Bản tin cải cách hành chính ngày 05/2/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội tiếp tục nâng chất lượng dịch vụ công trực tuyến

2. An Giang: 100% doanh nghiệp kê khai nộp thuế điện tử

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Nỗ lực cải thiện Chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới

4. PC Hà Nam đẩy mạnh tuyên truyền cổng dịch vụ công Quốc gia

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

5. Kiến nghị tỉnh Phú Thọ làm rõ trách nhiệm sai sót trong tuyển dụng, bổ nhiệm công chức 

6. Nghệ An tinh giản tối thiểu 10% biên chế công chức

7. “Cán bộ sợ trù dập thì không phải là người có đấu tranh“

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Bảo đảm quyền lợi đối tượng tinh giản biên chế

9. Lựa chọn cán bộ

10. Không có chuyện gửi gắm, quyền lợi trong công tác nhân sự

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội tiếp tục nâng chất lượng dịch vụ công trực tuyến

Để thực hiện cam kết, UBND TP Hà Nội đồng hành cùng Văn phòng Chính phủ trong việc xây dựng, vận hành, phát triển Cổng dịch vụ công quốc gia phục vụ người dân, DN và tiếp tục đẩy mạnh chất lượng dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của TP, UBND TP vừa ban hành văn bản số 163 thúc đẩy các đơn vị trong thực hiện.

TP yêu cầu các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã và 584 xã, phường, thị trấn đẩy mạnh cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến bảo đảm chất lượng, thuận tiện cho người dân, DN qua môi trường điện tử. Tăng cường biện pháp hỗ trợ, giải pháp thu hút, khích lệ người dân tham gia DVCTT, tăng tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) trên 20% trong năm 2020...

TP cũng yêu cầu Sở Công Thương, Sở GTVT rà soát, đánh giá chất lượng tiếp nhận, giải quyết hồ sơ trực tuyến các dịch vụ công gồm: Thông báo hoạt động khuyến mại; đổi giấy phép lái xe do ngành giao thông vận tải cấp, tránh để tình trạng chậm tiếp nhận giải quyết trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Văn phòng UBND TP phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan tiếp tục triển khai 9 DVCTT tích hợp lên Cổng Dịch vụ công quốc gia để giải quyết, với tiến độ được đặt ra là hoàn thành trong quý I/2020.

Cùng với đó, phối hợp các sở, ban, ngành rà soát, đề xuất danh mục, lộ trình các DVCTT sẽ kết nối, tích hợp Cổng Dịch vụ công quốc gia trong năm 2020, bảo đảm tối thiểu đạt tỷ lệ 20% trong tổng số DVCTT của TP.

Trong năm 2019, công tác cải cách hành chính tại Hà Nội tiếp tục được các cấp, các ngành quan tâm, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Trong đó, 100% các cơ quan, đơn vị đã ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, xử lý, giải quyết văn bản và các công việc chuyên môn. TP đã đưa vào vận hành chính thức hệ thống phần mềm một cửa điện tử dùng chung 3 cấp của TP đến 22 sở, ban, ngành, 30 quận, huyện, thị xã và 584 xã, phường, thị trấn; tiếp tục duy trì cổng DVCTT và triển khai mở rộng các dịch vụ trực tuyến dùng chung mức độ 3, 4, tích hợp chữ ký số chuyên dùng Chính phủ. Tính đến 31/12/2019, 100% TTHC ngành Nội vụ đã được xây dựng quy trình giải quyết nội bộ và thực hiện DVCTT mức độ 3, 4.

Từ những kết quả đó, trong năm 2020, TP sẽ tiếp tục đơn giản tối đa các thủ tục liên quan, xây dựng triển khai hiệu quả quy trình giải quyết công việc theo tinh thần 5 rõ (rõ người, rõ việc, rõ quy trình, rõ trách nhiệm, rõ hiệu quả công việc) và “một việc - một đầu mối xuyên suốt”. Đồng thời đặt mục tiêu, 100% TTHC thực hiện DVCTT mức độ 3, mức độ 4; 60% TTHC có quy định cung cấp trực tuyến mức độ 3, mức 4 trong đó có ít nhất 30% số hồ sơ được xử lý trực tuyến. Đồng thời, có 100% hồ sơ giải quyết TTHC được cập nhật, theo dõi tình hình thực hiện qua hệ thống thông tin "một cửa" điện tử TP. 50% số thủ tục có quy định tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả qua dịch vụ bưu chính… TP cũng tiếp tục đầu tư, hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu mở rộng, tăng số lượng DVCTT mức độ 3, 4… để phục vụ người dân và DN tốt hơn. (Kinhtedothi.vn 5/2, Trần Hà) Về đầu trang

An Giang: 100% doanh nghiệp kê khai nộp thuế điện tử

Tính đến nay, 100% số doanh nghiệp (DN) đang hoạt động trên địa bàn tỉnh An Giang đã đăng ký kê khai nộp thuế điện tử; có 98% số chứng từ nộp thuế bằng hình thức điện tử. Điều này giúp DN tiết kiệm thời gian, chi phí trong thực hiện thủ tục hành chính thuế.

Ông Trần Văn Phước - Cục trưởng Cục Thuế An Giang cho biết, tính đến nay, đơn vị đã triển khai sử dụng hiệu quả 15 ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý thuế và 8 ứng dụng phục vụ người nộp thuế (NNT).

Theo đó, đến nay 100% DN đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh An Giang đã đăng ký kê khai nộp thuế điện tử; có 98% số chứng từ nộp thuế bằng hình thức điện tử. “Điều này giúp cộng đồng DN tiết kiệm được thời gian, chi phí và nguồn nhân lực trong việc thực hiện thủ tục hành chính thuế” - ông Phước nhấn mạnh.

Có được kết quả trên, đại diện Cục Thuế An Giang cho rằng, đơn vị đã thường xuyên đổi mới, đa dạng hóa các kênh tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật thuế đến với từng loại hình DN và đối tượng NNT, cụ thể như: Tuyên truyền trên trang thông tin điện tử của ngành; tuyên truyền trên các cơ quan thông tin đại chúng của tỉnh; tuyên truyền qua các hội nghị tập huấn; tài liệu hướng dẫn, tờ rơi, gửi qua địa chỉ email của DN...

Cùng với đó, đơn vị cũng không ngừng bồi dưỡng, trang bị thêm cho từng cán bộ, công chức thuế về kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp..., nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ NNT; giải quyết các vấn đề vướng mắc, yêu cầu của DN nhanh chóng, rõ ràng hơn được DN và NNT ghi nhận.

Đại diện Cục Thuế An Giang cho biết thêm, xác định việc đẩy mạnh tự động hóa, tin học hóa trong công tác quản lý thuế, cũng như trong quan hệ giao dịch với DN, nhằm hạn chế thấp nhất rủi ro cho DN sẽ tạo được sự đồng thuận và hài lòng của NNT trong việc thực hiện các nghĩa vụ thuế với Nhà nước.

Nhờ có sự đồng thuận của cộng đồng DN và NNT trong việc chấp hành tốt pháp luật thuế, năm 2019, Cục Thuế An Giang thu ngân sách Nhà nước đạt 6.469 tỷ đồng, bằng 111% dự toán Bộ Tài chính giao, bằng 110% dự toán UBND tỉnh giao và tăng 12% so với thực hiện năm trước đó. (Thanhtra.com.vn 4/2, Nhật Minh  - Văn Tuấn) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Nỗ lực cải thiện Chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới

Mặc dù nỗ lực của Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) đã đem lại những kết quả tích cực, nhưng để nâng cao xếp hạng Chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới rất cần có sự tham gia tích cực, nỗ lực, cố gắng của các cơ quan quản lý chuyên ngành; DN kinh doanh kho bãi cảng, DN logistic.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), các năm 2017, 2018, 2019, thời gian giao dịch thương mại qua biên giới tại Việt Nam, đối với hàng NK là 132 giờ, giảm 6 giờ; đối với hàng XK là 105 giờ, giảm 3 giờ (giảm thời gian làm thủ tục tại cửa khẩu). Chi phí giao dịch thương mại qua biên giới (bao gồm chi phí làm các thủ tục tại cửa khẩu và chi phí chuẩn bị hồ sơ) đối với hàng NK và XK đều giảm 19 USD (chi phí làm thủ tục tại cửa khẩu).

Cụ thể, thời gian tác nghiệp của cơ quan Hải quan chỉ chiếm 11% đối với hàng NK và chiếm 4% đối với hàng XK trong tổng thời gian XNK qua biên giới. Đối với đơn vị xếp dỡ, lưu kho tại cảng và logistic chiếm 28% đối với hàng nhập và 50% đối với hàng xuất. Ngoài ra, thời gian tác nghiệp của cơ quan kiểm tra chuyên ngành là rất lớn gồm thời gian tuân thủ về chứng từ đối với kiểm tra chuyên ngành (thời gian chuẩn bị hồ sơ XNK) và thời gian tuân thủ tại cửa khẩu đối với cơ quan ngoài Hải quan (thời gian kiểm tra và ra báo cáo kiểm tra chất lượng) chiếm đến 61% đối với hàng NK; 46% đối với hàng XK. Chi phí liên quan đến kiểm tra hải quan và chi phí thuê môi giới hải quan chỉ chiếm 11% đối với hàng nhập và 10% đối với hàng xuất trong tổng chi phí XNK qua biên giới.

Có được kết quả trên, thời gian qua, ngành Hải quan đã tích cực thực hiện các giải pháp về cải cách hành chính (xây dựng thể chế; cải cách thủ tục hành chính; cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và các phương pháp quản lý hải quan hiện đại) với mục tiêu hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả quản lý, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa qua biên giới.

Nổi bật là từ năm 2007 đến nay, Tổng cục Hải quan đã áp dụng quản lý rủi ro ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng, theo đó, đã thiết lập hệ thống tiêu chí phân luồng hàng hóa để kiểm tra trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng mục tiêu hài hòa giữa tạo thuận lợi thương mại và nâng cao hiệu quả quản lý. Kết quả, tỷ lệ phân luồng trong các năm 2017 (luồng Xanh chiếm 57,66%, luồng Vàng chiếm 37,16%, luồng Đỏ chiếm 5,17%); năm 2018 (luồng Xanh chiếm 58,81%, luồng Vàng chiếm 36,10%, luồng Đỏ chiếm 5,09%); năm 2019 (luồng Xanh chiếm 56,10%, luồng Vàng chiếm 38,69%, luồng Đỏ chiếm 5,21%).

Từ năm 2014, Tổng cục Hải quan đã triển khai thanh toán thuế và lệ phí điện tử thông qua cổng thanh toán điện tử Hải quan, cho phép cơ quan Hải quan tiếp nhận thông tin nộp thuế, lệ phí điện tử online từ ngân hàng thương mại, thực hiện hạch toán thu ngay sau khi nộp thuế, bỏ được khâu đối chiếu thủ công chứng từ nộp thuế giữa cơ quan Hải quan với Kho bạc Nhà nước và DN; giảm thời gian thực hiện thủ tục hoàn thành nghĩa vụ thuế, góp phần tiết kiệm chi phí cho các bên, giảm thời gian thông quan hàng hóa. Đến nay, Tổng cục Hải quan đã ký kết thỏa thuận phối hợp thu ngân sách nhà nước với 42 ngân hàng thương mại với số thu ngân sách qua cổng thanh toán điện tử đạt 95,3% tổng số thu ngân sách ngành Hải quan. Từ ngày 26/11/2019, Tổng cục Hải quan triển khai chính thức Chương trình Nộp thuế điện tử DN nhờ thu đối với 5 ngân hàng giúp DN hoàn toàn chủ động không mất thời gian và chi phí để thanh toán thuế, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa.

Ngoài ra, Tổng cục Hải quan đã triển khai hệ thống thông quan hàng hoá tự động (VNACCS/VCIS); triển khai hệ thống quản lý giám sát hải quan tự động (VASSCM); thực hiện xác định trước mã số hàng hóa xuất nhập khẩu; nộp và kiểm tra chứng từ điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan…

Năm 2020, Tổng cục Hải quan tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm nâng cao xếp hạng Chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới.

Đó là, tiếp tục đẩy mạnh triển khai các giải pháp cải cách, phát triển hiện đại hóa Hải quan trong năm 2020 và triển khai các giải pháp nâng cao xếp hạng Chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới đã xác định như cải cách thể chế; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; đẩy mạnh triển khai thanh toán thuế điện tử 24/7; mở rộng triển khai hệ thống giám sát hàng hóa tự động tại kho, bãi, cảng; tăng cường ứng dụng quản lý rủi ro và quan hệ đối tác Hải quan DN; tăng cường thực hiện liêm chính hải quan…

Ngoài ra, Tổng cục Hải quan cũng đang tích cực xây dựng kế hoạch triển khai các giải pháp trong năm 2020 để khắc phục các vướng mắc nhằm giảm thời gian và chi phí, tạo thuận lợi cho DN trong quá trình làm thủ tục hải quan. Cụ thể, tổng hợp, rà soát các vướng mắc thông qua khảo sát của Tổ liên ngành về Chỉ số Giao dịch thương mại qua biên giới năm 2019; các vướng mắc ghi nhận từ các hội nghị đối thoại với DN, hiệp hội DN... để phân tích nguyên nhân và xác định rõ hướng xử lý các vướng mắc theo nhóm (xử lý nội bộ, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản hướng dẫn, tuyên truyền giải thích…). (Haiquanonline.com.vn 5/2, Quang Hùng) Về đầu trang

PC Hà Nam đẩy mạnh tuyên truyền cổng dịch vụ công Quốc gia

Trên tinh thần quyết tâm thực hiện theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngày 24/12/2019 EVN đã hoàn thành việc đưa 9 dịch vụ điện cấp độ 4 còn lại kết nối Cổng Dịch vụ công Quốc gia.

Như vậy, đến nay toàn bộ 12/12 dịch vụ điện cấp độ 4 của EVN đã kết nối xong với Cổng Dịch vụ công Quốc gia (DVCQG).

Trong những ngày cuối tháng 12/2019 Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã hoàn thành việc đưa 9 dịch vụ điện năng ở cấp độ 4 cung cấp trên Cổng Dịch vụ công Quốc Gia (DVCQG). Như vậy cho đến nay toàn bộ 12/12 dịch vụ điện cấp độ 4 của EVN đã kết nối xong với cổng DVCQG.

Từ ngày 24/12/2019 khách hàng chỉ cần truy cập địa chỉ trang web: www.dichvucong.gov.vn để có thể đăng ký 12 dịch vụ điện năng như:Cấp điện mới từ lưới điện trung áp; Cấp điện mới mới từ lưới điện hạ áp; Thanh toán tiền điện; Thay đổi công suất sử dụng điện/thay đổi loại công tơ 01 pha, 03 pha; Thay đổi vị trí thiết bị đo đếm; Thay đổi mục đích sử dụng điện; Thay đổi định mức sử dụng điện; Thay đổi chủ thể Hợp đồng mua bán điện; Thay đổi thông tin đã đăng ký; Thay đổi hình thức thanh toán tiền điện; Gia hạn Hợp đồng mua bán điện; Chấm dứt Hợp đồng mua bán điện.

Với các dịch vụ điện này, khi thực hiện giao dịch qua Cổng DVCQG, mọi hồ sơ, thủ tục của khách hàng sẽ được đơn giản hóa và thuận tiện. Một số giấy tờ như: Giấy đề nghị mua điện, giấy tờ tùy thân sẽ được thay thế bằng các thông tin người dùng đã được Cổng DVCQG xác thực và định danh. Nhờ đó sẽ giúp người dân và doanh nghiệp giảm thời gian thực hiện các giao dịch, đồng thời có thể giám sát quá trình thực hiện và đánh giá, phản ánh về các việc cung cấp dịch vụ của ngành Điện.

Để thực hiện thành công đưa tất cả các dịch vụ điện năng cấp độ 4 kết nối thành công với Cổng DVCQG, EVN cùng các đơn vị trực thuộc là các Tổng công ty Điện lực và Công ty Viễn thông Điện lực và CNTT (EVNICT) đã thực hiện tích hợp, chia sẻ dữ liệu, kết nối liên thông Hệ thống thông tin quản lý khách hàng (CMIS), các website Chăm sóc khách hàng, Cổng thanh toán của 5 Tổng công ty Điện lực với Cổng Dịch vụ công Quốc gia. EVN cũng đã rà soát, chuẩn hóa, đơn giản hóa quy trình cung cấp dịch vụ trên Cổng DVCQG, xây dựng và liên kết phần Tra cứu tiến độ cấp điện trên website Chăm sóc khách hàng với Cổng DVCQG. Việc kết nối và chia sẻ dữ liệu thành công với Cổng DVCQG trong một thời gian ngắn đã thể hiện rõ tính sẵn sàng, độ ổn định cao về nền tảng công nghệ của EVN trong việc ứng dụng chuyển đổi số mạnh mẽ với phương châm “Lấy khách hàng làm trung tâm mọi hoạt động”.

Trước đó, vào ngày 12/12/2019, EVN cũng đã công bố ”Cung cấp Hợp đồng điện tử”, đây là sự kiện đánh dấu quá trình hoàn thành việc cung cấp các dịch vụ điện bằng phương thức điện tử, nhằm mang lại sự thuận tiện hơn nữa với tất cả khách hàng sử dụng điện trong cả nước. Việc áp dụng hợp đồng điện tử và phương thức điện tử trong cung cấp dịch vụ điện là bước tiến mạnh mẽ, đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT trong việc phát triển thương mại điện tử để tăng minh bạch, tính đa dạng hoá trong giao tiếp với khách hàng, hỗ trợ rút ngắn quá trình cung cấp dịch vụ, nâng cao năng suất lao động, giúp tiết kiệm chi phí của người dân và doanh nghiệp, đơn giản và thuận tiện trong quản lý, giám sát việc giải quyết yêu cầu khách hàng tại các đơn vị Điện lực nhằm đảm báo việc thực thi và cung cấp dịch vụ đúng như các cam kết của Tập đoàn.

Những bước tiến mạnh mẽ của EVN trong việc áp dụng các phương thức giao dịch điện tử trong nhiều năm qua đã được người dân và cộng đồng ghi nhận. Ngày 06/9/2019, EVN cùng một số đơn vị của ngành Điện đã được nhận giải thưởng Doanh nghiệp chuyển đổi số xuất sắc Việt Nam 2019 của Hội Truyền thông số Việt Nam. Trong nhiều năm qua, EVN đã chủ động tham gia chuyển đổi số một cách toàn diện với quyết tâm cao để góp phần thúc đẩy quá trình chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng và sớm đạt được mục tiêu đề ra. 

Năm 2019, tiếp tục ghi nhận Chỉ số Tiếp cận điện năng duy trì đà tăng về điểm số năm thứ 6 liên tiếp với số điểm là 88,2 điểm (tăng 0,26 điểm so với năm 2018 là 87,94 điểm), đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN - nằm trong nhóm ASEAN-4, đồng thời duy trì vị trí xếp hạng 27 trên tổng số 190 quốc gia và nền kinh tế. Xét riêng về số thủ tục và thời gian thực hiện cung cấp điện của ngành Điện thì Việt Nam đứng thứ 2 trong khu vực ASEAN.

Việc hoàn thành cung cấp toàn bộ các dịch vụ điện năng cấp độ 4 qua Cổng DVCQG sẽ là kênh thông tin quan trọng để EVN có thể lắng nghe và thu thập ý kiến khách hàng để từ đó có các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ khách hàng, đồng thời nâng cao tính công khai, minh bạch các dịch vụ điện của EVN. (Kinhtenongthon.vn 4/2, Hà Nam) Về đầu trang 

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Kiến nghị tỉnh Phú Thọ làm rõ trách nhiệm sai sót trong tuyển dụng, bổ nhiệm công chức

Thanh tra Bộ Nội vụ vừa ban hành Thông báo kết luận thanh tra chỉ ra nhiều sai sót trong việc thực hiện quy định của pháp luật về quản lý biên chế công chức, tuyển dụng công chức, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý và việc ký hợp đồng lao động làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan hành chính nhà nước của UBND tỉnh Phú Thọ, giai đoạn từ ngày 01/01/2017 đến ngày 31/7/2019.

Theo Kết luận thanh tra, tại thời điểm thanh tra trực tiếp, UBND tỉnh Phú Thọ chưa phê duyệt bản mô tả công việc và khung năng lực từng vị trí việc làm đối với Sở Ngoại vụ. Đồng thời, UBND tỉnh giao 48 biên chế viên chức làm việc trong 2 cơ quan hành chính nhà nước. Còn có cơ quan, tổ chức sử dụng vượt quá 1 chỉ tiêu hợp đồng lao động theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP so với chỉ tiêu được UBND tỉnh giao.

Đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng, qua kiểm tra 80 hồ sơ, Thanh tra Bộ Nội vụ phát hiện, có 1 viên chức đang trong thời gian thi hành kỷ luật được tiếp nhận vào công chức. 4 công chức được tuyển dụng trong trường hợp đặc biệt chưa có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên. Hội đồng kiểm tra, sát hạch đối với các trường hợp đặc biệt trong tuyển dụng công chức và xét chuyển cán bộ, công chức cấp xã thành công chức từ cấp huyện trở lên có 8 thành viên.

Việc xét chuyển cán bộ, công chức cấp xã thành công chức từ cấp huyện trở lên đối với 10 trường hợp cơ bản đã đáp ứng trình tự, thủ tục theo quỵ định. Tuy nhiên, 3 công chức chưa có chứng chỉ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên hoặc chứng chỉ ngoại ngữ.

Thanh tra công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, kéo dài thời gian giữ chức vụ đối với công chức lãnh đạo, quản lý tại Phú Thọ, Thanh tra Bộ Nội vụ phát hiện, có 4 trường hợp giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý được tuyển dụng vào công chức theo chính sách thu hút của tỉnh và 2 công chức được bổ nhiệm trước ngày 28/12/2017 chưa có chứng chỉ ngoại ngữ trình độ B. Về trình tự, thủ tục, thời điểm làm quy trình và ban hành quyết định bổ nhiệm lại đối với 24 công chức còn chậm so với quy định. Về số lượng cấp phó công chức giữ chức vụ lãnh đạo quản lý tại thời điểm thanh tra, vẫn có phòng, ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có số lượng cấp phó vượt quá so với quy định 1 người.

Trên cơ sở phát hiện các sai sót, Thanh tra Bộ Nội vụ kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật về quản lý biên chế công chức, tuyển dụng công chức, quản lý và số lượng cấp phó. Báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy, chỉ đạo thủ trưởng các cơ quan, tổ chức báo cáo cấp ủy cùng cấp tiến hành đánh giá năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, kết quả xếp loại hằng năm đối với 6 trường hợp để xem xét, xử lý theo thẩm quyền.

Rà soát điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục đối với các trường hợp được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ tháng 6/2012 đến nay, kịp thời phát hiện các trường hợp được bổ nhiệm trước ngày 28/12/2017 còn chưa đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn để cử đi đào tạo, bồi dưỡng để bổ sung, hoàn thiện theo quy định.

Miễn nhiệm, không bổ nhiệm lại, thu hồi quyết định bổ nhiệm đối với các trường hợp từ sau ngày 28/12/2017 không đáp ứng điều kiện, tiêu chuẩn, vi phạm về trình tự, thủ tục.

Thanh tra Bộ Nội vụ kiến nghị Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ, thủ trưởng các cơ quan, tổ chức cùng chịu trách nhiệm đối với các tồn tại, hạn chế có liên quan nêu trong Kết luận thanh tra. Chủ tịch UBND tỉnh tổ chức kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để có hình thức xử lý theo quy định. (Daidoanket.vn 5/2, Đức Sơn) Về đầu trang

Nghệ An tinh giản tối thiểu 10% biên chế công chức

Tỉnh Nghệ An đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm tinh giản biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

Cụ thể, năm 2020, tổng biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được giao là 3.355 người. Trong đó, biên chế trong các cơ quan, tổ chức cấp tỉnh 1.748 người; biên chế trong cơ quan cấp huyện 1.606 người; biên chế dự phòng 1 người.

Tại Nghệ An, nhiều cơ quan, tổ chức hành chính của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đã tinh giản được biên chế so với trước. Đơn cử, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn giảm 2 biên chế so với năm 2019, các Sở Nội vụ, Tài chính, Thông tin và Truyền thông mỗi đơn vị giảm 1 biên chế. Năm 2020, tỉnh cũng giảm được 9 biên chế của các cơ quan có tỷ lệ tinh giản biên chế giai đoạn 2015 - 2019 thấp và còn biên chế chưa sử dụng như Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND thị xã Cửa Lò, UBND huyện Đô Lương, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống…

Cùng với thực hiện nhiệm vụ tinh giản biên chế, tỉnh Nghệ An cũng cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, gắn với đó là rà soát lại biên chế công chức của các cơ quan hành chính nhà nước một cách chặt chẽ, đánh giá biên chế dự kiến giao so với nhu cầu của các cơ quan để giao biên chế hợp lý. Nghệ An rà soát tỷ lệ tinh giản biên chế giai đoạn 2015 - 2020 của các cơ quan so với yêu cầu và đánh giá khả năng đáp ứng yêu cầu tinh giản của các cơ quan để có phương án giao biên chế phù hợp.

Tại Nghệ An, theo đề án sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế được UBND tỉnh phê duyệt, đến năm 2021, tất cả các cơ quan, đơn vị đều phải đạt tỷ lệ tinh giản biên chế tối thiểu 10%. Đối với những đơn vị giai đoạn 2015 - 2019 đã đạt được tỷ lệ tinh giản biên chế sẽ không tiếp tục giảm vào năm 2020. Các đơn vị chưa đạt hoặc đạt tỷ lệ thấp nhưng không có công chức nghỉ hưu và không có biên chế chưa sử dụng phải giảm vào những năm tiếp theo. (Baotintuc.vn 5/2, Nguyễn Văn Nhật) Về đầu trang

“Cán bộ sợ trù dập thì không phải là người có đấu tranh“

Theo nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, mỗi đảng viên đều phải có ý thức, thấy sai phải phản đối, thấy đúng phải ủng hộ, phải có chính kiến.

Năm 2019, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định kỷ luật cảnh cáo đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa 2 nhiệm kỳ 2010-2015 và 2015-2020. Cùng với đó cách chức Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, hàng loạt cán bộ lãnh đạo cũng bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc.

Qua kiểm tra nhiều dự án, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã chỉ ra hàng loạt vi phạm của lãnh đạo tỉnh từ năm 2010 đến nay. Trong đó, 47 dự án UBND tỉnh phê duyệt chủ trương vượt thẩm quyền, UBND tỉnh đã ban hành 289 văn bản có nội dung vi phạm.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa vi phạm khi không xem xét cho chủ trương 29 dự án, để Bí thư Tỉnh ủy Lê Thanh Quang trực tiếp ký 1 văn bản cho chủ trương đối với một dự án vượt thẩm quyền, trái với quy định, chưa thảo luận và bàn bạc trong tập thể.

Vi phạm của các tổ chức Đảng và các cá nhân lãnh đạo ở tỉnh Khánh Hòa được kết luận là rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm thất thoát rất lớn ngân sách nhà nước, ảnh hưởng đến quốc phòng - an ninh, để lại nhiều hệ lụy khó khắc phục.

Ông Phạm Văn Chi - nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa cho rằng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra rất nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài.

"Mỗi đảng viên đều phải có ý thức, thấy sai phải phản đối, thấy đúng phải ủng hộ, phải có chính kiến. Cán bộ có cương vị mà không có ý kiến gì trong các chủ trương, coi như mình thống nhất với các chủ trương đó, chủ trương đúng thì mình ăn theo, nếu sai thì mình phải chịu trách nhiệm, nếu sợ trù dập thì đó không phải là người có đấu tranh"- ông Phạm Văn Chi nêu quan điểm.

Trong thời gian dài, hàng loạt dự án tại tỉnh Khánh Hòa có nhiều sai phạm. Trong đó, UBND tỉnh chỉ định thầu và chỉ định luôn giá mà không tổ chức đấu thầu, đấu giá, dẫn đến thất thoát tài sản và ngân sách nhà nước. Vi phạm này có sự giúp sức của nhiều cơ quan chức năng.

Ông Lê Văn Long - Bí thư Chi bộ Tổ dân phố 5 Thanh Hải, phường Vĩnh Hải, thành phố Nha Trang cho rằng, những sai phạm này cho thấy có sự tiếp tay của nhiều cán bộ cấp dưới. Cho nên người dân mong muốn cán bộ nào sai phạm thì không nên đưa vào cấp ủy khóa mới.

Khó khăn hiện nay ở Khánh Hòa là từ giữa tháng 12/2019 đến nay, tỉnh này chưa có người làm Chủ tịch UBND tỉnh thay thế ông Lê Đức Vinh bị kỷ luật cách chức. Hiện công việc điều hành của UBND tỉnh dồn vào 2 Phó Chủ tịch UBND tỉnh.

Ông Nguyễn Đắc Tài - Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Khánh Hòa cho biết, khối lượng công việc bị dồn ứ, tinh thần làm việc của cán bộ, công chức sa sút.

"Qua kết quả thanh tra, kiểm tra, UBND tỉnh cần phải rà soát lại thủ tục pháp lý đối với các dự án được cấp phép đầu tư trước đây để làm đúng theo quy định của pháp luật. Trước đây làm gọn, đi tắt đón đầu cũng nhiều để cho nhanh. Các dự án ồ ạt vào tỉnh, triển khai rất mạnh. Vừa rồi rà soát bị sai theo quy định. Yêu cầu lập lại từ đầu, dự án phải đấu thầu, đất thì phải đấu giá" - ông Nguyễn Đắc Tài nhấn mạnh.

Sau khi có kết luận của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, tỉnh Khánh Hòa thành lập các Ban chỉ đạo, tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc. Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh cùng chia sẻ trách nhiệm, vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trước mắt. Đối với những dự án mà Đoàn kiểm tra chỉ ra có thất thoát tài sản, các bên có liên quan sẽ tính toán để thu hồi nộp ngân sách Nhà nước.

Ông Nguyễn Tấn Tuân - Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Khánh Hòa cho biết, Tỉnh ủy sẽ tiếp tục xem xét trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm các tập thể, cá nhân theo đúng quy định pháp luật.

Theo ông, trách nhiệm Ban Thường vụ Tỉnh ủy 2 nhiệm kỳ cũng như nhiệm kỳ hiện tại, phải thể hiện tinh thần cầu thị, nhận lấy thiếu sót và có hướng khắc phục. Còn bản thân các cán bộ trong Ban Thường vụ, Ban cán sự UBND tỉnh phải chịu trách nhiệm với hình thức xử lý kỷ luật mà Ban Bí thư cũng như Uỷ ban Kiểm tra Trung ương đã công bố./. (Vov.vn 5/1, Thái Bình) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Bảo đảm quyền lợi đối tượng tinh giản biên chế

Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa mới đây đã phê duyệt danh sách và số kinh phí trợ cấp một lần đối với lực lượng Công an xã, Chỉ huy phó Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách thôi đảm nhiệm chức danh sau khi sáp nhập thôn, tổ dân phố. Đây là chính sách được dư luận và đối tượng thuộc diện nghỉ việc sau sáp nhập thôn, tổ dân phố đặc biệt quan tâm.

Theo đó, có 504 người được thụ hưởng với tổng số tiền hơn 9,578 tỷ đồng. Trong đó, có 355 người là Phó Trưởng công an xã và công an viên được thụ hưởng với kinh phí là 8.135.707.000 đồng; 28 người là Chỉ huy phó Ban Chỉ huy quân sự cấp xã với kinh phí trợ cấp là 905.022.000 đồng; 121 người là người hoạt động không chuyên trách thôi đảm nhiệm chức danh sau khi sáp nhập thôn, tổ dân phố với kinh phí trợ cấp là 538.792.000 đồng. Trong đó, kinh phí hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách thôi đảm nhiệm chức danh sau khi sáp nhập để thành lập thôn, tổ dân phố mới mức hỗ trợ tối thiểu bằng 3 tháng phụ cấp tương ứng của chức danh đảm nhiệm trước khi nghỉ việc…

Không chỉ Thanh Hóa, nhiều tỉnh, thành  phố khác trên cả nước cũng đã có chủ trương, phương án giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ sau sắp xếp. Tại Kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh Nghệ An Khóa XVII đã thông qua Nghị quyết về chính sách hỗ trợ các đối tượng, gồm: Cán bộ, công chức, người hoạt động không chuyên trách và các đối tượng khác dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã, sáp nhập xóm, khối, bản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2019 - 2021. Theo đó, tổng số tiền hỗ trợ cho cán bộ dôi dư do sáp nhập, sắp xếp ở Nghệ An là hơn 80 tỷ đồng.

Thực tế cho thấy, việc tinh giảm biên chế thời gian qua chưa đạt yêu cầu Nghị quyết số 39-NQ/TW là đưa những công chức không làm được việc ra khỏi đội ngũ. Các địa phương chỉ giảm được số người chưa tuyển dụng theo kế hoạch được giao nên không đưa được công chức yếu kém ra khỏi biên chế. Thứ trưởng Bộ Nội vụ Trần Anh Tuấn đã thẳng thắn cho rằng, đây chính là “điểm không thành công của tinh giản biên chế hiện nay”.

Do đó, có thể nói, việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã sẽ là một trong những giải pháp hiệu quả cho các địa phương đánh giá nghiêm túc cán bộ, công chức. Những người không đáp ứng yêu cầu công vụ cần giải quyết chính sách tinh giản biên chế, hoặc buộc thôi việc.

Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2019 - 2021, có 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện việc sắp xếp, qua đó sẽ giảm 6 đơn vị hành chính cấp huyện, 564 đơn vị hành chính cấp xã. Nếu kết thúc đợt sáp nhập này thì đến trước năm 2022 sẽ giảm được khoảng gần 10.000 cán bộ, công chức và khoảng gần 6.000 người hoạt động không chuyên trách.

Nhìn vào số người tinh giản thì đây là một con số khá lớn. Tuy nhiên, để thực hiện được việc tinh giảm này đòi hỏi quyết tâm chính trị rất lớn của người đứng đầu mỗi địa phương. Bởi việc tinh giảm là vấn đề khó, nhạy cảm, đụng chạm đến quyền lợi, đến “miếng cơm manh áo” của một bộ phận cán bộ, công chức. Nếu không giải quyết thấu đáo, có thể sẽ xảy ra những xung đột trong xã hội.

Tinh giản biên chế là vấn đề khó, nhưng khó cũng phải làm bởi đây là yêu cầu của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ và thực tiễn đã đặt ra, đòi hỏi phải thực hiện. Các địa phương đã và đang bắt tay vào thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy. Tin rằng, cán bộ, công chức sẽ ủng hộ chủ trương lớn này nếu như việc thực hiện bảo đảm công bằng, minh bạch. Muốn vậy, các tỉnh, thành phố khi thực hiện cần phải có đề án và có những giải pháp cụ thể, bảo đảm được quyền lợi của những người thuộc diện tinh giản. Có như vậy, mới tránh được những tâm tư, tránh xảy ra những xung đột không đáng có. (Daibieunhandan.vn 5/2, Hà An) Về đầu trang

Lựa chọn cán bộ

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định 214 của Bộ Chính trị về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Quy định này thay thế Quy định số 90-QĐ/TW ngày 4/8/2017.

Đề cập đến ý nghĩa của việc ban hành Quy định 214 vào thời điểm trước thềm đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII sẽ diễn ra trong năm 2020, ông Nguyễn Văn Giang (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) người được tham gia vào quá trình bổ sung một số nội dung mới cho Quy định 214, cho biết, so với Quy định 90, Quy định 214 có bổ sung thêm mấy chục chức danh mới. Việc bổ sung những nội dung mới nhằm đưa ra những điều chỉnh phù hợp với tình hình công tác cán bộ cũng như đội ngũ cán bộ hiện nay để chuẩn bị cho công tác nhân sự của Đại hội XIII sắp tới được chặt chẽ, khoa học hơn.

Theo ông Giang, việc ban hành Quy định 214 vào thời điểm này nhằm hoàn thiện thêm các quy định về tiêu chuẩn cán bộ, bổ sung thêm các quy định nhằm giúp cho công tác xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng trong điều kiện mới. Đây có thể coi là bước tiến mới trong công tác cán bộ của Đảng cũng như trong công tác xây dựng Đảng. Đặc biệt điều được ông Giang nhấn mạnh nằm ở việc quy định mới về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, những quy định cụ thể về tiêu chuẩn, chức danh Tổng Bí thư có thể nói đặc biệt thu hút sự quan tâm của dư luận. Tuy nhiên, những quy định mới về tiêu chuẩn chức danh Tổng Bí thư ở Quy định 214 dường như không có nhiều sự khác biệt so với Quy định 90. Những nội dung mới được điều chỉnh thêm vào Quy định lần này, có thể nói, đều là những quy định hợp với lòng dân.

“Đơn cử, so với Quy định cũ, tiêu chuẩn đặt ra với chức danh Tổng Bí thư không chỉ cần có năng lực chỉ đạo chuẩn bị, xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đặc biệt là người kế nhiệm, mà Quy định mới còn nhấn mạnh đến cụm từ “cán bộ chủ chốt”. Hay cá nhân đảm đương chức danh Tổng Bí thư không chỉ là người có uy tín cao trong Trung ương, Bộ Chính trị, trong toàn Đảng mà quan trọng còn phải giành được uy tín trong lòng nhân dân. Cùng với các chức danh Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, người đảm nhận chức danh Tổng Bí thư phải là “trung tâm đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị” thay vì “hạt nhân đoàn kết” như Quy định cũ”- ông Giang cho hay.

Thế nhưng, điều được dư luận quan tâm không chỉ nằm ở những điều chỉnh về tiêu chuẩn chức danh chủ chốt của đất nước mà người dân còn kỳ vọng ở việc quy định cụ thể những chức danh lãnh đạo chủ chốt cũng tác động mạnh mẽ trong lựa chọn nhân sự cho đại hội đảng bộ các cấp. Bởi rằng, nếu lựa chọn được những cán bộ chủ chốt cấp cơ sở với tâm trong sáng, có năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý thì chắc chắn bộ máy cấp trên sẽ càng vững chắc vì thành công của mọi cuộc cách mạng đều “xuất phát từ cơ sở”.

Cũng phải nhìn nhận rằng, ở góc độ quản lý nhà nước cũng như giám sát, chính việc công khai cụ thể các tiêu chí chức danh sẽ phần nào giúp cho việc giám sát của nhân dân, các cơ quan dân cử và các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể thêm thuận lợi hơn. Bởi khi đã có các tiêu chí rõ ràng thì việc “chiếu” theo quy định để giám sát sẽ góp phần tăng thêm sự chặt chẽ trong công tác cán bộ hiện nay. Bởi lẽ trước tiên các chức danh đều thuộc diện nằm trong quy hoạch. Quy hoạch đó sẽ được nhân dân, MTTQ Việt Nam giám sát dựa trên những tiêu chí cụ thể của mỗi chức danh. Vẫn biết công tác cán bộ là công việc khó, nhạy cảm song chính việc thông qua Quy định 214 sẽ giúp cho việc lựa chọn cán bộ chắc chắn hơn, vì trên “nóng” dưới cũng phải chuyển.

Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu, trong năm 2020 toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực rất cao, quyết tâm rất lớn, phấn đấu để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của năm 2020. Theo đó trọng tâm là cần tập trung tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, gắn với tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, khoá XII về xây dựng Đảng, Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Khi sự quyết tâm của Đảng đã được cụ thể hóa bằng hành động đối với chuẩn các chức danh chủ chốt của đất nước thì chắc chắn dưới cơ sở sẽ chuyển động đúng hướng. (Daidoanket.vn 5/2, H.Vũ) Về đầu trang

Không có chuyện gửi gắm, quyền lợi trong công tác nhân sự

Theo Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân, công tác cán bộ phải làm hết sức chặt chẽ, thận trọng để tránh lọt người hư hỏng, biến chất vào trong bộ máy.

Trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân khẳng định trong công tác cán bộ, chúng ta phải có những quy định rất chặt chẽ từ tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đến đề bạt, bổ nhiệm. Nhất là quy trình công tác cán bộ phải làm hết sức chặt chẽ, thận trọng.

Phóng viên: Thời gian qua, hàng loạt cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao bị xử lý kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử. Từ những vụ việc này, là cơ quan thẩm định, tham mưu cho Chính phủ về công tác cán bộ, Bộ Nội vụ có rút ra được những bài học, kinh nghiệm gì để tránh lọt vào bộ máy những cán bộ suy thoái, biến chất?

+ Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân: Thời gian qua có tình trạng chúng ta làm đúng quy trình, đúng thủ tục nhưng khi đã đề bạt, bổ nhiệm, chỉ sau thời gian rất ngắn thì cán bộ vi phạm. Như vậy, rõ ràng dù làm đúng quy trình, đúng thủ tục nhưng chúng ta chọn không đúng người. Qua đó để thấy việc chọn đúng người, nắm bắt được cán bộ về triển vọng, tương lai phát triển cũng như về đạo đức và năng lực của cán bộ là nội dung hết sức quan trọng.

Vấn đề rút kinh nghiệm, thứ nhất là chúng ta đừng để người sắp được đề bạt, bổ nhiệm tới tìm người làm tổ chức mà ngược lại, người làm tổ chức phải đi tìm người tốt, tìm người tài để giới thiệu cho Đảng, Nhà nước bổ nhiệm vào vị trí xứng đáng, để làm tốt nhiệm vụ lãnh đạo.

Thứ hai, chúng ta phải thực hiện trên tinh thần hết sức công tâm, khách quan, không chịu tác động bất cứ một thế lực, bất cứ một người nào, không vì lợi ích cá nhân, không vì quen biết, không vì việc trao đổi quyền lợi giữa các cá nhân với nhau. Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ chọn được đúng người.

Thứ ba, chúng ta phải đánh giá cán bộ trong cả một quá trình. Đây là công việc khó nhất trong quy trình cán bộ.

Thứ tư, cán bộ đã được đề bạt, bổ nhiệm rồi thì phải tiếp tục theo dõi, đưa đi đào tạo và phân công người giúp đỡ, tạo điều kiện cho cán bộ phát triển, chứ không phải chúng ta chỉ chọn một lần.

Bộ trưởng vừa nói đánh giá cán bộ là việc khó nhất nhưng nhiều ý kiến khác thì cho đây đang là khâu yếu?

+ Công tác đánh giá cán bộ đang là khâu yếu. Vấn đề này cũng đã được Trung ương chỉ ra rõ tại Nghị quyết số 26 Hội nghị Trung ương 7 khóa XII. Theo đó, đánh giá cán bộ được nhìn nhận “là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất, chưa gắn với kết quả, sản phẩm cụ thể, không ít trường hợp còn cảm tính, nể nang, dễ dãi hoặc định kiến”.

Tại diễn đàn Quốc hội cuối năm 2019 vừa qua, nhiều ý kiến cũng nêu tỉ lệ đánh giá hoàn thành xuất sắc, hoàn thành tốt nhiều quá, tỉ lệ không hoàn thành chỉ 0,63%. Hôm đó tôi có đặt vấn đề không biết đánh giá cái kiểu gì mà không tìm được người để tinh giản biên chế.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức, viên chức vừa được thông qua đã quy định nguyên tắc việc thực hiện đánh giá phải theo tiêu chí cụ thể, gắn với kết quả, sản phẩm thực hiện hằng năm trước khi luân chuyển, bổ nhiệm. Đồng thời, giao cho người đứng đầu cơ quan quản lý công chức quy định tiêu chí đánh giá cụ thể và quyết định thực hiện đánh giá theo quý, tháng, tuần phù hợp với đặc thù công việc cơ quan, tổ chức, đơn vị.

Tới đây, trong các văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành luật, Bộ Nội vụ sẽ tiếp tục tham mưu Chính phủ quy định chi tiết nhất có thể được. Tuy nhiên, cũng cần thiết phải có sự tham gia tích cực của các bộ, ngành, địa phương, đặc biệt là sự chỉ đạo của người đứng đầu với nhận thức rõ về tầm quan trọng của công tác đánh giá.

Ngoài ra, kết hợp với việc đánh giá này, sắp tới chúng ta sẽ đưa ra những tiêu chí để xét thi đua, khen thưởng. Đặc biệt khi thực hiện chế độ tiền lương năm 2021, tiền thưởng 10% tổng quỹ lương dùng để thưởng cho những người có hiệu quả năng suất làm việc cao hơn, vậy thì ai được lương, thưởng nhiều tức là người đó làm việc có hiệu quả.

Bộ Nội vụ là ngành khá nhạy cảm vì động chạm trực tiếp đến con người. Bộ trưởng đã bao giờ gặp phải tình huống khó xử chưa và ông xử lý thế nào?

+ Bộ Nội vụ là cơ quan “gác gôn” cho Chính phủ, Thủ tướng trong công tác phê duyệt nhân sự cấp cao thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng. Do đó, chúng tôi ý thức rằng phải tuyệt đối việc chấp hành các chủ trương, quyết định của cơ quan có thẩm quyền, tham mưu đầy đủ, đúng quy trình theo quy định của Đảng và quy định của pháp luật. Và như vậy thì không có chuyện “gửi gắm”, không có chuyện “quyền lợi” hay “sợ mất quyền lợi” ở đây. Việc càng khó thì càng phải bảo đảm đúng quy trình. Còn quy trình đó có thể có những thiếu sót, vướng mắc, chưa hoàn chỉnh, cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung. Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ và bản thân việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật vừa qua cũng nhằm mục đích như vậy.

Một trong những việc đáng ghi nhận trong năm qua là bộ đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Nhiều ý kiến cho rằng làm vậy là cắt bớt quyền, cũng là cắt đi lợi ích của công chức ở Bộ Nội vụ. Bộ trưởng có bao giờ gặp phải áp lực từ chính nội bộ?

+ Chủ trương phân cấp, phân quyền là chủ trương lớn của Đảng. Phân cấp, phân quyền không chỉ trong lĩnh vực về cán bộ, công chức, viên chức mà còn trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Nội dung phân cấp, phân quyền rất rộng và đang được các cấp, các ngành thực hiện đồng bộ. Đã là cán bộ, công chức hưởng lương của Nhà nước, từ nguồn thu thuế của nhân dân thì làm việc không được đặt chuyện quyền anh, quyền tôi, không đặt vấn đề là cắt quyền hay cắt lợi ích. Vấn đề là phải thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của mình.

Cần chú ý hơn tới vấn đề đấu tranh xây dựng nội bộ, phải mạnh dạn đấu tranh và chia sẻ những vấn đề đúng/sai để cán bộ, công chức thấy được khuyết điểm của mình. Những khuyết điểm nhỏ nếu không được góp ý, sửa sai thì dần dần khuyết điểm nhỏ sẽ thành sai phạm và thậm chí là vi phạm pháp luật.

Còn việc bảo đảm chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động lại là câu chuyện khác. Quá trình thực hiện có thể có ý kiến về tính hiệu lực, hiệu quả của việc phân cấp, phân quyền. Bộ Nội vụ đang từng bước hoàn thiện, làm sao bảo đảm phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của cấp được phân cấp, phân quyền nhưng đồng thời cũng bảo đảm đẩy mạnh hiệu lực, hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra, tăng cường hướng dẫn, trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ.

Phân cấp, phân quyền là để tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của địa phương chứ không có nghĩa là buông lỏng quản lý của các cơ quan trung ương.

Xin cám ơn Bộ trưởng. (Plo.vn 5/2, Đức Minh) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.031.416 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này