Bản tin cải cách hành chính ngày 16/4/2019

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Xóa thế “nửa vời” trong thực hiện Chính phủ điện tử: Sớm đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu

2. Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Không thể chấp nhận cán bộ 0.4 thời 4.0!

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. Số hóa để phục vụ dân tốt hơn

4. TPHCM liên thông hành chính, tránh tình trạng “một cửa nhiều khóa”

5. Hà Nội nỗ lực trong “cuộc đua” năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

6. Hà Nội: Từng bước nâng cao chỉ số PAPI

7. Long An tiếp tục nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

8. Điện tử là công cụ, không phải mục tiêu

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9. 28 cán bộ đã nghỉ hưu vẫn được tỉnh Tiền Giang mời đi nước ngoài

TIN THẾ GIỚI

10. Quản lý thuế trên Thế giới: Khích lệ ý thức tự giác

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Xóa thế “nửa vời” trong thực hiện Chính phủ điện tử: Sớm đồng bộ hệ thống cơ sở dữ liệu

Thời gian qua, Chính phủ cùng các bộ, ngành, địa phương đã nỗ lực triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp dịch vụ công trực tuyến, qua đó tạo thuận lợi hơn cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo đánh giá của đại diện doanh nghiệp, việc thực hiện điện tử vẫn mang tính “nửa vời”.

Là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu ô tô, thường xuyên phải thực hiện thủ tục thuế và hải quan, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Carmax Nguyễn Hữu Dung cho rằng, “chưa khi nào hoạt động này lại dễ dàng, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp như khoảng 3 năm trở lại đây”. Theo đó, toàn bộ thủ tục khai báo hải quan và thuế đều đã được thực hiện thông qua hệ thống điện tử, giúp giảm thời gian, công sức và chi phí cho doanh nghiệp.

Minh chứng cho điều này, ông Dung nhớ lại: “Trước đây, mỗi khi có lô hàng nhập về cảng Hải Phòng, công ty phải cử nhân viên xuống làm tờ khai với cơ quan hải quan địa phương. Sau đó, cơ quan hải quan sẽ kiểm tra chứng từ hợp lệ, nếu thiếu, nhân viên phải quay về Hà Nội bổ sung. Chỉ khi các thủ tục bảo đảm đúng theo quy định, cơ quan hải quan sẽ bố trí kiểm tra hàng hóa. Thông thường, quy trình này sẽ mất khoảng 2 - 3 ngày. Vậy nhưng từ khi ngành thuế và hải quan thực hiện thủ tục hành chính trên hệ thống điện tử, toàn bộ các khâu này rút lại chỉ trong một ngày. Chưa kể, việc bớt tiếp xúc trực tiếp với cán bộ thuế, hải quan cũng khiến doanh nghiệp không còn phải chịu cảnh bị nhũng nhiễu, gây khó dễ”.

Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng Vũ Trí Nguyễn Đắc Tình cũng tỏ ra hồ hởi khi hơn 2 năm nay, toàn bộ thủ tục liên quan đến thuế được doanh nghiệp này thực hiện qua hệ thống điện tử. Nhờ vậy, “chúng tôi có thể biết được ngay là hồ sơ của mình còn thiếu cái g ìvà tự bổ sung, sau đó gửi cho cơ quan thuế thay vì phải đi lại nhiều lần. Bảo hiểm xã hội cũng vậy. Về cơ bản, hệ thống hoạt động đã trơn tru. Khá lâu rồi, chúng tôi không còn lo hệ thống bị “nghẽn” khiến doanh nghiệp chậm nộp thủ tục quá hạn và bị xử phạt nữa”, ông nói.

Trên thực tế, không riêng ngành  thuế và hải quan mà nhiều bộ, ngành đều đã ứng dụng điện tử trong giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo đánh giá, nhiều lĩnh vực, thủ tục vẫn đang trong cảnh  “điện tử nửa vời”.

Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ nông nghiệp An Đô Trịnh Tú Anh phản ánh, tháng 11.2018, doanh nghiệp này đã thực hiện thay đổi đăng ký kinh doanh qua mạng, nhưng thực tế vẫn phải mang hồ sơ giấy đi nộp. Hay đối với thủ tục hoàn thuế, dù doanh nghiệp đã đưa hết hồ sơ lên Cổng thông tin điện tử nhưng vẫn phải nộp giấy. Đặc biệt, “làm đơn xin hoàn thuế xong, có nơi còn yêu cầu chúng tôi phải làm đơn xin cơ quan chức năng phân công người phụ trách giải quyết việc này cho doanh nghiệp. Rất nhiêu khê!”, bà cho biết.

Tình trạng vừa nộp bản giấy vừa nộp thủ tục qua hệ thống điện tử không chỉ riêng trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh và hoàn thuế. Báo cáo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam chỉ ra, tính đến tháng 9.2018, mới có 68 thủ tục kiểm tra chuyên ngành trong số hàng ngàn thủ tục được thực hiện trên Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia. Tuy nhiên, chỉ có duy nhất một thủ tục (khai báo hóa chất) được thực hiện điện tử hoàn toàn. “Như vậy, mức độ cải cách rất chậm”, báo cáo chỉ rõ.

“Đúng là hiện nay vẫn còn tình trạng “điện tử nửa vời”, Thành viên Tổ công tác của Thủ tướng thi hành Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư Lê Xuân Hiền thừa nhận. Ông lấy dẫn chứng, theo quy định Nghị định 78/2015 và Nghị định 108/2018 sửa đổi về đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp khi đăng ký kinh doanh mới hay sửa đổi đều phải thực hiện thông qua hệ thống điện tử và nộp hồ sơ giấy. Nguyên nhân bởi hiện nay chưa đồng bộ toàn bộ cơ sở dữ liệu quốc gia. “Hiện có xu hướng làm điện tử còn lâu hơn làm giấy vì doanh nghiệp phải qua hai vòng, vừa làm điện tử vừa làm giấy, trong khi nếu chỉ làm bằng giấy thì doanh nghiệp chỉ cần làm hồ sơ xong rồi đem nộp”, ông Hiền nói. (Đại Biểu Nhân Dân 16/4, Đan Thanh)Về đầu trang

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng: Không thể chấp nhận cán bộ 0.4 thời 4.0!

Phiên mở đầu của GovTech trong Hội nghị "Spring Meetings 2019" do WB tổ chức có chủ đề: "Đặt người dân lên trên hết với một Chính phủ đơn giản, hiệu quả và minh bạch", nhằm mục tiêu phản ánh và trao đổi về những thách thức và cơ hội liên quan đến việc thiết kế và triển khai GovTech với đại diện các Chính phủ, các nhà đổi mới công nghệ, đối tác phát triển và đại diện xã hội.

Trả lời câu hỏi tại hội nghị về việc Việt Nam đã bắt đầu hành trình chuyển đổi số như thế nào và những trăn trở của người tham gia vào quá trình này, Bộ trưởng, Mai Tiến Dũng cho biết, việc triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam bắt đầu từ năm 2000 và đạt được một số kết quả nhất định.

Theo đó, chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Việt Nam theo báo cáo của Liên Hợp quốc năm 2018 đứng thứ 88/193 quốc gia, vùng lãnh thổ, đứng thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á (ASEAN). Tuy nhiên, so sánh với mặt bằng chung trong khu vực và trên thế giới, kết quả này là rất khiêm tốn.

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Chính phủ Việt Nam xác định xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số và nền kinh tế số là một trong những ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn 2016-2020 để tạo ra những nền móng vững chắc cho việc chuyển đổi số toàn diện trong giai đoạn 2021-2030.

Ông Dũng cho biết bản thân luôn trăn trở với 2 câu hỏi lớn: Thứ nhất rào cản phát triển Chính phủ điện tử là gì, tại sao Việt Nam triển khai xây dựng Chính phủ điện tử trong thời gian tương đối dài như vậy mà kết quả không tương xứng? Thứ hai, làm thế nào để vượt qua các rào cản đó, triển khai nhanh, có hiệu quả?

Sau thời gian tìm hiểu, ông cho biết rào cản trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử tại Việt Nam là thiếu các nền tảng pháp lý quan trọng như việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước; định danh, xác thực điện tử; giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Về hạ tầng công nghệ, khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam chưa phù hợp với tiêu chuẩn, thông lệ quốc tế, chưa có các hệ thống nền tảng dùng chung gồm: Nền tảng hạ tầng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia, Hệ thống xác thực tập trung, Cổng dịch vụ công quốc gia…

Trong vấn đề nguồn nhân lực, việc tổ chức thực hiện chưa phát huy vai trò người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trong chỉ đạo thực hiện. Cùng với đó là thói quen sử dụng văn bản giấy tờ của cán bộ, công chức cũng như chưa tiếp cận dịch vụ công trực tuyến của người dân.

Từ hạn chế đã xác định, ông Dũng cho biết những cách làm mà Việt Nam đề xuất và triển khai có hiệu quả trong thời gian vừa qua là "Đặt người dân lên trên hết với Chính phủ đơn giản, hiệu quả và minh bạch".

"Chúng tôi cho rằng bài học lớn nhất là phải triển khai đồng thời cải cách hành chính, đơn giản hóa quy trình nghiệp vụ (BPR) và ứng dụng công nghệ thông tin. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo điều hành, minh bạch thông tin, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ", ông nói.

Bên cạnh đó, ông cho rằng người đứng đầu các Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương phải chỉ đạo quyết liệt, trực tiếp, đây là yếu tố quyết định thành công. Đồng thời cần phải có chiến lược quản lý để thay đổi thói quen làm việc từ giấy tờ truyền thống sang môi trường điện tử.

"Hiện nay, tại Văn phòng Chính phủ Việt Nam hầu như không ký "tươi" trên văn bản giấy nữa. Khi lãnh đạo không ký thì cấp dưới đương nhiên phải sử dụng hình thức điện tử. Trong cách mạng công nghiệp 4.0, không thể chấp nhận cán bộ 0.4", Bộ trưởng Dũng nói. (Báo điện tử Trí Thức Trẻ 15/4, T.Công)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Số hóa để phục vụ dân tốt hơn

Một số địa phương đã chủ động sử dụng mạng xã hội để giải quyết công việc, giấy tờ nội bộ, hỗ trợ mô hình một cửa điện tử ở các cấp xã, huyện, tỉnh.

Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chính quyền điện tử, một bộ phận cấu thành của thành phố thông minh, phải là một nền hành chính 4.0. Theo đó, hoạt động quản lý nhà nước và dịch vụ công hiện vượt qua việc kết nối và làm việc trên nền internet (trang web) tiến tới khai khác các ưu thế của công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), mang tính tương tác cao, thông minh hơn từ phía nhà nước (quản lý và cung cấp dịch vụ công) và người dân (sử dụng các dịch vụ công).

Để có thể triển khai hành chính công 4.0, nhà nước phải ứng dụng nền tảng AI cho các hoạt động kỹ thuật số của mình. Nền tảng AI này không chỉ có cơ sở hạ tầng, thiết bị (phần cứng), thuật toán (phần mềm) chuyên dụng thích ứng mà cơ sở dữ liệu được nâng cấp lên mức dữ liệu lớn (Big Data). Khi đó, AI càng phát huy tác dụng tối đa trên cơ sở dữ liệu càng lớn, càng dồi dào, đa dạng.

Vận hành hành chính công 4.0 không chỉ nằm trên màn hình máy tính mà phải chạy trên các thiết bị di động thông minh bằng các ứng dụng (gọi là app). Trong thời gian gần đây, nền tảng ứng dụng di động trên các mạng xã hội đang được sử dụng để triển khai cải cách hành chính, xây dựng chính quyền điện tử từ cơ bản tới 4.0. Với mô hình hành chính trên nền tảng này, người dân có thể ngồi tại nhà, tra cứu tình trạng hồ sơ bằng cách nhập mã biên nhận hay quét mã QR. Cụ thể hơn, người dân có thể tiếp nhận thông tin thực tế là cán bộ thuộc phòng, ban nào đang xử lý hồ sơ của mình, thời hạn dự kiến giải quyết. Người dân cũng nhận được tin nhắn thông báo nếu cần bổ sung hồ sơ hay đến nhận kết quả khi được giải quyết sớm hơn dự kiến...

Ông Đoàn Thanh Bình, Phó Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Đồng Tháp, cho biết: "Gần như trong từng cơ quan, đơn vị, các cán bộ công chức tỉnh Đồng Tháp đã chủ động sử dụng mạng xã hội Zalo để giải quyết công việc, giấy tờ nội bộ, hỗ trợ cho mô hình một cửa điện tử ở các cấp xã, huyện, tỉnh. Qua đó, các cán bộ ở sở có thể hỗ trợ kịp thời, góp phần đẩy nhanh tiến độ giải quyết hồ sơ". Ngày 12-3 vừa qua, tỉnh Cà Mau đã ký kết triển khai dự án chính quyền 4.0 trên nền tảng Zalo, người dân có thể nộp hồ sơ trực tiếp trên Zalo bằng cách gửi ảnh chụp hồ sơ. Đến ngày hẹn, người dân chỉ cần cầm giấy tờ gốc đến trung tâm hành chính tỉnh để đối chiếu và nhận kết quả. Tính đến tháng 3, cả nước đã có 34 tỉnh, thành ứng dụng Zalo vào mô hình cải cách hành chính nhằm đơn giản hóa giấy tờ thủ tục, đem lại sự tiện lợi trong phục vụ người dân.

Bức tranh toàn cảnh về một nền hành chính công 4.0 ở Việt Nam đang ngày càng được hoàn thiện và rõ nét hơn khi ngày càng có thêm nhiều ngành, cơ quan chức năng cùng triển khai nền tảng 4.0. Chẳng hạn, người dân làm các dịch vụ công trực tuyến giờ đây cũng có thể thanh toán trực tuyến các chi phí dịch vụ công. Ngân hàng Nhà nước hồi đầu tháng 4 đã ban hành Văn bản số 2198/NHNN-TT về việc đẩy mạnh thanh toán điện tử trong lĩnh vực dịch vụ công, áp dụng cho các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Đi đầu là TP Đà Nẵng, từ đầu tháng 4, người dân TP này có thể thanh toán điện tử cho các dịch vụ hành chính công qua loại hình ví điện tử. (Người Lao Động 14/4, Phạm Hồng Phước)Về đầu trang

TPHCM liên thông hành chính, tránh tình trạng “một cửa nhiều khóa”

Mới đây Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2018, theo đó TPHCM đứng thứ 10 trong bảng xếp hạng này, tụt 2 hạng so với năm trước đó. Vậy thành phố mang tên Bác có giải pháp gì để đột phá trong công tác cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Kết quả khảo sát của Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam vừa công bố cho thấy, trong 10 chỉ số thành phần PCI thì TPHCM có 6 chỉ số tụt điểm, 4 chỉ số tăng điểm. 4 chỉ số tăng điểm là tính minh bạch, chi phí không chính thức, cạnh tranh bình đẳng và tính năng động của chính quyền. Còn 6 chỉ số giảm điểm mà các doanh nghiệp quan tâm nhiều đó là: Chi phí thời gian, gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và nguồn lao động...

Theo một số doanh nghiệp, thời gian qua, thành phố đã có nhiều nỗ lực trong cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi môi trường đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, trong thực tế khi doanh nghiệp làm thủ tục hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc, nhất là ở cấp thực thi trong vận dụng chính sách còn ngại trách nhiệm và chưa chủ động, linh hoạt trong việc xử lý công việc.

Ông Huỳnh Văn Minh, Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn kinh tế, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP.HCM, người hơn 10 năm gắn bó với doanh nghiệp của thành phố cho rằng, cơ chế thông thoáng, Chính phủ kiến tạo tốt nhưng giải pháp đưa vào cuộc sống vẫn đâu đó còn sức ì rất lớn. Bây giờ cũng phát sinh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm với nhau, nên doanh nghiệp cũng khó lớn.

Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM cho biết, để đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thì phải nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức người trực tiếp xử lý công việc, đồng thời, đẩy mạnh chính sách một cửa liên thông. Hồ sơ doanh nghiệp nộp một cổng trên mạng và các sở, ngành chức năng phối hợp xử lý không chỉ hạn chế được tiêu cực mà doanh nghiệp đỡ phải đi lòng vòng nhiều nơi xin xác nhận các loại giấy tờ, điều này tránh tình trạng cải cách hành chính một cửa “nhiều khóa”.

“Ở một số nước đi làm thủ tục chỉ cần gửi đơn trên mạng là được liên thông đến các đơn vị tự giải quyết. Còn đây mình phải xin giấy phép con, đến phòng cháy chữa cháy, kiểm tra chuyên ngành… còn nhiều thứ phải giải quyết. Pháp luật đã đầy đủ nhưng cán bộ giải quyết thủ tục lại suy diễn theo kiểu của họ khiến doanh nghiệp phải bối rối”, ông Phạm Ngọc Hưng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM cho biết.

Vừa qua, UBND TPHCM cũng đã giao 85 đầu việc cho các sở, ngành, cơ quan chức năng, quận, huyện, trong đó cũng đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đơn vị trong cải cách thủ tục hành chính. Nếu người đứng đầu mà mức hài lòng của người dân, doanh nghiệp thấp sẽ không được hưởng phần lương tăng thêm.

 “Hiện nay, một số sở ngành đã triển khai quy trình liên thông thủ tục hành chính, áp dụng chữ ký số, không dùng văn bản giấy, trao đổi thông tin trên mạng. Sở Kế hoạch –Đầu tư được giao làm đầu mối theo dõi, đánh giá hoạt động này của doanh nghiệp và các đơn vị như thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, công an thành phố…rút ngắn được thời gian làm thủ tục. Thành phố đang làm quyết liệt vấn đề này”, bà Lê Thị Huỳnh Mai, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư TP.HCM cho hay.

Hiện nay, khó khăn trong việc phối hợp giữa các sở, ngành, cơ quan chức năng giải quyết các loại hồ sơ, giấy tờ đó là có tình trạng cơ quan này hỏi thì đơn vị được hỏi không trả lời hoặc trả lời chậm, gây ách tắc cho công việc. Trước nỗi khổ “khó nói”này, thành phố sẽ xây dựng quy trình liên thông giải quyết thủ tục hành chính giữa các sở, ngành, quận, huyện quy trình này sẽ quy định cụ thể thời gian trả lời. (VOV.vn 14/3, Lệ Hằng)Về đầu trang

Hà Nội nỗ lực trong “cuộc đua” năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

Nếu như năm 2014, Thủ đô Hà Nội chỉ đứng thứ 26 trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), thì tới năm 2018 đã vươn lên vị trí thứ 9, lần đầu lọt top 10. Điều này có được là nhờ “cuộc chạy đua” cải thiện môi trường kinh doanh giữa các tỉnh, thành trong cả nước.

Nỗ lực cải thiện

Nhìn vào kết quả của PCI những năm gần đây, có thể thấy, chỉ số PCI của Hà Nội trong 6 năm qua đã tăng liên tiếp, tăng tới 41 bậc, từ vị trí 51 của năm 2012, tăng tới 18 bậc lên vị trí thứ 33 vào năm 2012. Sau đó, năm 2014 và 2015, Hà Nội tiếp tục vươn lên vị trí 26 và 24 trong bảng xếp hạng. Nhưng tới năm 2016 và 2017, Hà Nội đã tăng 10 bậc để tiến lên vị trí thứ 14 và 13. Chính nhờ nỗ lực của toàn Thành phố, trong bảng xếp hạng PCI 2018, Hà Nội đạt 65,4 điểm, hoàn thành chỉ tiêu lọt vào top 10 trước 2 năm mà Thành phố đặt ra.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng, Hà Nội đã vượt khỏi nỗi ám ảnh "Hà Nội không vội được đâu" để tiến lên phía trước, góp phần trở thành "đầu tàu" phát triển kinh tế của cả nước.

Bên cạnh đó, nhìn vào điểm các chỉ số thành phần của Hà Nội, có thể thấy được những nỗ lực đáng kể trong việc cải thiện thủ tục hành chính và môi trường kinh doanh. Ví dụ, sau hơn 1 năm quyết liệt triển khai việc đăng ký kinh doanh qua mạng, 100% hồ sơ đăng ký DN đã được thực hiện; thậm chí, Hà Nội còn miễn 100% lệ phí đăng ký DN từ 1/1/2017 đối với DN nộp hồ sơ qua mạng; với DN nhỏ và vừa thành lập mới, Hà Nội cũng hỗ trợ phí công bố đăng ký DN 300.000 đồng/DN; hỗ trợ kinh phí làm con dấu tối đa 300.000 đồng/DN; hỗ trợ kinh phí chuyển phát kết quả tại nhà, trụ sở DN... Do vậy, báo cáo PCI 2018 cho thấy, chỉ số gia nhập thị trường của Thủ đô đã đạt 8,2 điểm, tăng cao từ mức điểm 6,72 của năm 2017, đứng thứ 6/63 địa phương.

Nói cụ thể hơn về đánh giá của DN, theo báo cáo PCI 2018, Hà Nội đã có bước chuyển rõ rệt về chất lượng của bộ phận một cửa trong đăng ký DN. Có 71% DN tại Hà Nội đánh giá cán bộ am hiểu chuyên môn (năm 2017 là 57%); 86% cho biết cán bộ nhiệt tình, thân thiện (năm 2017 là 53%). Tỷ lệ DN phải chờ trên 3 tháng mới hoàn thành tất cả các thủ tục để chính thức đi vào hoạt động đã giảm mạnh từ 17% của năm trước đó xuống còn 5% trong năm vừa qua. 2018 là năm Hà Nội đẩy mạnh đối thoại DN ở cấp huyện, thị, do vậy những vướng mắc, bức xúc của DN đã có kênh giải toả khá hiệu quả. Nhờ đó, 67% DN cho biết được tháo gỡ vướng mắc kịp thời (năm 2017 là 57%); 87% DN hài lòng với cách giải quyết, phản hồi của các cơ quan chính quyền tại Hà Nội (tăng 22% so với năm 2017).

Theo ông Bùi Mạnh Cường, Giám đốc Công ty Cổ phần Quốc tế Việt Am, Hà Nội là một trong những địa phương tiên phong thực hiện và đang dẫn đầu cả nước về việc đăng ký DN trực tuyến. Việc Hà Nội áp dụng những công nghệ vào giải quyết thủ tục hành chính là điều rất quan trọng, cũng là xu thế chung giúp đơn giản hóa thủ tục, tạo hiệu quả, tránh gây phiền hà cho người dân, DN.

Tuy nhiên, dư địa để Hà Nội cải cách còn rất nhiều bởi phải đạt hơn 35 điểm nữa mới đáp ứng được kỳ vọng của cộng đồng DN; khoảng cách với quán quân Quảng Ninh còn khá xa (Quảng Ninh đạt 70,36 điểm). Vì thế, ông Trần Ngọc Nam cho rằng, Hà Nội và các địa phương khác nên phấn đấu đến cuối năm 2020 chạm gần hơn đến điểm số 100. (Hải Quan 14/4, Hương Dịu)Về đầu trang

Hà Nội: Từng bước nâng cao chỉ số PAPI

Theo kết quả xếp hạng Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2018 vừa được công bố, TP Hà Nội đạt 42,32 điểm, nằm trong nhóm 15 tỉnh, thành phố có số điểm ở mức trung bình thấp. Ðiều này cho thấy, thành phố cần quyết liệt hơn nữa trong thực hiện cải cách hành chính, tăng cường công khai, minh bạch, phát huy sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng, thực thi và giám sát việc thực thi chính sách...

Thời gian qua, Hà Nội tiếp tục thực hiện tốt công tác chuẩn hóa thủ tục hành chính (TTHC), tiết giảm thời gian đi lại cho người dân và doanh nghiệp. Ðây được coi là điểm cộng của thành phố khi luôn nằm trong nhóm có chỉ số dịch vụ công đạt điểm cao. Hiện, thành phố Hà Nội đã triển khai Cổng dịch vụ công trực tuyến dùng chung, cung cấp các dịch vụ công mức độ 3, mức độ 4 trên một nền tảng thống nhất đồng bộ tại 30 quận, huyện, thị xã; 584 xã, phường, thị trấn. Ðến cuối năm 2018, thành phố hoàn thành chỉ tiêu 55% số TTHC được cung cấp trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4; trong đó có 916 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 139 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4.

Ðáng chú ý, để tăng cường kiểm soát trong khu vực công, phòng ngừa tham nhũng, thành phố đã tổ chức nhiều đợt kiểm tra, giám sát, công khai, minh bạch nhiều nội dung. Chỉ tính riêng năm 2018, Hà Nội đã tổ chức 313 lớp, hội nghị tuyên truyền pháp luật về phòng, chống tham nhũng với hơn 41 nghìn lượt người tham gia. Ðoàn kiểm tra công vụ của thành phố đã kiểm tra 737 cơ quan, tổ chức về việc thực hiện quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức; kiểm tra việc thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của 646 cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bên cạnh đó, thành phố còn tổ chức thanh tra tập trung vào các lĩnh vực "nóng" như quản lý quy hoạch đất đai, tài sản công...

Qua đó đã kiến nghị thu hồi hơn 178 tỷ đồng, kiến nghị xử lý vi phạm 3,3 ha đất, kiểm điểm trách nhiệm 42 tập thể và 75 cá nhân có vi phạm. Các cơ quan hành chính của thành phố cũng chỉ đạo kiểm điểm trách nhiệm 51 tập thể và 55 cá nhân để xảy ra sai phạm; chuyển cơ quan điều tra bốn vụ. Hà Nội cũng đã thực hiện việc chuyển đổi vị trí công tác của 1.087 cán bộ, công chức để phòng ngừa tham nhũng. Việc bình xét, công nhận đối tượng hộ nghèo, chi tiêu tại cấp xã, phường đã được người dân ghi nhận có sự công khai, minh bạch hơn.

Với sự cố gắng và nỗ lực, theo kết quả xếp hạng Chỉ số PAPI năm 2018 vừa được công bố ngày 2-4 vừa qua, tổng số điểm chỉ số PAPI của Hà Nội đạt 42,32 điểm, tăng 7,69 điểm so với năm 2017 (năm 2017 đạt 34,63 điểm). Trong đó, chỉ số "tham gia của người dân ở cấp cơ sở" đạt 5,22 điểm; chỉ số "công khai minh bạch" đạt 5,09 điểm; chỉ số "trách nhiệm giải trình" đạt 4,61 điểm; chỉ số "kiểm soát tham nhũng trong khu vực công" đạt 6,08 điểm; chỉ số "thủ tục hành chính công" đạt 7,5 điểm; chỉ số "cung ứng dịch vụ công" đạt 6,93 điểm. Tại hai chỉ số mới lần đầu được đánh giá (gồm chỉ số "quản trị môi trường" và "quản trị điện tử"), Hà Nội lần lượt đạt 3,58 điểm và 3,32 điểm.

Dù điểm số có nhích lên so với năm 2017 song Hà Nội vẫn nằm trong nhóm 15 địa phương có chỉ số PAPI thấp. Thậm chí, một số chỉ số thành phần như sự công bằng trong tuyển dụng vào khu vực công, chỉ số liên quan chất lượng không khí, nguồn nước, kiểm soát tham nhũng khu vực công chưa được đánh giá cao. (Nhân Dân 15/4, trang Hà Nội, An Trân)Về đầu trang

Long An tiếp tục nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

UBND tỉnh Long An vừa yêu cầu các sở, ngành, địa phương tích cực thực hiện các giải pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công (PAPI).

Theo đó, nhiệm vụ đặt ra là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh; khắc phục những bất cập, thiếu sót để có được điểm cao trong chỉ số PCI. Các địa phương, cơ quan liên quan chú trọng tuyên truyền cho cán bộ, công chức, viên chức nhận thức rõ tầm quan trọng của việc cải thiện, nâng cao chỉ số PCI và công tác hỗ trợ, phát triển doanh nghiệp; công khai xử lý nghiêm những trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây sách nhiễu, khó khăn cho doanh nghiệp và cần xem xét đến trách nhiệm của người đứng đầu bộ phận, đơn vị đó; phấn đấu giảm và hướng đến mục tiêu không còn chi phí không chính thức; thực hiện tốt ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh cải cách hành chính và tăng cường đối thoại với doanh nghiệp…

Theo công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2018, chỉ số PCI của Long An tiếp tục có những cải thiện đáng kể, đạt 68,09 điểm trên thang điểm 100, đứng thứ ba cả nước, tăng một bậc so với năm 2017. VCCI đánh giá, Long An có sáu chỉ số thành phần tăng điểm gồm: chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước; chi phí không chính thức; đào tạo lao động; tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; cạnh tranh bình đẳng. Các chỉ số này được doanh nghiệp đánh giá khá tốt. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn bốn chỉ số thành phần giảm điểm gồm: tính minh bạch và tiếp cận thông tin; tính năng động của chính quyền; thiết chế pháp lý; gia nhập thị trường. (Nhân Dân 14/4, PV) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Điện tử là công cụ, không phải mục tiêu

Trong khi nhiều thủ tục hành chính điện tử được doanh nghiệp phản ánh mới chỉ thực hiện “điện tử nửa vời” và bày tỏ mong muốn được thực hiện thủ tục hành chính điện tử hoàn toàn, Cục trưởng Cục Công nghệ thông tin và Thống kê hải quan, Tổng cục Hải quan Nguyễn Mạnh Tùng cho rằng nếu không phải là thủ tục thiết yếu, không mang lại hiệu quả hơn so với cách làm truyền thống thì không cần thiết phải thực hiện điện tử. Bởi “điện tử là công cụ, không phải là mục tiêu”, ông nói.

- Hiện, có 171/181 thủ tục hành chính ngành hải quan được thực hiện điện tử. Vậy với các thủ tục còn lại, lý do vì sao vẫn chưa thực hiện điện tử, thưa ông?

- Đúng là hiện tại, ngành hải quan có 171/181 thủ tục hành chính được thực hiện điện tử với mức tối thiểu là cấp độ 3, hầu hết là cấp độ 4. Đây đều là những thủ tục cốt lõi, mang tính chất trọng yếu đối với doanh nghiệp. Song, vẫn còn một số thủ tục chưa được thực hiện điện tử là những thủ tục không mang tính trọng yếu.

- Nghĩa là, sẽ có thủ tục hành chính không nhất thiết phải làm điện tử?

- Đúng vậy. Ví dụ như ở cửa khẩu, sân bay, người dân đi du lịch mang theo lượng hành lý xách tay vượt quá định mức, nếu thực hiện kê khai điện tử có khi không hiệu quả, nhanh chóng bằng việc điền vào tờ khai được phát ngay tại đó. Tóm lại, điện tử là công cụ, không phải là mục tiêu. Chúng ta không nên máy móc thực hiện theo phong trào điện tử, mà phải làm sao bảo đảm tính hiệu quả. Nếu một thủ tục nào đó làm điện tử không hiệu quả so với cách làm truyền thống (nộp hồ sơ giấy) thì không nhất thiết phải đưa lên điện tử. Nhưng phải bảo đảm nguyên tắc cố gắng để 100% thủ tục thiết yếu được thực hiện điện tử, đặc biệt là thủ tục liên quan đến doanh nghiệp.

- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý,cung cấp dịch vụ công trực tuyến đã tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp như giảm thời gian, chi phí, công sức đi lại. Vậy còn đối với cơ quan quản lý được hưởng lợi như thế nào?

- Chúng tôi có nhiều điểm thuận lợi. Trước hết, giảm thời gian xử lý của cơ quan quản lý. Nếu như trước đây, khi doanh nghiệp mang bộ hồ sơ giấy đến, từng cán bộ công chức mở hồ sơ, tài liệu để đối chiếu, so sánh, kiểm tra dữ liệu xem doanh nghiệp đó có bị nợ thuế không, hàng hóa đó có thuộc diện bị hạn chế hay phải có điều kiện không… Công đoạn này mất rất nhiều thời gian, chưa kể các số liệu luôn được cập nhật thì hồ sơ nào cho đủ? Thêm nữa, cán bộ có trình độ, năng lực khác nhau cũng sẽ khó bảo đảm tính nhất quán trong thực thi. Song, khi thực hiện điện tử, hệ thống sẽ tra cứu được doanh nghiệp đó có bị nợ thuế, hàng hóa đó có bị cấm… Đồng thời, tạo sự nhất quán, chuẩn xác khi có sự phân vai khâu nào thuộc hệ thống xử lý, khâu nào do con người.

Ngoài ra, một thuận lợi nữa khi thực hiện thủ tục hành chính điện tử là tạo tính liên thông, trong khi làm thủ công thì các dữ liệu không liên thông được. Đặc biệt, thực hiện điện tử còn giúp giảm tình trạng cán bộ sách nhiễu, gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp; bảo đảm tính chính xác của hồ sơ, chứng từ.

- Hải quan là một trong những ngành tiên phong ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ công trực tuyến từ khoảng 10 năm nay. Nhìn lại, theo ông, đâu là bài học?

- Phải thú thật rằng, đó là một quá trình không dễ dàng. Bởi thay đổi phương thức làm việc đối với người trong cuộc luôn là điều không đơn giản. Còn nhớ, khi mới triển khai thực hiện, nhiều người lo ngại là nếu dùng hồ sơ giấy thì để lại dấu ấn, trong khi điện tử trên không gian ảo. Bản thân doanh nghiệp cũng lo ngại rằng làm thủ tục hải quan điện tử, vậy trên đường vận chuyển hàng hóa, gặp quản lý thị trường, công an kiểm tra thì lấy cái gì ra để chứng minh hàng hóa đó hợp pháp? Những lo ngại đó là chính đáng nên phải được xử lý đồng bộ không chỉ trong ngành hải quan. Tức là phải được pháp lý hóa việc thực hiện thủ tục điện tử bằng các nghị định, thông tư trong lĩnh vực hải quan cũng như lĩnh vực có liên quan. Nói cách khác, phải thiết kế ra cơ chế và quy trình điện tử, không phải chuyển đổi cơ học quy trình thủ công sang làm quy trình điện tử được.

Đồng thời, phải giải quyết vấn đề liên quan nghiệp vụ, trách nhiệm thực thi công việc của từng bộ phận. Thứ nữa, thực hiện điện tử phải có hệ thống công nghệ. Ngành hải quan muốn làm nhưng doanh nghiệp không có công cụ để khai báo, hoặc họ không muốn làm cũng không được. Chúng tôi đã phải vừa tuyên truyền, vận động, vừa dùng các biện pháp áp đặt, khuyến khích doanh nghiệp như nếu anh thực hiện thủ tục hải quan điện tử sẽ được ưu tiên hơn so với thực hiện thủ tục thủ công, qua đó mới giúp cho việc doanh nghiệp thực hiện hải quan điện tử đạt kết quả cao, trên 95%, thậm chí trên 99% như hiện nay.

- Hiện nay, Chính phủ đang nỗ lực thực hiện Chính phủ điện tử, trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin để cung cấp thủ tục hành chính công. Vậy theo ông, để thực hiện điện tử hoàn toàn, mang tính thực chất, phải bảo đảm các điều kiện gì?

- Tôi cho rằng cần rất nhiều yếu tố. Thứ nhất là pháp lý. Thứ hai là cần thiết kế quy trình điện tử chứ không phải bê nguyên si quy trình thủ công sang áp dụng cho điện tử. Cần nhớ, bản thân việc bảo đảm tính liên thông trong một quy trình điện tử đã cần pháp lý rồi. Bởi trước đây, người ta thường xây dựng quy phạm cho từng lĩnh vực nhưng bây giờ điện tử phải liên thông, do đó phải xử lý được cả vấn đề liên thông. Hiện, chúng ta mới triển khai liên thông văn bản, chưa xử lý nhiều về mặt quy trình. Để thực hiện Chính phủ điện tử ở bước cao hơn thì tới đây, việc giải quyết được những vấn đề đó rất quan trọng, đặc biệt liên quan quy trình liên thông. Thứ ba, cần sự đồng bộ của hệ thống công nghệ, vì đã là điện tử phải liên thông giữa người dân, doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước. Ngoài ra, còn cần đến kỷ cương hành chính, nếu không sẽ tạo ra nút thắt. Đó là những phần việc không hề đơn giản.

Tuy nhiên, yếu tố mang tính quyết định vẫn là con người. Vì tựu trung lại, khi hình thành nên hệ thống điện tử rồi, phần việc phức tạp là ở khâu thiết kế khuôn khổ pháp lý, quy trình nghiệp vụ, hệ thống công nghệ vẫn giải quyết được. Nhưng nếu con người không sẵn sàng thì sẽ khó thành công. (Đại Biểu Nhân Dân 15/4, Vũ Thủy)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

28 cán bộ đã nghỉ hưu vẫn được tỉnh Tiền Giang mời đi nước ngoài

Thanh tra Chính phủ phát hiện, 28 trường hợp là cán bộ lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Tiền Giang và lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể được UBND tỉnh này mời đi nước ngoài khi đã nghỉ hưu.

Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, giai đoạn 2012-2016 tỉnh Tiền Giang đã cử 1.020 đoàn với 2.026 lượt cán bộ, công chức đi nước ngoài; tổng chi phí trên 40 tỷ đồng.

Trước khi tổ chức các đoàn ra, Sở Ngoại vụ Tiền Giang đã tham mưu UBND tỉnh tiến hành các thủ tục pháp lý cần thiết, xây dựng kế hoạch, dự toán kinh phí và liên hệ đối tác nước ngoài hoặc cơ quan đại diện Việt Nam tại nước tới.

Tuy nhiên cơ quan thanh tra phát hiện, hầu hết các đoàn ra đều không nằm trong kế hoạch hoạt động đối ngoại hàng năm của tỉnh được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; nhiều đoàn, khi đi không xây dựng kế hoạch hoạt động của đoàn trình cấp có thẩm quyền trước khi ra quyết định.

Nhiều hồ sơ đoàn ra nước ngoài thiếu văn bản chấp thuận cử người của đơn vị chủ quản. Hầu hết thư mời, văn bản mời đều là bản photo, một số thư mời không được dịch ra tiếng Việt, thư dịch ra tiếng Việt không có chứng thực hoặc xác nhận của cơ quan chức năng theo quy định.

“Vẫn có một số lãnh đạo chủ chốt tỉnh Tiền Giang đi nước ngoài nhiều hơn 2 lần/năm. Nhiều đoàn ra bố trí 2 lãnh đạo chủ chốt của tỉnh tham gia cùng đoàn. Đáng chú ý, có tới 28 trường hợp là cán bộ lãnh đạo Tỉnh uỷ, UBND tỉnh và lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn thể được UBND tỉnh mời đi nước ngoài khi đã nghỉ hưu”- kết luận thanh tra chỉ rõ.

Thanh tra Chính phủ nhấn mạnh, có trường hợp cán bộ lãnh chủ chốt ở địa phương, cơ quan, đơn vị tham gia đoàn của các doanh nghiệp trong nước đi nước ngoài là chưa thực hiện nghiêm Chỉ thị 21/2012 của Ban bí thư, Chỉ thị 38/2014 của Bộ Chính trị.

Cá biệt, đoàn đi Đài Loan năm 2012, Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Văn Khang (nghỉ hưu từ cuối năm 2015) đã không nghiêm túc thực hiện ý kiến của Trung ương.

Đối tác mời 4 người (không mời Chủ tịch UBND tỉnh), nhưng UBND tỉnh lại cử 6 người, trong đó có Chủ tịch UBND tỉnh và chỉ có 2 người đúng thành phần mời.

Theo quy định, Chủ tịch UBND tỉnh khi đi nước ngoài phải xin ý kiến chấp thuận của Trung ương. Ban Đối ngoại Trung ương đã có văn bản gửi Sở Ngoại vụ tỉnh Tiền Giang đề nghị báo cáo lãnh đạo tỉnh cân nhắc chưa cử các đoàn lãnh đạo cấp tỉnh đi công tác Đài Loan.

Sở Ngoại vụ đã có văn bản gửi Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh truyền đạt nội dung ý kiến của Ban Đối ngoại Trung ương nhưng sau đó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Khang vẫn đi.

Ngoài ra, đoàn đi theo quyết định số 1931/2015 do ông Nguyễn Văn Khang làm trưởng đoàn, Thường trực Tỉnh uỷ chấp thuận cho đi 7 ngày, nhưng thực tế đã đi 10 ngày.

“Một số đoàn ra thực hiện không nghiêm túc về xin phép cấp có thẩm quyền cho phép đi nước ngoài như đoàn đi theo Quyết định số 586/2015 và Quyết định số 07/2016 có ông Lê Văn Nghĩa, Trần Thanh Đức, Phó chủ tịch UBND tỉnh nhưng không có văn bản chấp thuận của Thường trực Tỉnh uỷ.

Giai đoạn 2012-2016, Sở Y tế Tiền Giang là đơn vị được tài trợ đi nước ngoài nhiều nhất với 91 đoàn/97 lượt người đi. Trong đó, lãnh đạo Sở Y tế có 9 lượt người (2 người đã nghỉ hưu); lãnh đạo Bệnh viện; Trung tâm y tế; Ban quản lý dự án; lãnh đạo các khoa,… là 65 lượt người.

“Qua công tác quản lý nhà nước và kiểm tra Sở Ngoại vụ đã phát hiện được 18 trường hợp vi phạm quy định về đi nước ngoài. Có 1 trường hợp tại Trường Đại học Tiền Giang cử ông Nguyễn Thanh Duy Vũ đi học tại nước ngoài bằng kinh phí ngân sách cấp, nhưng sau đó ông Vũ không về nước.

Đối với các trường hợp đi việc riêng, nhiều hồ sơ không có quyết định nghỉ phép của cấp có thẩm quyền hoặc đơn xin nghỉ không lương trong thời gian đi nước ngoài. Một số trường hợp vi phạm như: Đi khi không có sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền, về trễ thời gian dài nhưng không thấy xử lý. (Dân Trí 15/4, Thế Kha)Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Quản lý thuế trên Thế giới: Khích lệ ý thức tự giác

Các quy định pháp luật về quản lý thuế trên Thế giới có phạm vi bao phủ rộng và thường được đánh giá là phức tạp, khó hiểu. Chính sách, pháp luật về quản lý thuế ở mỗi nước cũng mang đặc trưng riêng, tùy thuộc vào hệ thống chính trị, môi trường lập pháp cũng như điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, thông lệ chung là giảm chi phí, đơn giản hóa thủ tục đăng ký thuế, khuyến khích ý thức tự giác chấp hành của người nộp thuế.

Nhiều nước chỉ yêu cầu người nộp thuế khai báo những thông tin ngắn gọn, cần thiết nhất cho công tác quản lý thuế như: Tên, địa chỉ, thông tin liên hệ của người nộp thuế; địa vị pháp lý; thông tin về đăng ký kinh doanh; loại hình kinh doanh; năm tài chính; doanh thu năm thực tế hoặc dự tính; các loại thuế phải đóng… Dữ liệu đăng ký thuế được khai theo mẫu quy định. Cơ quan thuế sẽ cấp mã số thuế và chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế.

Ở Trung Quốc, người nộp thuế phải thực hiện đăng ký thuế trong vòng 30 ngày sau khi được cấp giấy phép kinh doanh. Tờ khai đăng ký thuế gồm các nội dung: Tên doanh nghiệp, số CMND của người đại diện, địa chỉ, loại hình đăng ký, phương pháp kế toán, loại hình sản xuất kinh doanh, phạm vi sản xuất kinh doanh, vốn đăng ký/vốn đầu tư, thời gian sản xuất kinh doanh, thông tin liên lạc của người phụ trách tài chính… Thông thường, người nộp thuế phải nộp bản cứng tờ khai đăng ký thuế, tuy nhiên, một số cơ quan thuế địa phương có thể yêu cầu nộp bản điện tử. Cơ quan thuế sẽ xử lý và cấp cho người nộp thuế giấy chứng nhận đăng ký thuế vào ngày hồ sơ đăng ký thuế được nộp. Người nộp thuế nộp đăng ký thuế muộn hơn thời gian quy định sẽ bị nộp phạt (mức cao nhất lên đến 10.000 NDT).

Ở Ấn Độ, tờ khai đăng ký thuế có thể thực hiện qua mạng nhưng vẫn bắt buộc gửi kèm bản cứng có chữ ký cùng giấy tờ liên quan. Cơ quan thuế sẽ cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế cho người nộp thuế.

Ở Indonesia, hồ sơ đăng ký thuế được nộp bằng bản cứng theo mẫu do cơ quan thuế quy định. Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ, cơ quan thuế sẽ tiến hành xác minh và cấp giấy chứng nhận đăng ký thuế trong vòng 5 ngày làm việc. Trong quá trình xác minh, cơ quan thuế có thể đến kiểm tra trực tiếp tại trụ sở của người nộp thuế.

Mặc dù các quy định pháp luật về quản lý thuế ở nhiều nước chú trọng tới đơn giản hóa thủ tục, song các quy định pháp luật về quản lý thuế cũng quy định chi tiết và chặt chẽ những hành vi vi phạm về thuế, cũng như việc xử phạt các vi phạm này.

Hầu hết các quốc gia đều có quy định xử phạt vi phạm pháp luật với các hành vi không nộp tờ khai thuế đúng hạn, không nộp thuế đúng hạn, không báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế... Mức xử phạt khác nhau tương ứng với từng vi phạm. Cụ thể, đối với hành vi chậm nộp thuế, có nước đưa ra mức lãi suất nộp phạt theo năm (Bỉ, Phần Lan, Italy); tháng (Đức, Luxumbour, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ) hoặc ngày (Australia, Séc, Ireland, Hàn Quốc). Đối với nộp phạt hành chính, các nước thường khống chế tỷ lệ % theo số thuế phải nộp như Áo là 10%; Canada là 5% + 1% cho mỗi tháng nộp chậm... Đối với lãi suất phạt chậm nộp thuế cơ bản là dưới 0,05%/ngày như: Ireland và Hàn Quốc là 0,03%...

Tại Philippines và Thái Lan, đối với hành vi khai thuế giả mạo hoặc gian lận hoặc không nộp tờ khai thuế, thời hiệu xử phạt là 10 năm kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Tại Indonesia, theo Luật Quản lý thuế hiện hành, đối với hành vi gian lận nộp thiếu số tiền thuế, thời hiệu xử phạt là 5 năm kể từ thời điểm bắt đầu nghĩa vụ thuế của đối tượng nộp thuế.

Tại Pháp, trong trường hợp trốn thuế, thủ tục tố tụng hình sự có thể được tiến hành trong 6 năm kể từ ngày hành vi vi phạm được thực hiện. Tại Bỉ, trong trường hợp vi phạm pháp luật liên quan đến thuế thu nhập, có hành vi gian lận và có ý định trốn thuế, thời hiệu xử phạt là 7 năm. Tại Thụy Sỹ, trong trường hợp trốn thuế, thời hiệu xử phạt là 10 năm kể từ ngày hành vi vi phạm thực hiện.

Nghiên cứu kinh nghiệm các nước cũng cho thấy, trong trường hợp đối tượng nộp thuế vi phạm và làm phát sinh nợ thuế, phần lớn các quốc gia hiện nay sử dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi nợ thuế đối với người đứng đầu quản lý doanh nghiệp khi vi phạm luật thuế (Australia, Campuchia, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, New Zealand, Philippines, Luxembourg...). Ngoài ra, các quốc gia cũng sử dụng biện pháp tịch thu tài sản của chủ nợ (Philippines, Trung Quốc, Malaysia, New Zealand, Singapore, Thái Lan...).

Tại Nhật Bản, theo Luật Thu thuế quốc gia, biện pháp cưỡng chế thuế đối với các khoản nợ thuế chưa được thanh toán kể từ ngày hết hạn nộp thuế bằng cách tịch thu tài sản hoặc chuyển đổi tài sản của người nộp thuế thành tiền, đấu giá tài sản thành tiền mặt. Các thủ tục thực hiện như sau: Cơ quan thuế gửi thư thông báo thu các khoản thuế quá hạn trong vòng 50 ngày kể từ ngày hết hạn nộp thuế. Nếu thanh toán không được thực hiện trong vòng 10 ngày kể từ ngày ra thông báo, cơ quan thuế bắt đầu tiến hành các biện pháp cưỡng chế thuế mà không cần có giấy phép của tòa án.

Tại Hàn Quốc, theo Luật Thu thuế quốc gia, biện pháp cưỡng chế thuế theo hình thức thu hồi tài sản của người nộp thuế được thực hiện khi người nộp thuế không nộp tờ khai thuế hoặc không nộp thuế. Theo đó, cơ quan thuế thực hiện Thông báo yêu cầu thanh toán gửi trực tiếp đến đối tượng không nộp đủ thuế vào ngày đến hạn. Nếu người nộp thuế không nộp tờ khai thuế vào ngày ghi trong Thông báo, cơ quan thuế có quyền yêu cầu cưỡng chế đối với tài sản gắn liền với người nộp thuế (tài sản lưu động, chứng khoán; bất động sản; tài sản đang bị khiếu kiện và các quyền tài sản khác). Nếu tài sản của người chậm nộp thuế có liên quan quan đến thủ tục thanh lý phá sản thì cơ quan thuế có thể yêu cầu một phần tiền thu được từ việc bán tài sản đó... (Đại Biểu Nhân Dân 15/4, Nhật An)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.040.065 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này