Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 20/9/2019
1. Quy định mới về chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh
2. TP.HCM rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhờ ủy quyền
3. Thanh Khê, TP Đà Nẵng: Chấn chỉnh công tác kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập
4. Tổng cục Hải quan dẫn đầu trong công tác cải cách hành chính của ngành Tài chính
5. Mới có 30 bệnh viện triển khai thanh toán điện tử
6. Công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về công tác cán bộ
7. Cơ quan nhà nước ngày càng khó tuyển dụng cán bộ trẻ, tài năng?
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
8. Giám đốc sở không cần ngoại ngữ vì trước hết là công chức
9. Quan chức "cầu an": Có công ai cũng nhận, quy trách nhiệm thì là cả tập thể
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Quy định mới về chức năng, nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh
Bộ trưởng Bộ Tài chính vừa ký ban hành Quyết định số 1618/QĐ-BTC quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Quyết định 1618/QĐ-BTC nêu rõ, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có nhiệm vụ tổ chức triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt và hướng dẫn của Kho bạc Nhà nước; Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Hướng dẫn, kiểm tra các Kho bạc Nhà nước ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Kho bạc Nhà nước cấp huyện) thực hiện các hoạt động nghiệp vụ theo chế độ quy định.
Đối với nhiệm vụ quản lý quỹ ngân sách nhà nước, quỹ dự trữ tài chính nhà nước theo quy định của pháp luật, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh cần tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh; thực hiện điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách theo quy định của pháp luật; Thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Quản lý các tài sản quốc gia quý hiếm theo quyết định của cấp có thẩm quyền, quản lý tiền, tài sản, ấn chỉ đặc biệt, các loại chứng chỉ có giá của Nhà nước và của các đơn vị, cá nhân gửi tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.
Ngoài ra, Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có nhiệm vụ thực hiện giao dịch thu, chi tiền mặt; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn kho, quỹ tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh; Tổ chức thực hiện công tác kế toán ngân sách nhà nước: Hạch toán kế toán về thu, chi ngân sách nhà nước, các quỹ tài chính do Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh quản lý, các khoản vay nợ, trả nợ của Chính phủ, chính quyền địa phương và các hoạt động nghiệp vụ kho bạc tại Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh theo quy định của pháp luật; Báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định của pháp luật; Thực hiện nhiệm vụ tổng kế toán nhà nước theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện chương trình hiện đại hoá hoạt động Kho bạc Nhà nước; cải cách hành chính theo mục tiêu nâng cao chất lượng hoạt động, công khai hoá thủ tục, cải tiến quy trình nghiệp vụ và cung cấp thông tin để tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh.
Theo Quyết định này của Bộ Tài chính, các phòng chức năng tham mưu, giúp việc Giám đốc Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh, gồm có: Phòng Kế toán nhà nước; Phòng Kiểm soát chi; Phòng Thanh tra - Kiểm tra; Phòng Tài vụ - Quàn trị; Văn phòng.
Riêng Kho bạc Nhà nước Hà Nội được tổ chức 3 Phòng Kiểm soát chi, Kho bạc Nhà nước TP. Hồ Chí Minh được tổ chức 2 Phòng Kiểm soát chi.
Quyết định nêu rõ, quan hệ giữa Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh với Ủy ban nhân dân các cấp được quy định như sau: Được Uỷ ban nhân dân cùng cấp tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ và chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của Uỷ ban nhân dân cùng cấp theo quy định của pháp luật; Có trách nhiệm tham mưu, đề xuất, kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức quản lý, điều hành ngân sách nhà nước và huy động vốn cho ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo về số liệu thu, chi ngân sách nhà nước và các hoạt động của KBNN có liên quan theo quy định với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thực hiện thông tin báo cáo về số liệu thu, chi ngân sách nhà nước cho Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định.
Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện các quy định của Bộ Tài chính về quan hệ công tác với các cơ quan tài chính trên địa bàn. Được phép yêu cầu các cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan tài chính cấp huyện và cơ quan nhà nước khác có liên quan trên địa bàn cung cấp hồ sơ, tài liệu cần thiết theo quy định phục vụ cho hoạt động Kho bạc Nhà nước.
Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh có trách nhiệm cung cấp thông tin, báo cáo về số liệu thu, chi ngân sách nhà nước và các hoạt động của Kho bạc Nhà nước có liên quan theo quy định cho cơ quan tài chính cùng cấp, cơ quan tài chính cấp huyện và cơ quan nhà nước khác có liên quan trên địa bàn. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/ 2019. (Haiquanonline.com.vn 20/9, Thùy Linh) Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
TP.HCM rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ nhờ ủy quyền
Việc ủy quyền đã giúp rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ của TP.HCM, góp phần thực hiện hiệu quả công tác cải cách hành chính. Đồng thời, việc này còn giúp tiết kiệm chi phí hành chính, văn thư và tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
Đây là nhận định của Sở Nội vụ TP.HCM tại hội nghị sơ kết thực hiện đề án ủy quyền cho các sở, ngành, UBND các quận huyện trên địa bàn do UBND TP.HCM tổ chức chiều 19.9.
Báo cáo tại hội nghị, Giám đốc Sở Nội vụ TP.HCM Trương Văn Lắm cho biết, thời gian qua, việc ủy quyền đã giúp cho các sở ngành, UBND các quận huyện chủ động trong công tác tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được giao. Việc ủy quyền cũng đã giúp rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, thủ tục hành chính vì giảm khâu trung gian.
Cụ thể, ông Lắm dẫn chứng việc giải quyết hồ sơ quy trình công nhận hiệu trưởng trường trung cấp tư thục theo quy định là 20 ngày nhưng khi ủy quyền, Sở Lao động - Thương binh - Xã hội thực hiện còn 12 ngày. Hay việc ủy quyền cho Ban Quản lý Khu Công nghệ cao thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư đã rút ngắn thời gian từ 50 ngày xuống còn 42 ngày.
Giám đốc Sở Nội vụ nói rằng điều này góp phần thực hiện có hiệu quả công tác cải cách hành chính, nâng cao sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, việc thực hiện ủy quyền còn giúp tiết kiệm chi phí hành chính, văn thư và tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, ông Lắm cho biết vẫn còn một số nội dung hướng dẫn liên quan đến đất đai, quản lý nhà chưa được ban hành kịp thời. Nguyên nhân là do đang rà soát sửa đổi, bổ sung nội dung ủy quyền, hoặc đang hoàn chỉnh trình UBND TP.HCM sau khi lấy ý kiến của các cơ quan liên quan.
Đồng quan điểm, Chủ tịch UBND Quận 9 Trần Văn Bảy nói rằng, hiện nay rất nhiều thủ tục liên quan nhà đất đang vướng giữa Chi nhánh và Văn phòng đăng ký đất đai. Tuy thời gian qua Sở Tài nguyên - Môi trường, Văn phòng đăng ký đất đai tăng cường ủy quyền nhưng không giải quyết được một cách triệt để. Vì vậy, thành phố cần kiến nghị Chính phủ sửa nghị định để thực hiện việc giao cho quận, huyện.
Đánh giá tại hội nghị, Phó chủ tịch UBND TP.HCM Trần Vĩnh Tuyến cũng nói rằng, việc ủy quyền là chủ trương đúng, góp phần giải quyết công việc nhanh hơn, hiệu quả hơn, tạo sự chủ động theo nhu cầu của cơ sở. Một số công việc đã được giải quyết một cách rút ngắn, chủ động giải quyết, giảm chi phí hành chính, tăng trách nhiệm của người đứng đầu. Đặc biệt, sau một năm thực hiện ủy quyền chưa thấy nội dung nào có sai sót, khuyết điểm.
Theo ông Tuyến, trước đây còn nhiều ý kiến băn khoăn, ngại cơ sở không kham nổi việc khi được ủy quyền, thế nhưng Chủ tịch TP.HCM chỉ đạo cứ ủy quyền, phân cấp mới đánh giá được năng lực cán bộ. “Thông qua ủy quyền, phân cấp về sơ sở có thể đánh giá năng lực, trách nhiệm cán bộ. Từ đó, phân loại được cán bộ làm được và không được việc”, ông Tuyến nói.
Tuy nhiên, ông Trần Vĩnh Tuyến cho rằng, việc ủy quyền của cấp dưới hiện nay chưa có sự chủ động, còn lệ thuộc vào ý kiến của Sở Nội vụ và các sở, ngành mà chưa chủ động thực hiện việc ủy quyền. Đồng thời, việc đề xuất nhận ủy quyền một số sở, ngành thực hiện tốt; một số sở chưa mạnh dạn đề xuất nhận ủy quyền để rút ngắn thời gian, mà chờ ý kiến của UBND TP.HCM.
Do vậy, trong thời gian tới, ông đề nghị việc ủy quyền cần phát triển theo hướng không nhiều đầu mối và tạo sự chủ động cho cơ sở. Cùng với đó, thành phố tiếp tục đề xuất nhận ủy quyền và giao ủy quyền; nhất là nghiên cứu lĩnh vực đầu tư công có thể ủy quyền cho cấp dưới phê duyệt theo dự án phân cấp.
Trước đó, ngày 20.10.2018, UBND TP.HCM đã ban hành đề án ủy quyền cho thủ trưởng các sở ngành, quận huyện thực hiện 85 nhiệm vụ, quyền hạn của UBND TP.HCM và Chủ tịch UBND TP.HCM trên 4 lĩnh vực: đô thị - môi trường; kinh tế - ngân sách - dự án; văn hóa - xã hội và tư pháp - nội vụ. Đề án này được cụ thể hóa theo thẩm quyền thành hai quyết định có hiệu lực từ ngày 20.1 năm nay, gồm quyết định số 4712 và 4713. (Motthegioi.vn 20/9, Phan Diệu) Về đầu trang
Thanh Khê, TP Đà Nẵng: Chấn chỉnh công tác kê khai, minh bạch tài sản, thu nhập
Đó là một trong những kiến nghị của Thanh tra TP Đà Nẵng đối với UBND quận Thanh Khê tại kết luận thanh tra trách nhiệm thực hiện các quy định của pháp luật về thanh tra, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo (KNTC) và phòng, chống tham nhũng (PCTN).
Kết luận chỉ ra, về công tác thanh tra, các cuộc thanh tra do Thanh tra quận thực hiện cơ bản đúng tiến độ và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra theo quy định.
Tuy nhiên, qua kiểm tra hồ sơ các cuộc thanh tra do Thanh tra quận thực hiện, cả 7 đoàn thanh tra không thể hiện việc lập biên bản công bố quyết định thanh tra là chưa đúng theo quy định tại Điều 26, Nghị định 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra và Điều 22, Thông tư số 05/2014/TT-TTCP ngày 16/10/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động, quan hệ công tác của đoàn thanh tra và trình tự, thủ tục tiến hành một cuộc thanh tra.
Việc công khai kết luận thanh tra, Thanh tra TP chỉ ra, người ra quyết định thanh tra chưa thực hiện việc công khai kết luận thanh tra theo điểm a, Khoản 2, Điều 39 Luật Thanh tra và điểm a, Khoản 3, Điều 46, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thanh tra.
Mặt khác, Chủ tịch UBND quận Thanh Khê ban hành quyết định giao nhiệm vụ xác minh nội dung TC chưa đúng theo mẫu số 06-TC (ban hành kèm theo Thông tư số 06/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết TC).
Bên cạnh đó, cơ quan được giao nhiệm vụ xác minh nội dung TC không thực hiện việc thành lập tổ xác minh và kế hoạch xác minh nội dung TC là chưa đúng quy định tại khoản 4, Điều 9 và Điều 11 Thông tư số 06/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ.
Về PCTN, kết luận chỉ ra, một số trường hợp người có nghĩa vụ kê khai thực hiện chưa đầy đủ, chưa đúng yêu cầu, như: Khai giá trị nhà nhưng không khai giá trị đất của ngôi nhà, có trường hợp không kê khai tổng thu nhập hoặc chỉ kê thu nhập của bản thân mà không kê khai tổng thu nhập của vợ và chồng; người nhận bản kê khai chưa ký vào từng trang của bản kê khai và thực hiện lưu trữ còn thiếu một số bản kê khai cùng hồ sơ cán bộ theo quy định như tại UBND phường Thạc Gián, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận…
Thanh tra TP kiến nghị Chủ tịch UBND quận Thanh Khê chỉ đạo các đơn vị liên quan chấn chỉnh, khắc phục các hạn chế, thiếu sót; tiếp tục chỉ đạo bộ phận liên quan hướng dẫn cho người có nghĩa vụ kê khai thực hiện kê khai đầy đủ, đúng quy định của Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập, Thông tư số 08/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập.
Đồng thời, tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về tiếp công dân, KNTC, PCTN trên địa bàn quận. Trong đó, chú trọng quán triệt, tuyên truyền, phổ biến các quy định của Luật TC năm 2018 và Luật PCTN năm 2018 trên địa bàn quận; triển khai, sử dụng “Hệ thống cơ sở dữ liệu quản lý công tác thanh tra, tiếp công dân, xử lý đơn, giải quyết KNTC, kiến nghị, phản ánh và PCTN trên địa bàn TP Đà Nẵng”, khi TP có chủ trương triển khai nhân rộng trong thời gian tới. (Thanhtra.com.vn 20/9, Nguyễn Điểm) Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Tổng cục Hải quan dẫn đầu trong công tác cải cách hành chính của ngành Tài chính
Bộ Tài chính vừa công bố Chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả cải cách hành chính (CCHC) năm 2018. Theo đó, Tổng cục Hải quan tiếp tục khẳng định vị trí thứ nhất trong bảng xếp hạng thuộc khối các tổng cục. Điều này càng cho thấy quyết tâm của ngành Hải quan trong việc cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính (TTHC) nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, minh bạch, giảm chi phí cho DN.
Theo Quyết định 1703/QĐ-BTC ngày 29/8/2019 của Bộ Tài chính, trong chấm điểm cải cách hành chính các đơn vị khối tổng cục với thang điểm 100, Tổng cục Hải quan xếp thứ 1/5 (đơn vị đánh giá 97,5; điểm thẩm định là 96,5), Kho bạc Nhà nước xếp thứ 2 (đơn vị đánh giá 99,5; điểm thẩm định là 96), Tổng cục Thuế (đơn vị đánh giá là 98,5; điểm thẩm định là 95,5), Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (đơn vị đánh giá là 100; điểm thẩm định là 95), Tổng cục Dự trữ Nhà nước (điểm tự chấm là 96; điểm thẩm định là 94).
Qua kết quả công bố chỉ số theo dõi, đánh giá, các đơn vị khối tổng cục thuộc Bộ Tài chính đều đạt trên 90% điểm so với điểm tối đa và không có sự chênh lệch nhiều, cho thấy kết quả CCHC của các đơn vị là khá cao và toàn diện.
Đặc biệt, kết quả này được xem là những thành tích rất đáng ghi nhận cho những nỗ lực mà ngành Hải quan đã đạt được trong thời gian qua nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, minh bạch, giảm chi phí cho DN.
Trong những năm qua, Tổng cục Hải quan luôn xác định công tác CCHC là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, được thực hiện thường xuyên, liên tục, góp phần quan trọng vào hoạt động CCHC của ngành Tài chính. Bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý về pháp luật hải quan, ngành Hải quan đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. Đây chính là “đòn bẩy” góp phần tạo thuận lợi cho DN nâng cao sức cạnh tranh, đạt sự tăng trưởng trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Với sự nỗ lực trong tiếp cận chuẩn mực quốc tế về quản lý hải quan hiện đại, Tổng cục Hải quan đã đẩy mạnh thực hiện cải cách TTHC, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa nhiều TTHC trong lĩnh vực hải quan. Đồng thời, Tổng cục Hải quan đã quyết liệt đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng trang thiết bị kỹ thuật hiện đại trong quản lý nhà nước về hải quan, đạt được những kết quả quan trọng. Việc cơ quan Hải quan công khai bộ TTHC hải quan giúp DN dễ dàng tiếp cận TTHC. Các đề xuất bãi bỏ thủ tục không cần thiết; cắt giảm, đơn giản hóa TTHC; cắt giảm điều kiện kinh doanh lĩnh vực hải quan dự kiến tiết kiệm cho cộng đồng DN khoảng 15 tỷ đồng/ năm nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan. Công tác kiểm tra chuyên ngành được Tổng cục Hải quan thúc đẩy các bộ, ngành thực hiện thường xuyên, qua đó tác động đến các bộ, ngành phải tăng cường cải cách hơn nữa…
Mặc dù thời gian qua ngành Hải quan đã không ngừng cải cách thể chế, cải cách TTHC, cải cách tài chính công, hiện đại hóa, triển khai có hiệu quả Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ hải quan, nhưng theo Tổng cục Hải quan, việc xây dựng hồ sơ đề án đăng ký chương trình xây dựng pháp luật; kiểm soát tiến độ xây dựng đề án; một số văn bản có phạm vi điều chỉnh rộng, nội dung phức tạp, lấy ý kiến các bộ, ngành nhiều lần đã ảnh hưởng đến tiến độ ban hành. Ngoài ra, khối lượng công việc của ngành Hải quan ngày càng tăng nhưng biên chế không tăng, trong khi đó yêu cầu phải đẩy mạnh cải cách, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa XNK, giảm chi phí đầu vào cho DN là những áp lực buộc ngành Hải quan phải thường xuyên cải cách đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Bên cạnh đó, số lượng hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành còn chiếm tỷ trọng lớn; văn bản pháp luật về kiểm tra chuyên ngành có phạm vi quản lý và kiểm tra rộng, nhiều mặt hàng chưa có mã số HS, chưa có đầy đủ tiêu chuẩn, quy chuẩn để thực hiện việc kiểm tra; còn chồng chéo trong quản lý về kiểm tra chuyên ngành….
Đặc biệt, số lượng TTHC triển khai mới trên Cơ chế một cửa quốc gia chưa đáp ứng mục tiêu đề ra theo kế hoạch hành động của Chính phủ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vẫn chưa phủ tất cả lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan.
Do vậy, để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của người dân và DN về tính minh bạch, hiệu quả đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính, Tổng cục Hải quan sẽ tiếp tục nỗ lực trong công tác CCHC.
Cụ thể, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan để thích ứng với sự gia tăng mở rộng nhanh chóng của thương mại điện tử và hội nhập quốc tế; áp dụng cơ chế quản lý hải quan hiện đại (như bảo lãnh thông quan) trong thực hiện CCHC; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và trang thiết bị hiện đại nhằm tăng cường năng lực quản lý của cơ quan Hải quan, đồng thời ứng dụng thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan.
Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan thực hiện các giải pháp nhằm nâng hạng Chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới (cụ thể là các giải pháp giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành; giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hải quan; giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục với công ty kinh doanh cảng, kho, bãi...). Đẩy mạnh công tác phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đối thoại thường xuyên với DN để giải quyết kịp thời những vướng mắc, đề xuất hiệu chỉnh chính sách phục vụ tốt hơn yêu cầu của người dân và DN.
Nhằm nâng cao Chỉ số CCHC, Tổng cục Hải quan tiếp tục tích cực phối hợp các bộ, ngành thực hiện quyết liệt việc cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa xuất nhập khẩu; tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật hải quan để thích ứng với sự gia tăng nhanh chóng của thương mại điện tử và hội nhập quốc tế. Trong năm 2019, thực hiện chỉ đạo của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan đã và đang triển khai các giải pháp cải cách hiện đại hóa nhằm nâng hạng chỉ số giao dịch thương mại qua biên giới, cụ thể là các giải pháp giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục quản lý, kiểm tra chuyên ngành; giảm thời gian, chi phí thực hiện thủ tục hải quan. (Haiquanonline.com.vn 20/9, Đảo Lê) Về đầu trang
Mới có 30 bệnh viện triển khai thanh toán điện tử
Hiện nay mới có khoảng 30 bệnh viện triển khai thanh toán điện tử không dùng tiền mặt. Chỉ có số ít bệnh viện đạt 35% số lượng giao dịch thanh toán viện phí không dùng tiền mặt, giảm quá tải khu vực xếp hàng chờ thanh toán viện phí, góp phần tăng sự hài lòng của người bệnh.
Ngày 20-9, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị trực tuyến đẩy mạnh triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trong ngành y tế tại điểm cầu Hà Nội và 62 điểm cầu tại UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương.
Tại hội nghị, Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, toàn ngành y tế đã có khoảng 30 bệnh viện triển khai thanh toán điện tử không dùng tiền mặt và bước đầu đạt được một số kết quả khả quan.
Trong đó, Bệnh viện trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những đơn vị tiên phong và triển khai hiệu quả thanh toán viện phí không dùng tiền mặt. Tại bệnh viện, bệnh nhân chỉ cần quét mã QR (Quick Response) trên phiếu viện phí bằng ứng dụng của các ngân hàng liên kết với bệnh viện và ngay lập tức có kết quả phản hồi mà không cần phải xếp hàng đợi thanh toán viện phí hay đến bệnh viện khám bệnh phải mang theo tiền mặt.
Đến nay có 15 ngân hàng liên kết hỗ trợ thanh toán viện phí bằng QR code tại bệnh viện và giúp người bệnh thanh toán chi phí khám chữa bệnh trực tiếp trên nền tảng thiết bị di động thông minh dễ dàng hơn, thậm chí có thể nhờ người thân thanh toán viện phí từ xa. Số bệnh nhân thanh toán viện phí không dùng tiền mặt chiếm 35% trên tổng số giao dịch thanh toán viện phí của bệnh viện.
Theo Bộ trưởng, hiện nay việc thu, thanh toán viện phí bằng tiền mặt ở một số bệnh viện khiến người dân mất đến 3-4 lượt xếp hàng chờ thanh toán tiền khám bệnh, làm các chỉ định lâm sàng, nộp tiền nhập viện, nộp viện phí… gây ra tâm lý ức chế, khó chịu, cáu gắt. Bệnh viện cũng phải bố trí số đông cán bộ chỉ làm công tác thu tiền và thanh toán viện phí.
Trước thực tế này, ngành y tế đang đẩy mạnh triển khai thanh toán không dùng tiền mặt. Tuy nhiên, phương thức thanh toán điện tử trong ngành y tế còn nhiều hạn chế như: Tỷ lệ các bệnh viện triển khai thanh toán điện tử hiện còn thấp; việc kết nối giữa phần mềm ngân hàng, các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) còn gặp nhiều khó khăn; người dân chưa có thói quen thanh toán điện tử trong hầu hết các giao dịch thanh toán.
Đặc biệt, chúng ta chưa có nhiều giải pháp, phương thức thanh toán viện phí không dùng tiền mặt cho các cơ sở y tế tại vùng sâu, vùng xa, miền núi. Các bệnh viện chưa nhận thức được đầy đủ ý nghĩa, lợi ích cũng như các phương thức thanh toán điện tử không dùng tiền mặt nên tỷ lệ các bệnh viện triển khai thanh toán điện tử không dùng tiền mặt hiện còn thấp. Phí thanh toán các giao dịch điện tử không dùng tiền mặt còn cao và bệnh viện chưa có các cơ chế chi trả phí. Việc kết nối giữa phần mềm ngân hàng, các trung gian thanh toán với hệ thống thông tin bệnh viện (HIS) còn gặp nhiều khó khăn.
Ngày 19-9-2019, Bộ trưởng Y tế đã ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh triển khai thanh toán viện phí, học phí không dùng tiền mặt trong ngành y tế. Theo đó, Bộ trưởng yêu cầu thủ trưởng các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và thủ trưởng các cơ sở giáo dục đào tạo về y dược đóng trên địa bàn đô thị phải bố trí nguồn nhân lực, sử dụng nhiều giải pháp thanh toán điện tử để đáp ứng nhu cầu của người dân. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống thông tin bệnh viện (HIS), triển khai sử dụng hóa đơn điện tử.
Bộ trưởng đề nghị Cục Quản lý Khám, chữa bệnh nghiên cứu, đề xuất bổ sung tiêu chí về thanh toán điện tử vào trong Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.
Bộ Y tế cũng yêu cầu các cơ sở y tế triển khai các phương thức thanh toán điện tử không dùng tiền mặt tại đơn vị, đáp ứng yêu cầu thanh toán điện tử không dùng tiền mặt của người dân trước ngày 31-12-2019. (Nhandan.com.vn 20/9, Lâm Trần) Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Công bố quyết định của Thủ tướng Chính phủ về công tác cán bộ
Chiều 19/9 tại Hà Nội, Ban Cán sự Đảng, lãnh đạo Bộ Thông tin và Truyền thông đã tổ chức Lễ Công bố và trao quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông.
Tại buổi lễ, thừa ủy quyền của Thủ tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã trao Quyết định số 1229/QĐ-TTg ngày 19/9/2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc điều động, bổ nhiệm đồng chí Phạm Anh Tuấn, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Bưu điện Việt Nam giữ chức Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký.
Chúc mừng tân Thứ trưởng Phạm Anh Tuấn, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, đồng chí Phạm Anh Tuấn nhận nhiệm vụ khi Bộ có nhiều sứ mệnh, công việc mới như kinh tế số, chuyển đổi số, phát triển doanh nghiệp công nghệ... Bộ trưởng tin tưởng “khó khăn là lửa thử vàng” sẽ giúp đồng chí Phạm Anh Tuấn trưởng thành và tiếp tục đảm nhận, hoàn thành những công việc, sứ mệnh mới của Bộ, đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Được biết, đồng chí Phạm Anh Tuấn sinh năm 1973, tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội và là Tiến sĩ kinh tế Học chuyên ngành tài chính doanh nghiệp.
Đồng chí Phạm Anh Tuấn từng đảm nhiệm các vị trí: Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần dịch vụ Kỹ thuật Viễn thông; Tổng giám đốc, Ủy viên Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện; Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Bưu chính Việt Nam (nay là Tổng công ty Bưu điện Việt Nam); Tổng giám đốc, Thành viên Hội đồng thành viên Tổng công ty Bưu điện Việt Nam; Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty Bưu điện Việt Nam./. (Baochinhphu.vn 20/9, Hiền Minh) Về đầu trang
Cơ quan nhà nước ngày càng khó tuyển dụng cán bộ trẻ, tài năng?
Cơ quan khối nhà nước của Việt Nam ngày càng gặp nhiều thách thức trong việc tuyển dụng cán bộ trẻ, tài năng và có tinh thần cống hiến cho xã hội.
Tại Diễn đàn Cải cách và Phát triển Việt Nam 2019 (VRDF 2019), nhiều chuyên gia quốc tế đánh giá Việt Nam có nền tảng kinh tế khá vững chắc nên được nhiều doanh nghiệp nước ngoài xem xét đưa vào trong danh mục ưu tiên lựa chọn đầu tư.
Tuy nhiên trong bối cảnh biên giới kinh tế giữa các quốc gia đang xuất hiện trở lại, căng thẳng thương mại tiếp tục gia tăng. Cùng với đó, thay đổi công nghệ đang diễn ra với một tốc độ chưa từng thấy.
Theo ông Ousmane Dione, Giám đốc Quốc gia của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Việt Nam đang đối mặt với một số thách thức bao gồm dân số già hoá nhanh, hình thành vốn và tỷ lệ sinh lời từ đầu tư thấp, suy thoái vốn tự nhiên, vốn nhân lực yếu, khả năng giảm tốc độ tăng năng suất.
TS. Jonathan Pincus, Chủ tịch Quỹ Rajawali, nguyên Chuyên gia kinh tế trưởng UNDP Việt Nam và Giám đốc Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright đánh giá, Việt Nam huy động năng lực mạnh mẽ so với các quốc gia có thu nhập tương đương và cả trong khu vực. Trong đó, Việt Nam là một trong những quốc gia phát triển con người rất tốt thông qua các con số về tỷ lệ giảm hộ nghèo nhanh chóng và trình độ nhân lực.
Theo ông Jonathan, Việt Nam có ưu thế so với quốc gia khác về lịch sử tuyển chọn người tài, sắp xếp thứ bậc cho thấy năng lực tổ chức tốt. Tuy nhiên, trong tương lai, năng lực tổ chức quản trị sẽ càng trở nên quan trọng, bức thiết hơn khi môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
"Tinh thần thực tài đang bị suy yếu và Chính phủ sẽ gặp nhiều thách thức trong việc tuyển dụng được những cán bộ trẻ tài năng, được đào tạo tốt và có tinh thần cống hiến cho xã hội do cạnh tranh thu hút nhân lực ngày càng gia tăng", ông Jonathan chỉ rõ.
Ông Jonathan kiến nghị Việt Nam cần hợp lý hóa, đảm bảo tính tập trung trong công tác tổ chức nhân sự, đặc biệt là trong việc tuyển dụng, luân chuyển và đào tạo chuyên sâu cho cán bộ cần có chính sách tốt, hợp lý.
"Chính sách Trung Quốc thực hiện trong nhân sự cũng là một thực tế rất hay Việt Nam có thể tham khảo. Quản lý nhân sự là chất keo dính giúp gắn kết những mảnh rời tại địa phương trở thành một bức tranh thống nhất, dù khá đa dạng về sắc màu", ông Jonathan nêu ý kiến.
"Cùng với đó, luân chuyển lãnh đạo địa phương, thành lập một cơ quan chủ trì hoạch định và thực hiện chính sách kinh tế và đào tạo chuyên sâu cho cán bộ nắm giữ các vị trí quan trọng, nhạy cảm", ông Jonathan cho biết thêm.
Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, bộ máy hành chính và đội ngũ công chức của chúng ta đang bị chính trị hóa nặng nề. Thiếu đội ngũ công chức hành chính tinh hoa, khiến việc vận hành mô hình nhà nước kiến tạo phát triển hiệu quả chưa cao.
"Truyền thống khoa bảng là điều kiện rất thuận lợi để chúng ta tuyển chọn người tài. Ngoài ra, tâm lý thích học để làm quan cũng là động lực quan trọng để thu hút người tài vào bộ máy Nhà nước. Vấn đề là phải học thật và thi thật. Phải kiên quyết áp đặt một chế độ khoa bảng và thi tuyển nghiêm khắc nhất vào bộ máy hành chính nhà nước", ông Dũng nhấn mạnh./. (Vov.vn 20/9, Thanh Giang) Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Giám đốc sở không cần ngoại ngữ vì trước hết là công chức
Ông Hoàng Đức Minh, Cục trưởng, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD-ĐT) khẳng định, giám đốc sở giáo dục đào tạo trước hết là một công chức.
Trước đó, Bộ GD-ĐT ban hành Thông tư 13 quy định tiêu chuẩn chức danh giám đốc, phó giám đốc Sở GD-ĐT thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Bộ GD-ĐT, ban hành đã bỏ đi tiêu chuẩn "yêu cầu sử dụng được ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc và công nghệ thông tin trong công việc" .
Không chỉ chức danh giám đốc, phó giám đốc mà trưởng phòng, phó phòng giáo dục cũng không yêu cầu về chuẩn ngoại ngữ theo Thông tư số 10 năm 2019 của Bộ GD-ĐT.
Tuy nhiên theo chuẩn hiệu trưởng và giáo viên THPT bắt buộc phải có ngoại ngữ, điều này được cho là bất hợp lý.
Ông Hoàng Đức Minh, Cục trưởng, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD-ĐT) cho rằng, giám đốc sở giáo dục đào tạo trước hết là một công chức.
Theo ông Minh, tiêu chuẩn của cán bộ công chức được quy định Luật cán bộ, công chức. Đặc biệt, đã được cụ thể hóa trong thông tư 11/2014/TT-BNV qui định chức danh, mã số ngạch và tiêu chuẩn nghiệp vụ chuyên môn các ngạch công chức chuyên ngành hành chính. Trong đó đã có qui định cụ thể về ngoại ngữ, tin học.
"Bộ trưởng GD-ĐT ký ban hành Thông tư số 13/2019/TT-BGDĐT ngày 30/8/2019 quy định tiêu chuẩn chức danh giám đốc, phó giám đốc sở giáo dục và đào tạo thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đây là những qui định riêng mang tính đặc thù của ngành giáo dục. Theo đó, những nội dung yêu cầu đối với công chức lãnh đạo cấp sở đã được quy định ở các văn bản khác sẽ không nhắc lại ở Thông tư này"- ông Minh nói.
Cũng theo ông Minh, khung tiêu chuẩn chung đã được quy định bởi Quyết định số 82/2004/QĐ-BNV ngày 17/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành tiêu chuẩn Giám đốc Sở và các chức vụ tương đương thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19/02/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ công chức lãnh đạo trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và các doanh nghiệp nhà nước và các quy định của địa phương về quy chế bổ nhiệm cán bộ, giới thiệu cán bộ ứng cử. Thông tư này chỉ quy định các tiêu chuẩn riêng mà GĐ, PGĐ sở giáo dục và đào tạo cần đáp ứng để lãnh đạo, quản lý ngành GD tại địa phương.
"Như vậy, quy định tiêu chuẩn chung đối với giám đốc, phó giám đốc sở GD-ĐT chỉ còn 1 điều (Điều 3) và tiêu chuẩn chung khác đã được quy định tại Khoản 2 Điều 2: "Cán bộ, công chức, viên chức khi được xem xét bổ nhiệm, bổ nhiệm lại chức danh Giám đốc Sở, Phó giám đốc Sở phải đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định chung của Đảng, Nhà nước, đồng thời đảm bảo các tiêu chuẩn quy định tại Thông tư này.
Chẳng hạn, quy định về trình độ ngoại ngữ, tin học: Quyết định số 82/2004/QĐ-BNV ngày 17/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội Vụ về việc ban hành tiêu chuẩn Giám đốc Sở và các chức vụ tương đương thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã quy định, trong đó có một trong các tiêu chuẩn cần đạt là: đạt trình độ/bổ nhiệm ngạch chuyên viên chính.
Trình độ/ngạch chuyên viên chính đã có các tiêu chuẩn cụ thể về ngoại ngữ, tin học, vì vậy, không quy định lại ở thông tư này"- Cục trưởng, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ GD-ĐT) khẳng định. (Vietnamnet.vn 19/9, Lê Huyền) Về đầu trang
Quan chức "cầu an": Có công ai cũng nhận, quy trách nhiệm thì là cả tập thể
"Có công thì có thể có ai đứng đầu nhận lấy, còn quy trách nhiệm thì thường là chia đều cả tập thể", chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bình luận về ý thức trách nhiệm của những quan chức, cán bộ có tâm lý "cầu an" ngày nay.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải chia sẻ với báo Dân Trí những ý kiến xung quanh về chủ đề mà Dân Trí đang nêu ra là xu hướng quan chức "co rụm", "cầu an" vì sợ trách nhiệm, sợ sai; sếp doanh nghiệp Nhà nước "cầu thân", "phòng thủ" không dám làm, sợ trách nhiệm khiến nền kinh tế có điểm nghẽn vì năng lực yếu kém của cán bộ. Dân Trí xin trích đăng bài phỏng vấn đến độc giả.
Thưa bà, thời gian vừa qua, có rất nhiều chính sách, Nghị định, Nghị quyết về cải cách doanh nghiệp, tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, cải cách hành chính công... ra đời về cải cách, tái cơ cấu, đổi mới.... nhưng rồi kết quả thấp. Đâu vẫn vào đấy, dường như chính sách không đúng thực tế hay bên dưới không làm?
Chính phủ và Quốc hội đưa ra rất nhiều chính sách, Nghị quyết là thể hiện muốn đốc thúc làm vấn đề. Tuy nhiên, sự chuyển dịch là vô cùng chậm. Tôi nghĩ đây là tình trạng kéo dài lâu rồi và cũng do kỷ cương thực hiện chính sách của quan chức Nhà nước là không nghiêm mới để xảy ra nhờn luật, nhờn chính sách.
Có một thực tế là công chức vào Nhà nước rồi thì làm hay không làm không sao cả, thậm chí những người nào làm hăng hái, tích cực thì nhiều khi dễ bị va chạm, vô tình không đúng quy định thì có tội, còn người làm ít không sao hết.
Hiện nay, người vào Nhà nước được biên chế gần như suốt đời thì tạo ra cho một số người có mưu cầu cho bản thân họ. Nếu làm cái gì có lợi cho mình mà an toàn thì họ làm ngay; còn cái gì có lợi mà không an toàn cho mình thì đắn đo thêm một chút; cái gì không an toàn, không lợi cho mình thì họ không lựa chọn. Mà trong hệ thống của Việt Nam, không làm thì cũng không làm sao cả, cho nên họ chọn những giải pháp an toàn hơn.
Tôi cho rằng, hiện nay, ngay cả việc phá sức ì trong bộ phận công chức chúng ta cũng rất khó khăn, nan giải chứ không nói gì đến chuyện kỷ luật, quy trách nhiệm người đứng đầu, người liên quan. Để quy trách nhiệm, kỷ luật, đưa ra khỏi Nhà nước là rất khó khăn, nhiều khâu, thậm chí kỷ luật một người còn phải xét đến gia đình, nhân thân làm yếu tố giảm tội.
Làm ở nhà nước, dù có phân công công việc nhưng bản mô tả công việc không rõ ràng, không minh bạch, không quy trách nhiệm giải trình, khiến cho công chức nhờn luật.
Giải trình sai phạm hiện rất khó khăn để quy trách nhiệm của từng cá nhân. Có công thì có thể có ai đứng đầu nhận lấy, còn trách nhiệm thì thường là chia đều cả tập thể.
Quan điểm, công chức tốt, có năng lực thường được xem là có đạo đức tốt, nhưng không làm, hưởng lương trọn vẹn, nhà nước và dân vẫn phải đóng thuế thì là phi đạo đức. Tình trạng này không thiếu!
Phải chăng những chính sách siết chặt kỷ luật đang khiến người ta sợ, không làm gì, hay do năng lực của cán bộ Nhà nước hiện nay yếu kém, không dán dấn thân thưa bà?
Chống tham nhũng là rất tốt, cần thiết nhưng tôi rất chờ đợi chống tham nhũng căn cơ hơn, mang tính chất phòng ngừa cao hơn. Chúng ta cần phải rà soát lại các quy định tại sao những người lãnh đạo cao như thế họ lại tham nhũng được. Tại sao có nhiều chính sách như thế, quản lý như thế họ lại tham nhũng được.
Cần có rà soát lại chính sách để làm sao xem xét ra những người có dám dấn thân cho nền kinh tế họ đứng lên.
Quá trình đổi mới của chúng ta trước đây cũng bắt nguồn từ việc xé rào, mạnh dạn, vượt qua khuôn khổ quy định cũ, kìm hãm phát triển.
Phải có những người có tư duy xé rào nền kinh tế hiện nay cần có những quy định để giúp những người có tư duy đổi mới, dám làm, dám dân thân. Nếu không rà soát chính sách hay pháp luật để như hiện nay, bất cứ lúc nào người hùng cũng dễ dẫn đến thành kẻ tội đồ và người dám dân thân sợ hãi, chùn chân.
Pháp luật chồng chéo, có nhiều cơ chế chưa tuân thủ theo nguyên tắc thị trường, quan điểm xét lại trong khá nhiều vấn đề đã, đang khiến nhiều quyết định về doanh nghiệp Nhà nước gặp khó khăn. Đơn cử chuyện bán vốn Sabeco sau khi bán cho người Thái, có nhiều người cho rằng Nhà nước mất vốn vì bán quá rẻ?
Theo tôi, nếu áp dụng nguyên tắc thị trường trong các quyết định bán vốn, cổ phần hóa thì cần tuân thủ theo nguyên tắc thị trường ngay cả ở chuyện bán vốn và định giá cũng vậy.
Hôm nay có thể bán được giá cao, mai có thể giá thấp hoặc ngược lại, chúng ta phải tuân thủ sao cho người thực hiện làm đúng trách nhiệm của mình, không nên xét lại những việc họ đã cố gắng làm và làm tốt nhất.
Ngay cả với cổ phần hóa, thoái vốn các doanh nghiệp Nhà nước nếu tuân thủ theo nguyên tắc thị trường thì cũng phải theo nguyên tắc, cách đánh giá của thị trường. Nếu ở trong thời gian khác, điều kiện thị trường nó khác thì không thể nói được.
Hiện chúng ta có 12 dự án thua lỗ, Chính phủ kêu gọi tư nhân và nước ngoài tham gia vào tái cơ cấu, giải cứu. Mới đây, dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 tỷ USD, vướng mắc đến sai phạm của ngành dầu khí nên dự án đang nằm chờ vốn, đại PVN kêu gọi Nhà nước cho họ cơ chế, bật đèn xanh giải cứu dự án này. Theo bà ở các dự án lớn, các công trình trọng điểm chúng ta nên có những cơ chế chính sách riêng, đặc biệt để phát triển, hoặc đối với 12 dự án trên là để giải cứu hay không?
Tôi nghĩ nên giao cho Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước, cơ quan độc lập đứng ra để họ cho ý kiến thì sẽ ở vị trí khách quan hơn đối với các dự án lớn. Còn nếu đáp ứng tiếp các nhu cầu của chủ đầu tư thì phải làm sao không đổ thêm tiền vào sai phạm hoặc tạo điều kiện cho họ che chắn cho các sai phạm.
Đối với Nhiệt điện Thái Bình, trường hợp cụ thể này, Chính phủ nên lắng nghe nhiều bên, cả từ chủ đầu tư để tránh lặp lại hệ quả, nhanh chóng giải cứu dự án và đặc biệt là cần rõ ràng trách nhiệm các bên để xử lý gốc rễ vấn đề do ai, vì ai để xảy ra vụ việc và phải xử lý nghiêm minh.
Còn đối với các trường hợp khác, theo tôi đã lập nên Ủy ban Quản lý vốn nhà nước thì Chính phủ nên đặt đầu bài, giao cho họ để họ tỏ rõ năng lực và trách nhiệm của mình.
Cần có con người đặc biệt, có tính chất đột phá đi trước cả quy định, luật lệ, thậm chí cho phép sai phạm sớm nhất có thể miễn sao họ toàn tâm, toàn ý muốn giải quyết những vấn đề lớn của đất nước, của doanh nghiệp đó.
Tiến trình phát triển của bất kỳ quốc gia nào, thậm chí của doanh nghiệp tư nhân hùng mạnh, cũng có những dự án, chính sách ra chưa hợp lý, sai phạm nhưng họ có kịch bản để ứng phó, kịch bản để khắc phục cái sai để tìm ra con đường đi đúng đắn hơn.
Tư nhân trong hoạt động kinh doanh bao giờ cũng có rủi ro nhất định, nhưng nếu không dám chấp nhận rủi ro thì không có thành công.
Từ chính sách đến thực thi của Việt Nam hiện nay khá xa vời, hiệu quả chính sách "ngấm" vào nền kinh tế còn khá chậm. Tuy nhiên, ở một khía cạnh tiêu cực hơn là hệ quả, thì những chính sách, quyết định tác động ngay lập tức vào đời sống kinh tế, gây thiệt hại cho doanh nghiệp ngay. Đơn cử như dự án BT, khi Bộ Tài chính thay đổi chính sách giao đất cho doanh nghiệp đã khiến chủ đầu tư thiệt hại? bà nghĩ sao về vấn đề này?
Chính sách tiêu cực bao giờ cũng lan truyền và tác động một cách nhanh chóng vào nền kinh tế, còn những cái tốt đẹp thì công chức không chịu thực thi thì lấy đâu ra hiệu quả.
Chuyện liên quan đến dự án BT do chúng ta thực hiện một thời gian dài kiểu chính sách dò đường, đưa ra chính sách nhưng thả cửa cho doanh nghiệp làm, không có ràng buộc thậm chí tạo kẽ hở cho các bên hưởng lợi.
Vấn đề của BT có liên quan đến sai phạm của các dự án BOT thời gian qua, chính vì thế hệ quả tác động này là lớn và có tác động trực tiếp đến các hình thức đầu tư khác. Tôi cho ràng, các nhà làm luật đã tạo kẽ hở để sai phạm hoặc chưa lường hết sự phức tạp của thị trường, của doanh nghiệp, khiến chính sách quá ngây thơ, phải sửa đổi, ban hành quá nhiều chính sách chắp vá khác.
Tôi nghĩ, nên có những chế tà quy định trách nhiệm của những người soạn thảo luật pháp, chứ cứ kéo dài tình trạng chính sách ra đời một vài năm phải sửa hoặc không sát thực tế không những gây hiệu quả kém mà còn kìm hãm nền kinh tế đất nước.
Trân trọng cảm ơn bà! (Petrotimes.vn 20/9) Về đầu trang./.
Trung tâm Tin học - Công báo
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/9/2019 (19/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 18/9/2019 (18/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 17/9/2019 (17/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 16/9/2019 (16/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 13/9/2019 (13/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 12/9/2019 (13/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 11/9/2019 (13/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 10/9/2019 (10/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 09/9/2019 (09/09/2019)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 06/9/2019 (06/09/2019)

