây dựng và tiếp tục hoàn thiện 14 phân hệ thuộc các lĩnh vực và hoạt động của các sở, ngành trên địa bàn tỉnh được tích hợp, kết nối đồng bộ dữ liệu từ các cơ quan chức năng.
Đến nay, có 4/13 chế độ báo cáo định kỳ và báo cáo thống kê về kinh tế-xã hội phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp đã được kết nối, chia sẻ dữ liệu trên hệ thống thông tin báo cáo của tỉnh và của Chính phủ.
Đồng thời, Sóc Trăng đã triển khai thực hiện thống nhất phần mềm Quản lý văn bản V5 trên toàn tỉnh. Riêng từ đầu năm 2024 đến nay, tỷ lệ văn bản điện tử cấp tỉnh đạt 93,46%, cấp huyện đạt 87,15%, cấp xã đạt 87,11%.
Hệ thống một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến đã triển khai đến 100% cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh và 100% dịch vụ công trực tuyến đã cung cấp trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh và trên ứng dụng Dịch vụ công trực tuyến Sóc Trăng, giúp các tổ chức, cá nhân thuận tiện trong tra cứu thông tin, nộp hồ sơ, thanh toán trực tuyến.
Bên cạnh đó, kinh tế số của tỉnh bước đầu phát triển. Các doanh nghiệp thực hiện hiệu quả việc thanh toán không dùng tiền mặt; ứng dụng phần mềm quản lý doanh nghiệp, quản lý bán hàng. Các sở, ngành quan tâm hỗ trợ đưa sản phẩm, hàng hóa các hộ sản xuất, hộ kinh doanh cá thể, hợp tác xã, tổ hợp tác lên sàn thương mại điện tử tỉnh và quốc gia, đặc biệt là các sản phẩm OCOP.
Hóa đơn điện tử đã được triển khai thực hiện tại 100% doanh nghiệp, tổ chức và hộ, cá nhân kinh doanh theo phương pháp kê khai. Đối với các doanh nghiệp, tiếp tục duy trì tỷ lệ nộp hồ sơ khai thuế qua mạng đạt 100% và tỷ lệ nộp thuế điện tử đạt trên 96%.
Việc phát triển thanh toán điện tử trong khu vực nhà nước, dịch vụ hành chính công trên địa bàn tỉnh ngày càng phổ biến; kết quả thanh toán điện tử dịch vụ công qua ngân hàng là 2.644.936 giao dịch với tổng số tiền hơn 25.231 tỷ đồng. Đến nay, có 1.049.726 tài khoản giao dịch của các tổ chức, cá nhân đang hoạt động tại các ngân hàng trên địa bàn tỉnh.
Lĩnh vực xã hội số cũng được tỉnh Sóc Trăng quan tâm đẩy mạnh thực hiện. Hệ thống thông tin phản ánh hiện trường được hoàn thiện và đưa vào sử dụng; hệ thống camera giám sát an ninh trật tự và an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh đã đi vào hoạt động hiệu quả bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông của tỉnh.
Tỉnh đã triển khai thí điểm khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế bằng căn cước công dân gắn chip ở tất cả các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh; thực hiện số hóa hồ sơ sức khỏe, bệnh án và các hồ sơ có liên quan lên nền tảng số. Xây dựng cơ sở dữ liệu của 721.906 người lao động (đạt 100%) vào hệ thống quản lý an sinh xã hội.
Tỉnh quan tâm tuyển dụng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ chuyển đổi số; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và bố trí cán bộ cùng với các chế độ, chính sách đãi ngộ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, an toàn thông tin, chuyển đổi số; đẩy mạnh việc hợp tác, chuyển giao, làm chủ công nghệ mới, hiện đại, qua đó phát triển và hoàn thiện nền tảng chuyển đổi số của tỉnh trên 3 trụ cột: Chính quyền số, Kinh tế số và Xã hội số.
Tỉnh chú trọng phát triển hạ tầng số, dữ liệu số hiện đại và an toàn; xây dựng và phát triển Cổng dữ liệu mở của tỉnh để cung cấp, chia sẻ dữ liệu cho người dân, doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng cùng chung tay với các cơ quan nhà nước phát triển các ứng dụng hỗ trợ người dân, doanh nghiệp trong các lĩnh vực đời sống và sản xuất, kinh doanh… (Nhandan.vn 10/10, Lâm Văn Mẫn - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng) Về đầu trang
Đắk Nông: Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến tăng mạnh
Sau 30 ngày (từ 1/9/2024 đến ngày 30/9/2024) triển khai Chiến dịch cao điểm 60 ngày “Nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến tại các sở, ngành, địa phương đã tăng lên rõ rệt.
Triển khai Kế hoạch số 451/KH-UBND ngày 10/7/2024 của UBND tỉnh về tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày Chuyển đổi số năm 2024 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, ngày 14/8/2024, Sở Thông tin và Truyền thông đã ban hành Kế hoạch số 47/KH-STTTT về việc triển khai thực hiện Chiến dịch cao điểm 60 ngày “Nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”.
Các cơ quan báo chí, truyền thông trong và ngoài tỉnh đã tuyên truyền, đăng tải nội dung nhằm lan tỏa chiến dịch đến các cơ quan, đơn vị và người dân.
Sở Thông tin và Truyền thông đã đã xây dựng infographic hướng dẫn sử dụng dịch vụ công trực tuyến phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh, bằng tiếng M’Nông, đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh, trang thông tin điện tử của UBND các huyện, thành phố.
Sau 30 ngày (từ 1/9/2024 đến ngày 30/9/2024) triển khai Chiến dịch cao điểm 60 ngày “Nâng cao hiệu quả sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Đắk Nông”, tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến tại các sở, ngành, địa phương đã tăng lên rõ rệt.
Cụ thể, đối với các sở, ngành, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến được giải quyết sau 30 ngày thực hiện chiến dịch tăng từ bình quân khoảng 50% (đơn vị thấp nhất tăng 15%, cao nhất là 225%). Tại cấp huyện, bình quân tăng khoảng 20 % (đơn vị tăng thấp nhất là 11%, cao nhất là 29%).
Số liệu thống kê được thực hiện một cách tự động theo thời gian thực bởi Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh. Tất cả DVC trực tuyến của các sở, ngành, địa phương đã kết nối với Hệ thống thông tin thủ tục hành chính của tỉnh.
Ngoài việc ghi nhận tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tăng, quá trình triển khai chiến dịch, một số địa phương, đơn vị vẫn chưa thực sự quyết liệt trong triển khai thực hiện chiến dịch.
Sở Thông tin và Truyền thông đề nghị các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thành phố chủ động tuyên truyền về Chiến dịch này bằng nhiều hình thức khác nhau, phù hợp với điều kiện thực tế của đơn vị.
Lãnh đạo các đơn vị, địa phương tập trung chỉ đạo quyết liệt bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao về sử dụng dịch vụ công trực tuyến, thanh toán trực tuyến trên lĩnh vực ngành, địa phương mình phụ trách được đề ra tại chiến dịch này. (Baodaknong.vn 09/10, PV)Về đầu trang
Yên Bái: "Bí quyết" đứng tốp đầu cả nước về chuyển đổi số
Những năm qua, Yên Bái đã có bước tiến vượt bậc trong chuyển đổi số, đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố về khả năng cải thiện Chỉ số DTI (Bộ chỉ số đánh giá chuyển đổi số). Nhiều ứng dụng công nghệ số giúp người dân nhanh chóng cải thiện chất lượng cuộc sống, hỗ trợ hiệu quả, hiệu lực công tác quản lý nhà nước, tạo thêm năng lực mới cho hoạt động sản xuất - kinh doanh.
Yên Bái xác định chuyển đổi số là nhiệm vụ mới, nhiều khó khăn, do vậy, phải kiên trì tiến hành thường xuyên ở tất cả các cấp, ngành, địa phương; thực hiện một cách bài bản, thực chất, có trọng tâm, trọng điểm. Sau hơn 3 năm nỗ lực đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số bằng những giải pháp hữu hiệu, thiết thực, Yên Bái đạt được kết quả bước đầu rất quan trọng trên cả 3 trụ cột của chính quyền số, kinh tế số và xã hội số.
Chủ tịch UBND tỉnh Trần Huy Tuấn, Trưởng Ban Chỉ đạo chuyển đổi số tỉnh Yên Bái cho biết, tỉnh thành lập và duy trì hoạt động hiệu quả Ban Chỉ đạo về chuyển đổi số từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã và thôn, bản, tổ dân phố, với hệ thống cơ chế, cách thức tổ chức ngày càng hoàn thiện, làm căn cứ pháp lý cho các cơ quan, đơn vị, địa phương triển khai thực hiện.
Nhờ triển khai đồng bộ và sâu rộng công tác tuyên truyền, nhận thức về chuyển đổi số trong nhân dân thay đổi rõ rệt. Đặc biệt, thay đổi mạnh mẽ nhận thức, tư duy người đứng đầu cơ quan, địa phương và doanh nghiệp, từ việc mới, việc khó đã mô hình hóa thành những việc cụ thể, làm được và đo đếm, đánh giá được.
Với cách làm này, Yên Bái triển khai thí điểm 8 mô hình chuyển đổi số, cụ thể: Tổ chuyển đổi số cộng đồng; chuyển đổi cấp xã, cấp huyện; chuyển đổi số tại các cơ quan, trường học; bình dân học AI; sổ tay đảng viên điện tử; công dân số và doanh nghiệp số. Qua đó, chuyển đổi số tưởng chừng như rất trừu tượng, khó hiểu trở nên gần gũi, mang lại lợi ích thiết thực đối với mọi chủ thể tham gia.
Yên Bái hình thành mạng lưới tổ chuyển đổi số cộng đồng hoạt động ở 173/173 xã, phường, thị trấn và 1.356/1.356 thôn, bản tổ dân phố trong toàn tỉnh với hơn 10.850 người tham gia. Trở thành một trong 3 tỉnh đầu tiên của cả nước thành lập được 100% tổ chuyển đổi số cộng đồng và ban hành Bộ chỉ số đánh giá hoạt động của tổ chuyển đổi cấp xã, cấp thôn.
Ứng dụng chuyển đổi số trong công tác Đảng, tỉnh thực hiện thí điểm tại 11 tổ chức đảng với 61 chi bộ, gần 2.000 đảng viên sử dụng "Sổ tay đảng viên điện tử”, đưa Yên Bái thành tỉnh thứ 3 trên toàn quốc triển khai nền tảng này.
Thực tế cho thấy, nhiều mô hình thí điểm chuyển đổi số của Yên Bái đáp ứng nhu cầu cấp thiết của cuộc sống, được nhân rộng trong tỉnh. Tại thành phố Yên Bái, hoạt động hỗ trợ nhân dân cài đặt ứng dụng được nhanh chóng thực hiện như: Thanh toán không dùng tiền mặt, dịch vụ thanh toán hóa đơn điện, nước, ví điện tử, mở mã QR cho các hộ kinh doanh...
Ông Nguyễn Hữu Lợi, Chủ tịch UBND xã Minh Bảo, thành phố Yên Bái cho biết, khi được sử dụng các dịch vụ, người dân thấy rất tiện lợi, nhanh chóng và hài lòng. Nhất là việc mua bán online, giao dịch không dùng tiền mặt đã phổ biến; hầu hết người dân đều thành thạo tham gia các nhóm Zalo, Facebook, ứng dụng VNeID mức độ 2. Qua đó, người dân có thể đề xuất ý kiến, phản ánh tâm tư, nguyện vọng đến các cấp, ngành một cách nhanh nhất.
Trước những lợi ích rõ nét chuyển đổi số mang lại, các doanh nghiệp nhanh chóng ứng dụng công nghệ số vào công việc, như: Số hóa quy trình quản trị, vận hành doanh nghiệp; sử dụng phần mềm quản lý nhân sự từ xa; quản lý chứng từ, kho hàng; ứng dụng thanh toán điện tử; hóa đơn điện tử, chữ ký số; ứng dụng tự động hóa vào sản xuất... (TTXVN 10/10, Tiến Khánh)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Phân cấp, phân quyền cho địa phương trong thực hiện một số dự án nhà ở
Ngày 9/10, tại phiên thảo luận thứ nhất của Diễn đàn Kinh doanh và pháp luật năm 2024, các đại biểu tập trung trao đổi giải quyết một số vấn đề pháp lý về dự án đầu tư có sử dụng đất và đề xuất giải pháp tháo gỡ. Phiên thảo luận do ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban kinh tế của quốc hội điều hành...
Tại phiên thảo luận, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên thường trực Ủy ban kinh tế của quốc hội, nhấn mạnh môi trường thể chế thuận lợi sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, nếu còn rào cản, vướng mắc không chỉ tác động bất lợi đến sản xuất kinh doanh mà còn ảnh hưởng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển xã hội, chương trình chính sách của Chính phủ.
Theo ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội nhà thầu xây dựng Việt Nam, có dự án khi giải phóng mặt bằng phải mất 14 năm. Đã là doanh nghiệp thì phải chấp hành pháp luật, tuy nhiên đối với các doanh nghiệp bất động sản có đến 15 luật can thiệp, từ Luật Quy hoạch, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai…
Cơ quan lập pháp và hành pháp đều thấy rõ bất cập này nên chúng ta đang tiến hành sửa, ban hành nhiều luật mới để cố gắng đồng bộ hóa. Tuy nhiên, doanh nghiệp mong muốn cơ quan soạn thảo lắng nghe tiếng nói, tham vấn của doanh nghiệp để luật đi sâu vào thực tế.
Về thủ tục hành chính, ông Hiệp cho rằng vấn đề này đang trở thành gánh nặng của doanh nghiệp. Ví dụ thủ tục giải phóng mặt bằng tính từ lúc bắt đầu phương án bồi thường hỗ trợ cho đến lúc chi trả tiền cưỡng chế thu hồi đất và bàn giao mặt bằng theo đúng quy định phải trải qua 177 bước và thời gian là 300 ngày trong đó có những bước vận động, tuyên truyền phải làm đủ ba lần hoặc tổ chức đối thoại của các hộ dân không đồng thuận phải đủ 60 ngày.
Còn thủ tục đầu tư một dự án quá phức tạp, thông thường phải mất từ 30-40 con dấu với thời gian xử lý trung bình khoảng 2-3 năm, có tình trạng này vì bất cứ thủ tục nào cũng phải hỏi ý kiến các sở ngành liên quan bằng văn bản….
Hoặc thủ tục nữa trong quá trình thực hiện dự án mà các doanh nghiệp đều e ngại là thủ tục điều chỉnh quy hoạch. Có thể khẳng định 100 dự án thì đều phải xin điều chỉnh quy hoạch mức độ nhiều ít khác nhau nhưng thủ tục, quy định về điều chỉnh quy hoạch, thế nào được coi là điều chỉnh quy hoạch cụ bộ , thế nào phải điều chỉnh quy hoạch phân khu… cần được làm rõ.
Ngoài ra, ông Hiệp cũng kiến nghị cần có quy trình kiểm tra thủ tục hành chính để doanh nghiệp bớt chờ đợi.
Bà Phạm Thị Ngọc Thủy, giám đốc văn phòng Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ), cho biết ban IV có báo cáo định kỳ 6 tháng với Thủ tướng Chính phủ, trong 3 kỳ đánh giá gần đây thủ tục vướng mắc hành chính luôn nằm trong top 3 doanh nghiệp đề cập.
Mặc dù có nhiều nỗ lực nhưng hết kỳ này, kỳ khác doanh nghiệp vẫn kêu. Có những vấn đề doanh nghiệp kêu nằm ở thị trường, nhưng câu chuyện hành chính là nội bộ… cho thấy tính cấp thiết phải cải cách hành chính.
Thảo luận tại diễn đàn, ông Hà Quang Hưng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản, cho biết các dự án nhà ở thuộc loại liên ngành, chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, từ 12-15 luật.
Quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước, tổng kết Luật Nhà ở, chúng tôi thấy có một tồn tại là trình tự, thủ tục, quy trình để thực hiện dự án nhà ở mỗi địa phương thực hiện theo 1 quy trình khác nhau. Việc này dẫn đến bản thân các doanh nghiệp, chủ đầu tư không được chủ động.
Nhận thức được tồn tại này, khi tổng kết Luật Nhà ở, Bộ Xây dựng tham mưu với Chính phủ, trình Quốc hội sửa đổi Luật nhà ở là giao cho Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn các giai đoạn triển khai dự án nhà ở, trong đó có dự án nhà ở xã hội.
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 95/2024/NĐ-CP của Chính phủ: Quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở, Nghị định 100/2024 Quy định chi tiết một số điều của Luật Nhà ở về phát triển và quản lý nhà ở xã hội.
Trong các nghị định này hướng dẫn giai đoạn triển khai dự án nhà ở từ đề xuất chủ trương đầu tư, quy hoạch, thực hiện giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, cấp phép… Việc này giúp cho các địa phương, doanh nghiệp có quy trình, trình tự thống nhất trên cả nước, đảm bảo sự minh bạch, tiết kiệm thời gian. Đối với dự án nhà ở xã hội cũng quy định hướng dẫn chi tiết các nội dung về thủ tục hành chính.
Về kiến nghị kiểm tra, giám sát thủ tục hành chính, ông Hưng cho rằng đặc điểm của thủ tục hành chính là quy định thời hạn, các cơ quan đầu mối là người thực hiện. Nếu vượt quá thời hạn, cơ quan chủ trì thực hiện bước đó phải có trách nhiệm giải trình.
“Các địa phương nằm trong top cao thu hút đầu tư đều có bước kiểm tra, giám sát này. Tất cả thủ tục hành chính đều phân cấp, phân quyền cho địa phương. Địa phương có thẩm quyền giám sát thủ tục hành chính này. Việc thưởng, phạt thực hiện đúng quy trình, thủ tục hoàn toàn thuộc thẩm quyền của địa phương”, ông Hưng nói thêm.
Còn theo bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Chính phủ đang dự kiến trình một luật sửa nhiều luật. Việc này có thể rút ngắn thời gian, quy trình, tối ưu hóa hiệu quả để tạo điều kiện cho doanh nghiệp. Bà Thủy cũng đề cập đến giải pháp mô hình “thu hút đầu tư/cấp phép đầu tư ưu tiên” gắn với các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm quốc gia. Đồng thời phải tìm các mô hình để lan tỏa bài toán ưu tiên cho dự án.
Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư Nguyễn Thị Bích Ngọc cho biết trong thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong việc đơn giản, cắt giảm thủ tục hành chính để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giúp doanh nghiệp gia nhập thị trường. (Vneconomy.vn 09/10, Đỗ Mến)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – NHẬN ĐỊNH
Doanh nghiệp vẫn còn gặp khó!
Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; tỷ lệ số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trên số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường vẫn cao hơn cùng kỳ. Đây là một trong những nội dung đáng chú ý được nêu trong Báo cáo của Ủy ban Kinh tế thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024; dự kiến Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2025.
Nhìn lại bức tranh kinh tế nước ta cho thấy có nhiều điểm sáng, tăng trưởng kinh tế phục hồi tích cực, cả năm ước đạt khoảng 6,8 - 7%, vượt mục tiêu Quốc hội đề ra (6 - 6,5%). Đây là một tín hiệu đáng mừng, tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế vẫn còn đối diện với một số thách thức. Chỉ tính trong 9 tháng qua, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là hơn 86,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 14,7% so với cùng kỳ năm trước; gần 61,5 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 33,4%; 15,4 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 18,9%. Bình quân một tháng có 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Như vậy, tỷ lệ số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trên số doanh nghiệp tham gia thị trường 9 tháng năm 2024 là 89,7%, cao hơn mức 79,3% của năm 2023.
Nhìn vào số liệu doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường cho thấy “sức khỏe” của doanh nghiệp vẫn chưa thật sự bền vững.
Thời gian qua đã có nhiều chính sách được ban hành để hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển song doanh nghiệp vẫn đang đối diện với khó khăn từ bên ngoài và từ chính nội tại nền kinh tế. Đó là sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, thách thức về nguồn lao động. Đây là một trong những vướng mắc mà các doanh nghiệp dệt may phải đối diện trong thời gian qua.
Ngoài ra, một trong những khó khăn mà doanh nghiệp vẫn thường phản ánh trong các hội nghị, hội thảo khi đề cập đến giải pháp gỡ khó cho doanh nghiệp đó là nguồn vốn. Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn vay do những năm qua tình hình sản xuất, kinh doanh khó khăn, ngân hàng hạ hạn mức cho vay và nâng tỷ lệ thế chấp, trong khi đó, giá nguyên vật liệu nhập khẩu tăng cao, ảnh hưởng tới chi phí sản xuất. Cùng với đó, không ít doanh nghiệp cũng phản ánh đang phải gánh áp lực cao về chi phí thuê mặt bằng khi thị trường bất động sản không ổn định và có xu hướng tăng giá cao trong thời gian qua.
Còn một rào cản khác nữa là thủ tục hành chính. Cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư, thuế, đất đai còn vướng mắc, các thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tầng, nấc. Dù đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quan tâm chỉ đạo đơn giản, cắt giảm khá nhiều thủ tục nhưng khi bắt tay vào thực hiện, đôi khi doanh nghiệp vẫn bị rơi vào tình trạng “thông chỗ này, bị tắc chỗ kia”, bởi các quy định pháp luật liên quan vẫn còn vướng mắc. Tình trạng chất lượng các quy chuẩn kỹ thuật không mang tính thực tiễn, gây khó cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động vẫn xảy ra. Một số cơ chế, chính sách, quy định, thủ tục hành chính vẫn chậm được sửa đổi, còn phiền hà, gây khó khăn cho doanh nghiệp, người dân. Theo phản ánh thì thủ tục giải phóng mặt bằng là một trong những gánh nặng mà các doanh nghiệp bất động sản đang gặp phải. Tình trạng trễ hẹn trong giải quyết và trả kết quả giải quyết hồ sơ vẫn còn xảy ra ở các cấp hành chính - đây cũng chính là rào cản vô hình làm tăng chi phí, giảm cơ hội của doanh nghiệp.
“Sức khỏe” doanh nghiệp là thước đo của nền kinh tế; do đó, Chính phủ cần nhận diện rõ những khó khăn, thách thức, đánh giá làm rõ hơn công tác cải cách thể chế tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ đó có giải pháp hữu hiệu để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Hoàn thiện thể chế, tạo môi trường kinh doanh thông thoáng cho doanh nghiệp là rất cần thiết nhưng sẽ là chưa đủ nếu doanh nghiệp không “tự lớn” để khẳng định sức mạnh nội tại của mình. Chỉ khi doanh nghiệp tự đổi mới, nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ thì mới đủ “sức khỏe”, đủ tự tin để cạnh tranh trong tình hình hội nhập như hiện nay. (Daibieunhandan.vn 10/10, Lê Hùng)Về đầu trang./.
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 09/10/2024 (09/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 08/10/2024 (08/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 07/10/2024 (07/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 04/10/2024 (04/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 03/10/2024 (03/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 02/10/2024 (02/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 01/10/2024 (01/10/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 30/9/2024 (30/09/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 27/9/2024 (27/09/2024)
- Bản tin Cải cách hành chính ngày 26/9/2024 (26/09/2024)

