Bản tin cải cách hành chính ngày 27/5/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Mạnh tay cắt thủ tục hành chính, Bộ NNPTNT tăng hạng, xếp thứ 4

2. Sẽ xử lý hình sự hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp

3. Nghị quyết 28 về cải cách BHXH: Không để ai bị bỏ lại phía sau

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

4. Nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính ở Công an Bắc Kạn

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5. Công khai thông tin văn bản trên trang thông tin Tổng cục Thuế

6. Doanh nghiệp vẫn cần nhiều nỗ lực của ngành thuế trong cải cách thủ tục hành chính

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7. Chuẩn bị chất vấn tại Quốc hội: Dự kiến 5 bộ trưởng vào "ghế nóng"

8. Tạm đình chỉ công tác 5 cán bộ hải quan

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. “Trái ngọt” PAR INDEX 2018

10. Luật và hơi thở cuộc sống

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Mạnh tay cắt thủ tục hành chính, Bộ NNPTNT tăng hạng, xếp thứ 4

Theo kết quả mới công bố của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính (CCHC) của Chính phủ về Chỉ số CCHC năm 2018, Bộ NNPTNT xếp thứ 4/18 bộ, cơ quan ngang bộ thuộc đối tượng xác định Chỉ số CCHC, với giá trị điểm Chỉ số CCHC là 85,34/100 điểm, tăng 2,96 điểm so với năm 2017.

Như vậy, trong 2 năm liên tiếp 2017 – 2018, Bộ NNPTNT đều tăng hạng Chỉ số CCHC (năm 2017 tăng từ vị trí thứ 13 lên thứ 7, năm 2018 tăng từ vị trí thứ 7 lên thứ 4).

Kết quả Chỉ số PAR Index 2018 tập trung vào 2 nhóm điểm. Nhóm thứ nhất, chỉ số PAR Index trên 80%, bao gồm 14 bộ và cơ quan ngang bộ: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Tài chính; Tư pháp; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Công Thương (84,38%); Ngoại giao; Khoa học và Công nghệ; Nội vụ; Tài nguyên và Môi trường; Lao động - Thương binh và Xã hội; Giáo dục và Đào tạo; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Thanh tra Chính phủ và Kế hoạch & Đầu tư.

Nhóm thứ hai, Chỉ số PAR Index từ trên 70% đến dưới 80%, gồm 4 Bộ: Xây dựng; Thông tin và Truyền thông; Y tế và Giao thông vận tải. Ủy ban Dân tộc, do đặc thù công tác không tham gia khảo sát.

Xét trên từng tiêu chí cụ thể, Bộ NNPTNT xếp thứ 8/18 bộ, cơ quan ngang bộ về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính, xếp thứ 6/18 về xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế thuộc phạm vi QLNN của bộ, xếp thứ 13/18 về cải cách thủ tục hành chính và cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, xếp thứ 2/18 về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức viên chức, xếp thứ 5/18 về cải cách tài chính công và xếp thứ 6/18 về hiện đại hóa hành chính.

Kết quả cải cách hành chính của Bộ Nông nghiệp và PTNT đến nay đã đạt được nhiều điểm nhấn quan trọng, đặc biệt trong cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh.

Trong năm 2018, Bộ NNPTNT đã rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa 50% điều kiện kinh doanh; cắt giảm, đơn giản hóa 50% thủ tục hành chính phải kiểm tra chuyên ngành và 70% danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành; thay đổi phương thức kiểm tra từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với 1.880 dòng hàng; thống nhất giao một đầu mối kiểm tra chuyên ngành đối với các nhóm hàng hóa xuất nhập khẩu chịu sự kiểm tra của nhiều đơn vị thuộc Bộ.

Về cải cách thủ tục hành chính, Bộ NNPTNT thực hiện quyết liệt việc kiểm soát chặt chẽ các quy định thủ tục hành chính đảm bảo đơn giản, công khai, minh bạch và cắt giảm các thủ tục hành chính không cần thiết nhưng vẫn phải đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ.

Về triển khai Chính phủ điện tử, Bộ NNPTNT đã triển khai 32 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 và 16 thủ tục hành chính triển khai trên Cơ chế một cửa quốc gia. Đến nay, tổng số hồ sơ tiếp nhận, xử lý giải quyết, cấp phép điện tử qua Cổng một cửa quốc gia khoảng 703.000 hồ sơ.

Trong năm 2019, công tác cải cách hành chính của Bộ tiếp tục được triển khai có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với lộ trình cải cách chung của Chính phủ và bám sát Kế hoạch CCHC của Bộ, tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của Bộ NNPTNT trong góp phần giúp Chính phủ thực hiện tốt chức năng kiến tạo phát triển, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn.

Bộ NNPTNT xác định đẩy mạnh cải cách hành chính với cách làm mới, sáng tạo, thiết thực, hiệu quả, với sự chỉ đạo quyết liệt, sâu sát của lãnh đạo Bộ và sự quyết tâm của Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ. Thời gian tới, Bộ NNPTNT sẽ đẩy mạnh triển khai Chính phủ điện tử tại Bộ, công khai, minh bạch, hướng tới người dân, doanh nghiệp, tạo điều kiện cho sự giám sát của xã hội.

Thứ trưởng Thường trực Hà Công Tuấn chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ tập trung triển khai thực chất, có hiệu quả các nhiệm vụ cải cách hành chính của Bộ, xác định cải cách hành chính là một trong những giải pháp quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng ngành. (Danviet.vn 27/5, Khánh Nguyên)Về đầu trang

Sẽ xử lý hình sự hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà cho doanh nghiệp

Đây là nội dung nổi bật tại Quyết định số 367/QĐ-BXD ngày 13.5.2019 ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 22.4.2019 về tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Theo đó, sẽ đề xuất xử lý nghiêm những cán bộ, công chức, viên chức có hành vi tiêu cực, tham nhũng; kịp thời phát hiện, đề xuất xử lý những trường hợp vi phạm và công khai danh tính cán bộ vi phạm trên cổng thông tin điện tử của bộ; không đề xuất xử lý hành chính mà đề xuất xử lý hình sự đối với hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà với người dân, doanh nghiệp đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật.

Đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận, xử lý, đề xuất giải quyết yêu cầu được bảo vệ của người tố cáo và chế tài xử lý các hành vi đe dọa người tố cáo; đề xuất hình thức khen thưởng, động viên, khích lệ đơn vị, tổ chức, cá nhân chấp hành tốt. Bên cạnh đó, tăng cường công tác thanh tra theo kế hoạch, thanh tra đột xuất; bảo đảm đúng quy định; không gây chồng chéo, phiền hà, sách nhiễu trong hoạt động thanh tra, kiểm tra. (Đại Biểu Nhân Dân 27/5, Hải Thanh)Về đầu trang

Nghị quyết 28 về cải cách BHXH: Không để ai bị bỏ lại phía sau

Việc ban hành Nghị quyết số 28 về cải cách chính sách BHXH được đánh giá là một cuộc cách mạng, là một chủ trương lớn có tính chất đột phá, chắc chắn sẽ tạo ra bước chuyển đổi mạnh mẽ về chính sách BHXH trên thực tiễn, hướng đến mục tiêu BHXH toàn dân.

Theo ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội, việc thực hiện an sinh xã hội không chỉ là để bảo đảm cho người dân có an sinh xã hội mà còn bảo đảm ai cũng được hưởng an sinh xã hội. Nghị quyết số 28 thể hiện đầy đủ nhất quan điểm, tư tưởng của Đảng với 5 nội dung cơ bản đổi mới trong thực hiện chính sách BHXH. Trong đó, chính sách BHXH cần được thiết kế theo hướng đa tầng, hỗ trợ và bổ sung cho nhau để bảo đảm an sinh cho mọi người dân. Cụ thể:

Tầng 1: Trợ cấp hưu trí xã hội do ngân sách nhà nước cung cấp một khoản bảo đảm về thu nhập cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc BHXH hằng tháng; có chính sách huy động các nguồn lực xã hội đóng thêm để các đối tượng này có mức hưởng cao hơn; có lộ trình mở rộng bao phủ bằng cách điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng lương hưu xã hội phù hợp với khả năng của ngân sách và lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu trong từng thời kỳ.

Tầng 2: BHXH cơ bản, bao gồm: BHXH bắt buộc (với các chế độ hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, ốm đau, thai sản, thất nghiệp) dựa trên đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động; BHXH tự nguyện (với các chế độ hưu trí, tử tuất hiện nay và từng bước mở rộng sang các chế độ khác) dựa trên đóng góp của người lao động không có quan hệ lao động, có sự hỗ trợ thích đáng từ ngân sách nhà nước cho nông dân, người nghèo, người có thu nhập thấp, lao động khu vực phi chính thức để mở rộng diện bao phủ BHXH; từng bước hình thành văn hóa đóng - hưởng để tự bảo đảm an sinh cho bản thân.

Tầng 3: Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chế độ hưu trí tự nguyện theo nguyên tắc thị trường, tạo điều kiện cho người sử dụng lao động và người lao động có thêm lựa chọn tham gia đóng góp để được hưởng mức lương hưu cao hơn.

Ông Bùi Sỹ Lợi cho rằng khi thực hiện hệ thống BHXH đa tầng sẽ giúp người dân tiếp cận chính sách BHXH một cách toàn diện, đầy đủ các chế độ và tiến tới mọi người cao tuổi đều có lương hưu hoặc từ ngân sách nhà nước hoặc từ Quỹ BHXH, không có người cao tuổi nào bị bỏ rơi lại phía sau.

Ông Đào Việt Ánh, Phó Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, cho biết ngay sau khi Nghị quyết số 28 được ban hành, BHXH Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt một cách nghiêm túc, sâu rộng trong toàn ngành, giúp cho toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thống nhất nhận thức và nắm vững các quan điểm của Đảng về cải cách chính sách BHXH. BHXH Việt Nam đã xây dựng và ban hành Chương trình hành động số 107/2018-Ctr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng BHXH Việt Nam về thực hiện Nghị quyết số 28. Đồng thời, BHXH tiến hành cụ thể hóa, bổ sung các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện vào chương trình, kế hoạch công tác của ngành ngay từ những tháng cuối năm 2018. Lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị trực thuộc và BHXH các địa phương có trách nhiệm cụ thể hóa chương trình hành động nêu trên thành kế hoạch triển khai thực hiện nghị quyết của từng đơn vị, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi đơn vị, địa phương, bảo đảm góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu mà Nghị quyết số 28 đã đề ra. Mới đây nhất, trong những ngày cuối năm 2018, BHXH Việt Nam đã phát động phong trào thi đua thực hiện Nghị quyết số 28 với chủ đề: "Quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, thực hiện hiệu quả cải cách chính sách BHXH" giai đoạn 2018-2030.

Ông Đào Việt Ánh cho rằng để đưa Nghị quyết số 28-NQ/TW vào cuộc sống, mang lại hiệu quả thiết thực cho nhân dân và toàn xã hội, đòi hỏi phải có sự quyết liệt, đồng bộ và nỗ lực cả hệ thống chính trị. Trong đó, BHXH chú trọng vào việc tích cực tham gia vào quá trình hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 28; đồng thời, đẩy mạnh công tác thông tin, truyền thông chính sách đến mọi người lao động.

Theo ông Đào Việt Ánh, thực tiễn triển khai thực hiện chính sách BHXH cho thấy chỉ khi nào người dân hiểu rõ tầm quan trọng, thấy được lợi ích của chính sách và chủ động tham gia thì sẽ thu được rất nhiều kết quả. Vì vậy, ngành BHXH sẽ tiếp tục chủ động phối hợp với các bộ, ban, ngành các cấp để công tác thông tin, truyền thông chính sách, pháp luật BHXH được thực hiện một cách đồng bộ hơn, khoa học và bài bản hơn. (Người Lao Động 27/5, Hải Anh)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính ở Công an Bắc Kạn

Luôn tâm niệm vì nhân dân phục vụ, kính trọng, lễ phép với nhân dân, cán bộ chiến sĩ Công an tỉnh Bắc Kạn đã nỗ lực, phấn đấu trên mọi lĩnh vực công tác, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của người dân.

Năm 2018, Công an Bắc Kạn xếp hạng 10/63 Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về cải cách hành chính, đây là minh chứng cụ thể, rõ rệt cho tinh thần trách nhiệm, vì nhân dân phục vụ của cán bộ, chiến sỹ Công an toàn tỉnh.

Theo chân cán bộ Đội Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đến cấp chứng minh nhân dân (CMND) cho người dân tại Bản Pò, xã Cư Lễ, chúng tôi hiểu thêm về tinh thần tận tụy vì nhân dân phục vụ của các cán bộ, chiến sỹ. Bà Lê Thị An, 82 tuổi và bà Lâm Thị Vọng, 85 tuổi, đều là cựu thanh niên xung phong, mặc dù còn minh mẫn nhưng việc đi lại gặp nhiều khó khăn, điều kiện gia đình ở xa trung tâm hành chính của huyện, nên gia đình không thể đưa các bà đi làm lại CMND. Cả 2 trường hợp trên CMND đều được làm từ trước năm 1997 nên đã hết thời hạn.

Qua công tác rà soát nắm tình hình, được biết hai bà có nhu cầu làm CMND nên Công an huyện Na Rì đã cử cán bộ đến tận nhà để tiến hành các thủ tục cấp CMND cho 2 bà. Đây là việc làm tuy nhỏ của các cán bộ, chiến sỹ Công an trong lĩnh vực quản lý hành chính nhưng đã lan tỏa được niềm vui lớn đến với người dân, giúp cho tình cảm của người dân và lực lượng Công an ngày càng thêm gắn bó.

Xác định cải cách thủ tục hành chính là một trong nhưng nhiệm vụ quan trọng trong đổi mới về công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự, Đảng ủy, lãnh đạo Công an tỉnh Bắc Kạn và Công an các đơn vị, địa phương trong tỉnh luôn quan tâm, chỉ đạo sát sao công tác này. Việc này đã được thể hiện trên nhiều nội dung, phương diện, với mục tiêu là nâng cao chất lượng giải quyết các dịch vụ hành chính công thuộc thẩm quyền quản lý và giải quyết của cơ quan, đơn vị, lấy sự hài lòng của nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

Tính nhân văn trong giải quyết các thủ tục hành chính của lực lượng Công an thực sự đang được thay đổi từ vị trí “người có thẩm quyền” sang “người cung cấp dịch vụ” cho cá nhân, tổ chức. Từ tháng 3-2016, Công an Bắc Kạn đã công bố và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008 trên 6 lĩnh vực với 6 quy trình chung và 56 quy trình cụ thể. Từ ngày 10-1-2018, triển khai hệ thống phần mềm một cửa điện tử, một cửa liên thông và cung cấp dịch vụ công mức độ cao đối với các thủ tục hành chính trong lĩnh vực phòng cháy chữa cháy, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện, quản lý hồ sơ, đăng ký quản lý cư trú…

Từ 1-7-2018, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 đối với 13 thủ tục hành chính, chủ động cắt giảm một số quy định, nâng cao trách nhiệm của cán bộ tiếp nhận hồ sơ, giảm thời hạn giải quyết nhiều thủ tục hành chính, thực hiện mô hình “một cửa” ở Công an cấp huyện phục vụ kịp thời yêu cầu chính đáng của công dân. Duy trì làm việc vào ngày thứ 7 hằng tuần tại các bộ phận giải quyết thủ tục hành chính.

Anh Đặng Xuân Thiết, ở huyện Ba Bể cho biết: “Tôi đến làm chứng minh nhân dân thấy các cán bộ chiến sỹ ở đây làm rất nhiệt tình, nhanh chóng, thuận lợi để tôi có chứng minh nhân dân trong thời gian ngắn nhất. Tôi thấy so với mấy năm trước mọi thủ tục rất nhanh chóng, cán bộ niềm nở, tiếp đón lịch sự”…

Bên cạnh đó, Công an Bắc Kạn luôn xác định lấy kết quả cải cách hành chính làm tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực chỉ đạo, điều hành của Thủ trưởng đơn vị và bình xét các danh hiệu thi đua hằng quý, cuối năm đối với tập thể và cán bộ, chiến sĩ Công an các cấp; đồng thời, giao trách nhiệm cho Trưởng Công an các đơn vị, địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác cải cách hành chính tại đơn vị và các xã, phường, thị trấn thuộc địa bàn quản lý. (Công An Nhân Dân 26/5, Ngọc Ánh)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Công khai thông tin văn bản trên trang thông tin Tổng cục Thuế

Thực hiện mục tiêu cải cách hành chính thuế, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý thuế và tạo thuận lợi cho người nộp thuế (NNT), vừa qua, Tổng cục Thuế đã ban hành Quyết định 576/QĐ-TCT về quy trình công khai thông tin trên trang điện tử của Tổng cục Thuế.

Theo đó, Tổng cục Thuế thực hiện công khai những văn bản hỏi của tổ chức, cá nhân về chính sách chế độ và các văn bản trả lời NNT của cơ quan thuế (CQT) các cấp tại mục “Công khai thông tin văn bản”. Toàn bộ văn bản hỏi/trả lời sẽ được công khai thông tin về mã CQT; số đến, ký hiệu của văn bản; trích yếu nội dung; ngày, đơn vị tiếp nhận/trả lời văn bản hỏi, đồng thời đính kèm toàn văn của văn bản hỏi dưới dạng trang PDF.

Về thời hạn công khai, quyết định ghi rõ: đối với văn bản hỏi sau khi tiếp nhận, ngay trong ngày hoặc đầu giờ sáng của ngày làm việc tiếp theo, bộ phận tiếp nhận phải thực hiện đề xuất đưa văn bản lên website và luân chuyển xử lý. Khi văn bản đến bộ phận xử lý thì đồng thời được tự động cập nhật lên website của ngành. Thời hạn luân chuyển, xử lý văn bản đến thực hiện theo quy chế làm việc của từng đơn vị.

Đối với văn bản trả lời, được bộ phận phát hành văn bản tiếp nhận và chuyển đi ngay trong ngày hoặc đầu ngày làm việc tiếp theo đến nơi nhận của văn bản, đồng thời được đăng tải tự động trên website của Tổng cục Thuế.

NNT có thể tra cứu thông tin công khai trên trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế tại địa chỉ http://www.gdt.gov.vn, sau đó chọn đầy đủ các điều kiện để tra cứu văn bản công khai gồm CQT, số văn bản đến, ngày văn bản đến sau đó bấm nút tra cứu và hệ thống sẽ hiện kết quả.

Tổng cục Thuế yêu cầu thủ trưởng các đơn vị đã triển khai chương trình quản lý văn bản tổ chức triển khai điều hành và chịu trách nhiệm tổ chức chỉ đạo đăng tải nội dung văn bản hỏi, văn bản trả lời lên Trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế theo đúng quy chế. Đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin tại CQT các cấp đảm bảo các điều kiện kỹ thuật, dung lượng đường truyền, phần mềm ứng dụng để công khai thông tin văn bản. (PhapluatPlus.vn 27/5, T.L)Về đầu trang

Doanh nghiệp vẫn cần nhiều nỗ lực của ngành thuế trong cải cách thủ tục hành chính

Trong những năm qua, cải cách chính sách và thủ tục hành chính thuế ở Việt Nam đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, do hệ thống thủ tục hành chính thuế của Việt Nam vẫn tương đối phức tạp, đòi hỏi ngành thuế cần tiếp tục nỗ lực hơn nữa để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Trong những năm qua, cải cách chính sách và TTHC thuế ở Việt Nam được thực hiện thông qua việc sửa đổi, ban hành các văn bản pháp quy theo hướng cải cách TTHC (như cắt giảm các yêu cầu, điều kiện, giấy tờ, thủ tục không cần thiết), giảm thời gian, chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, tiếp thu các thông lệ tốt của quốc tế và giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn làm cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh, gây ra sự tốn kém thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.

Cùng với đó là việc công khai, minh bạch trình tự, quy trình giải quyết và hướng dẫn cho người nộp thuế trong việc thực hiện chính sách và TTHC thuế. Đồng thời, xây dựng hệ thống ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho quản lý thuế và cung cấp dịch vụ công trực tuyến qua mạng internet cho người nộp thuế (cung cấp cho doanh nghiệp nộp thuế tất cả các văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn về thuế, các thông tin cảnh báo về những rủi ro trong thực hiện nghĩa vụ thuế như: doanh nghiệp bỏ trốn, mất tích, hóa đơn không còn giá trị sử dụng...).

Theo báo cáo của Tổng cục Thuế, đến cuối năm 2017 số thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế là 298 TTHC (số TTHC lĩnh vực thuế giảm từ 385 xuống còn 298), giảm 87 TTHC so với thời điểm 31/12/2015. Năm 2018, Tổng cục Thuế đã trình Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 2141cắt giảm 7 thủ tục, đơn giản 2 thủ tục liên quan đến: khai thuế GTGT đối với sản phẩm viễn thông; thủ tục khai khoản thu điều tiết và thủ tục hoàn thuế GTGT đối với một số sản phẩm máy móc; thủ tục khai thuế GTGT đối với cơ sở sản xuất thủy điện. Trong tổng số 298 Thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực thuế đều đã được chuẩn hóa và đã có tới 125 TTHC được thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3 và 4, Tổng cục thuế đang tiếp tục rà soát đơn giản hoá 30 thủ tục theo để nâng cao hơn nữa số lượng thủ tục hành chính đáp ứng dịch vụ công cấp công trực tuyến cấp độ 3, 4.

Bên cạnh đó, ngành thuế tiếp tục mở rộng hệ thống khai thuế qua mạng, đến nay đã triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố và 100% Chi cục Thuế trực thuộc. Phối hợp với 49 Ngân hàng thương mại đã hoàn thành kết nối NTĐT với Tổng cục Thuế và 63 Cục Thuế triển khai dịch vụ Nộp thuế điện tử. Đến nay, số lượng doanh nghiệp đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ với cơ quan thuế đạt tỷ lệ trên 98.10% số doanh nghiệp đang hoạt động. Mở rộng dịch vụ hoàn thuế điện tử tại 63 tỉnh, thành phố, tổ chức hỗ trợ cho các doanh nghiệp thực hiện thí điểm hóa đơn điện tử có mã của cơ quan thuế tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh. Hiện nay, Tổng cục thuế đã triển khai dịch vụ thuế điện tử Etax cho người nộp thuế tại 30 Cục Thuế, dự kiến đến hết Quý I/2019 sẽ hoàn thành việc triển khai áp dụng cho NNT trên cả nước.

Đáng chú ý, triển khai chỉ đạo của Chính phủ tại các Nghị quyết số 19/NQ-CP (từ năm 2014 đến 2017) về những nhiệm vụ, giải pháp để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, với mục tiêu: đạt trung bình của nhóm nước ASEAN 4 về cải cách hành chính thuế, trong đó có nội dung yêu cầu phải cắt giảm số giờ Nộp thuế của Việt Nam xuống ngang bằng với mức trung bình của các nước ASEAN-6 là 171 giờ (trong đó thuế là 117 giờ, bảo hiểm xã hội là 49 giờ). Với các giải pháp đồng bộ cả về chính sách lẫn ứng dụng công nghệ thông tin, theo kết quả tính toán dựa trên Bảng tính toán số giờ Nộp thuế của Việt Nam, tính đến cuối năm 2016 thực tế số giờ Nộp thuế của Việt Nam đã giảm được 420 giờ, còn 117 giờ.

Với những nỗ lực kể trên, cải cách chính sách và TTHC thuế ở Việt Nam đã góp phần cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phát triển. (Doanhnghiepvn.vn 26/5)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Chuẩn bị chất vấn tại Quốc hội: Dự kiến 5 bộ trưởng vào "ghế nóng"

Sáng 27/5 Tổng thư ký Quốc hội đã gửi 5 nhóm vấn đề và danh sách 5 vị trả lời chất vấn để đại biểu lựa chọn 4 người trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội thứ 7 đang diễn ra.

Nhóm vấn đề dự kiến sẽ chất vấn Bộ trưởng Bộ Công an là công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển mua bán trái phép chất ma tuý.

Nằm trong nhóm vấn đề thứ nhất còn có công tác đấu tranh phòng chống tội phạm liên quan đến hoạt động tín dụng đen, băng nhóm hoạt động theo kiểu "xã hội đen", tổ chức đường dây mang thai hộ xuyên quốc gia, xâm hại phụ nữ, trẻ em.

Công tác đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật và tội phạm an toàn giao thông, nhất là đối tượng tham gia giao thông sử dụng rượu bia vượt quá mức quy định, sử dụng ma tuý hoặc chất kích thích gây hậu quả nghiêm trọng.

Đứng thứ hai trong danh sách là Bộ trưởng Bộ Văn hoá thể thao và du lịch với nhóm vấn đề về quản lý, bảo tồn và phát triển di sản văn hoá, quản lý nguồn thu từ các khu di tích, danh lam thắng cảnh.

Công tác quản lý hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, phòng ngừa mê tín dị đoan, việc đầu tư xây dựng và quản lý các công trình tâm linh, quản lý nguồn thu từ hoạt động tín ngưỡng, du lichj tâm linh, công tác quản lý và phát triển du lịch cũng nằm trong nhóm vấn đề thứ hai.

Nhóm vấn đề thứ ba với trách nhiệm trả lời của Tổng thanh tra Chính phủ là việc chấp hành quy định của pháp luật trong công tác thanh tra, nhất là công tác thanh tra để phục vụ công tác phòng, chống tham nhũng. Trách nhiệm của ngành thanh tra trong việc nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng. Công tác chấp hành pháp luật trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo.

Bộ trưởng Bộ Xây dựng, người tiếp theo trong danh sách dự kiến sẽ trả lời về quản lý thị trường bất động sản, xử lý bất cập trong quản lý nhà chung cư, căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, văn phòng kết hợp cư trú.

Nằm trong nhóm vấn đề thứ tư này còn có công tác quy hoạch và quản lý trật tự xây dựng đô thị, việc di dời trụ sở bộ ngành ra khỏi nội đô thành phố Hà Nội.

Bộ trưởng Bộ Giao thông là người thứ 5 được dự kiến lên "ghế nóng".

Nhóm vấn đề lĩnh vực giao thông vận tải gồm xử lý những vướng mắc về kết cấu hạ tầng giao thông, nhất là các công trình giao thông trọng điểm, đội vốn lớn, chậm tiến độ, chất lượng kém.

Trong nhóm vấn đề này còn có quản lý hoạt động vận tải, chất lượng phương tiện, quản lý xe hợp đồng điện tử, đào tạo, sát hạch, cấp, thu hồi giấy phép lái xe cơ giới. Thực hiện, quản lý gíam sát thu phí tự động không dừng tại các trạm thu phí hoàn vốn dự án đầu tư trên quốc lộ, đường bộ cao tốc. Trách nhiệm của Bộ Giao thông vận tải trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

Như thường lệ, mỗi nhóm vấn đề bên cạnh người trả lời chính còn có sự "chia lửa" của phó thủ tướng phụ trách lĩnh vực và các vị bộ trưởng, trưởng ngành có liên quan.

Theo nghị trình, các phiên chất vấn và trả lời chất vấn sẽ bắt đầu từ ngày 4/6 và diễn ra trong hai ngày rưỡi. (Vneconomy.vn 27/5, Mỹ An)Về đầu trang

Tạm đình chỉ công tác 5 cán bộ hải quan

Tổng cục Hải quan vừa chính thức thông tin về vụ việc cán bộ hải quan Cửa khẩu Quốc tế La Lay (huyện Ðakrông, tỉnh Quảng Trị) có nghi vấn nhận tiền “bôi trơn” trong khi thực hiện thủ tục cho hành khách, phương tiện qua cửa khẩu.

Với tinh thần không bao che cán bộ và xử lý kỷ luật nghiêm cán bộ có sai phạm, ngay khi báo chí phản ánh thông tin nêu trên, Tổng cục Hải quan đã khẩn trương yêu cầu Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị và các đơn vị có liên quan kiểm tra, xác minh vụ việc, kiên quyết xử lý tập thể, cá nhân có liên quan nếu có sai phạm.

Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị đã tạm đình chỉ công tác 5 cán bộ hải quan ở cửa khẩu này. Trong số đó, có 4 cán bộ thuộc một kíp trực và ông Lê Chí Thành, Chi cục trưởng Hải quan Cửa khẩu quốc tế La Lay. Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị cũng đã nhanh chóng thành lập tổ công tác khẩn cấp đến xác minh sự việc tại Chi cục Hải quan cửa khẩu quốc tế La Lay. (Đại Biểu Nhân Dân 27/5, Tr. Hải)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

“Trái ngọt” PAR INDEX 2018

Vào top 10 bộ, ngành dẫn đầu bảng xếp hạng chỉ số cải cách thủ tục hành chính (PAR INDEX) 2018 và ở nhóm 5 bộ, ngành có kết quả cao nhất từ điều tra xã hội học - đây là “trái ngọt” Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội nhận được sau một chặng đường kiên trì và nỗ lực cải cách thủ tục hành chính gắn với ứng dụng công nghệ thông tin.

Nằm trong số ít Bộ có sự tác động, ảnh hưởng rộng khắp đến mọi tầng lớp nhân dân, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đang gánh một lượng công việc khổng lồ, phục vụ từ trẻ sơ sinh đến người đã khuất. Và nếu coi các chính sách về kinh tế, đầu tư, tài chính trúng, đúng… quyết định sự thịnh vượng của quốc gia thì các chính sách an sinh, bảo đảm xã hội… của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội sẽ là nền tảng cơ bản bảo đảm trật tự, công bằng xã hội.

Nhận thức rõ trọng trách này, lãnh đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội và các cộng sự xác định: Muốn đổi mới đến đâu, thăng hạng cỡ nào mà không làm người dân, doanh nghiệp hài lòng thì coi như “phú quý giật lùi”. Bởi vậy, ngay từ khi nhậm chức, một trong những mục tiêu Bộ trưởng Đào Ngọc Dung đặt ra là phải cải cách các thủ tục hành chính, ứng dựng công nghệ thông tin vào các hoạt động của ngành. Đây cũng là bước hiện thực hóa một trong ba khâu đột phá đã được đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI;  Nghị quyết số 30c/NQ-C của Chính phủ về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và Quyết định số 225/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Kế hoạch Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2016 - 2020.

Với phương châm cải cách hành chính phải hướng đến đích cuối là phục vụ tốt cho người dân, doanh nghiệp, toàn ngành xác định cải cách hành chính phải gắn với ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phong cách phục vụ, thực hiện văn hóa công sở và coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ban hành Chỉ thị về việc đẩy mạnh cải cách hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin đến năm 2020. Cùng với đó là đẩy mạnh kiểm tra, tập huấn về cải cách hành chính, nhằm từng bước nâng cao nhận thức, năng lực cải cách cho toàn thể đội ngũ công chức, viên chức. Những quyết tâm đó đã giúp Bộ 2 năm liên tiếp hoàn thành 100% đề án trong Chương trình công tác của Chính phủ và Thủ tướng giao; hoàn thành các chỉ tiêu về tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lao động qua đào tạo; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều mà QH, Chính phủ giao; góp phần cùng cả nước hoàn thành toàn diện 12 chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Bên cạnh đó, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã cắt giảm, đơn giản hóa 66/107 điều kiện kinh doanh (đạt tỷ lệ 61,68%); bãi bỏ và đơn giản hóa 116 thủ tục hành chính; cắt giảm và đơn giản hóa 19/32 sản phẩm hàng hóa kiểm tra chuyên ngành (đạt tỷ lệ 59,38%). Ngoài ra, cơ cấu tổ chức của Bộ được rà soát, tổ chức lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm dữ liệu Giáo dục nghề nghiệp đạt chuẩn quốc tế; vận hành Cổng dịch vụ công trực tuyến của Bộ; vận hành Cổng thông tin điện tử về liệt sĩ, mộ liệt sĩ và nghĩa trang liệt sĩ; triển khai hệ thống thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về hộ nghèo, hộ cận nghèo… đã giúp Bộ có những cú “lội ngược dòng” trên Bảng xếp hạng PAR INDEX 2017, 2018 và nhận được sự đánh giá cao của đông đảo người dân.

Tuy nhiên, người đứng đầu Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội cho rằng những kết quả nêu trên mới chỉ là bước đầu. Thời gian tới, để công tác cải cách hành chính ngày càng đi vào thực chất, ăn sâu vào ý thức của mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong ngành, Bộ còn rất nhiều việc phải làm. Trước mắt, Bộ tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; tinh gọn tổ chức bộ máy các đơn vị hành chính, đơn vị sự nghiệp; phát triển Chính phủ điện tử, đẩy mạnh việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính tại 4 đơn vị: Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp; Cục Quản lý Lao động ngoài nước, Cục An toàn lao động, Cục Việc làm; tăng cường các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4. Đặc biệt, Bộ đang xây dựng và triển khai Kiến trúc Chính phủ điện tử Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội phiên bản 1.0. (Đại Biểu Nhân Dân 27/5, Bình Nhi)Về đầu trang

Luật và hơi thở cuộc sống

Trước yêu cầu từ thực tiễn cũng như để tương thích giữa pháp luật lao động quốc gia với tiêu chuẩn lao động quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, Bộ luật Lao động năm 2012 đã được xem xét, sửa đổi bổ sung. Tuy nhiên sau một thời gian dài chuẩn bị, hoàn thiện, đến nay khi Ban soạn thảo đưa Dự thảo Bộ luật Lao động sửa đổi xin ý kiến thì vẫn còn nhiều luồng quan điểm khác nhau từ các chuyên gia, doanh nghiệp và người lao động về một số chế định mới.

Sau nhiều lần rà soát, chỉnh sửa và lược bỏ các điều có nội dung đã được quy định bởi các luật khác; sửa đổi, bổ sung các điều, khoản của Bộ luật Lao động hiện hành theo mục đích và các quan điểm chỉ đạo sửa đổi, đòi hỏi của thực tiễn, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội- cơ quan được giao chủ trì soạn thảo đã xây dựng dự thảo Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 221 điều, giảm 21 điều so với Bộ luật Lao động hiện hành và sửa đổi, bổ sung khoảng 171 điều trong tất cả các chương. Đây được đánh giá là bản Dự thảo luật hoàn chỉnh và nhận được sự đồng thuận lớn nhất từ trước tới nay. Song thực tế có không ít các quy định, đề xuất vẫn còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau. Trong số đó phải kể đến việc đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu.

Cho ý kiến tại Phiên họp toàn thể lần thứ 13 mới đây của Ủy ban về Các vấn đề xã hội nhằm thẩm tra dự án Bộ luật Lao động sửa đổi, nhiều đại diện các ban, bộ ngành đã thẳng thắn bày tỏ nỗi băn khoăn với các phương án tăng tuổi nghỉ hưu.

“Chúng tôi rất băn khoăn với quy định tăng tuổi nghỉ hưu. Ở nhiều ngành nghề, tuổi tác có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng, nhiệt huyết với công việc. Chúng tôi đã gặp nhiều giáo viên mầm non, khi hỏi về chuyện tăng tuổi hưu thì họ nói rằng giáo viên mầm non mới 40 tuổi mà múa hát cho các bé còn không nổi nữa thì 50-60 lấy sức đâu nữa mà nhảy, mà hát?”-  Đại biểu Ngọ Duy Hiểu - Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam nói.Tương tự, đại biểu Nguyễn Sỹ Cương - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại – cũng cho rằng nên cân nhắc quyền lợi số đông người lao động.

Tăng tuổi nghỉ hưu và câu hỏi làm thế nào để dung hòa được giữa yêu cầu của thị trường, đòi hỏi của thực tiễn và đảm bảo được quyền lợi cho người lao động luôn là vấn đề đau đầu đối với không chỉ những nhà lập pháp.

Có một thực tế không thể phủ nhận là điều chỉnh tuổi nghỉ hưu là vấn đề rất “nóng” không chỉ ở Việt Nam mà với các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Kinh nghiệm của quốc tế cũng chỉ ra một thực tế là hầu hết các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển khi điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu đều khó nhận được sự đồng thuận, nhất là sự đồng thuận của những người lao động phổ thông, trong những lĩnh vực khó nhọc, vất vả. Và ở nước ta, một đất nước mà thế mạnh về nguồn nhân lực “nhân công giá rẻ” thì vấn đề tăng tuổi nghỉ hưu sẽ có nhiều ý kiến băn khoăn là điều dễ hiểu. Nói như vậy không đồng nghĩa với việc trong quá trình xây dựng Luật có thể đưa những quy định mà ở đó không có hơi thở của cuộc sống. Là tổ chức đại diện cho người lao động, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, đồng ý với quy định tuổi nghỉ hưu trong Dự thảo nhưng phải quán triệt đầy đủ tinh thần Nghị quyết 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách BHXH.

Theo đó việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu phải có tầm nhìn dài hạn và có lộ trình, giải quyết việc làm, thất nghiệp; không gây sốc, không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động; bảo đảm số lượng và chất lượng cơ cấu dân số; bình đẳng giới, cân đối quỹ BHXH trong dài hạn, xu hướng già hóa dân số, tính chất loại hình lao động. Đặc biệt cần cân nhắc, xem xét tuổi nghỉ hưu với nhóm lao động trực tiếp trong khu vực sản xuất, dịch vụ và một số ngành nghề đặc thù. Đối với đối tượng này, có thể xem xét chưa tăng tuổi nghỉ hưu hoặc có lộ trình tăng chậm hơn hay có các chính sách hỗ trợ linh hoạt, không gây tác động tiêu cực đến thị trường lao động.

Bộ luật Lao động đầu tiên được ban hành ngày 23/6/1994 và có hiệu lực thi hành từ 1/1/1995. Trải qua 24 năm hình thành và áp dụng trong cuộc sống, Bộ luật Lao động đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 2002, 2006, 2007 và 2012. Bộ luật Lao động được xác định là “Luật gốc” trong lĩnh vực lao động trong đó đề cập tương đối đầy đủ các nội dung liên quan đến việc quản lý, sử dụng lao động và làm việc của người lao động.

Chính vì vậy việc xây dựng Bộ luật Lao động nói chung cũng như đề xuất tăng tuổi nghỉ hưu nói riêng đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, giải quyết tốt nhất những vấn đề đặt ra trong thực tiễn, vừa thúc đẩy thị trường lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và xa hơn là thúc đẩy nền kinh tế phát triển là việc làm cần thiết. Và để đảm bảo cho yêu cầu cần thiết ấy đòi hỏi các nhà làm luật cần thận trọng, đánh giá rõ tác động tích cực và tiêu cực đối với thị trường lao động khi thực hiện lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu; phản ứng của các đối tượng bị tác động ở các ngành nghề, lĩnh vực, từ đó có phương án tối ưu khi xem xét điều chỉnh tuổi nghỉ hưu. (Đại Đoàn Kết 27/5, Lê Bảo)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.041.275 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này