Bản tin cải cách hành chính ngày 11/10/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hưng Yên đẩy mạnh cải cách hành chính thu hút đầu tư

2.  Đà Nẵng lấy ý kiến xây dựng Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Sớm thí điểm dịch vụ công mức độ 4 trong lý lịch tư pháp

4. Từ 10/10, thí điểm 6 thủ tục hành chính lĩnh vực y tế trên Cơ chế một cửa quốc gia

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

5. Cán bộ 4.0 trong Chính phủ 4.0

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Chuyện khó tin nhất

7. Lấp 'lỗ hổng' công tác cán bộ: Rõ trách nhiệm, khó làm sai

8. Rõ trách nhiệm, khó làm sai

         

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hưng Yên đẩy mạnh cải cách hành chính thu hút đầu tư

Thực hiện mục tiêu sớm trở thành tỉnh công nghiệp, thời gian qua, Hưng Yên đã đẩy mạnh cải cách hành chính, thủ tục hành chính (TTHC) trên nhiều phương diện. Nhờ quyết tâm cao và hành động quyết liệt, tỉnh đã đạt kết quả bước đầu khá tích cực, góp phần quan trọng cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp (DN) đến đầu tư tại địa phương.

Hưng Yên đẩy mạnh cải cách hành chính thu hút đầu tư

Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Hưng Yên hiện đang cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 và 4, thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết đối với TTHC của 15 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh cùng một số cơ quan ngành dọc đóng trên địa bàn. Phó Giám đốc phụ trách Trung tâm Trần Văn Thắng khẳng định: Trung tâm hoạt động với mục tiêu lấy người dân và DN làm trung tâm để phục vụ, tạo bước đột phá trong công tác cải cách TTHC của tỉnh, thể hiện qua thái độ tích cực, cởi mở của chính quyền tỉnh đối với DN và khả năng phối hợp giữa các cơ quan trong việc giải quyết công việc liên quan đến phục vụ DN. Thông qua hoạt động của trung tâm, các TTHC được công khai, minh bạch. Việc tiếp nhận, giải quyết các TTHC được giám sát, kiểm tra, đôn đốc và thực hiện nhất quán nhằm bảo đảm tiến độ, đơn giản hóa quy trình, cắt giảm thời gian, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Trong những năm qua, UBND tỉnh Hưng Yên đẩy mạnh công bố, công khai các TTHC nhằm minh bạch hóa công tác điều hành, quản lý kinh tế, cũng như các thông tin liên quan đến chủ trương, chính sách và các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành, của tỉnh để phục vụ người dân, DN. Sáu tháng đầu năm 2019, Chủ tịch UBND tỉnh Hưng Yên đã ban hành 17 quyết định công bố danh mục TTHC với tổng số 614 TTHC được công bố để áp dụng trên địa bàn. Số TTHC đã công bố được Văn phòng UBND tỉnh tích hợp dữ liệu và nhập sửa đổi, bổ sung các thông tin liên quan đến thời gian, địa điểm thực hiện, đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND tỉnh. Các cơ quan, đơn vị có liên quan đã thực hiện công khai đầy đủ, kịp thời các TTHC thuộc thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết bằng hình thức niêm yết tại trụ sở cơ quan và trên trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị. Đồng thời, tỉnh đẩy mạnh rà soát, đánh giá, đơn giản hóa TTHC, xây dựng các phương án liên thông giải quyết TTHC, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật cho phép. Chủ tịch UBND tỉnh đã ban hành một số quyết định thông qua phương án đơn giản hóa TTHC trong lĩnh vực đầu tư, lĩnh vực quy hoạch xây dựng... gửi Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành liên quan để đề nghị xem xét, xử lý theo quy định. Các cơ quan của tỉnh Hưng Yên đã có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giúp DN, người dân giảm sức ép thực hiện các thủ tục đầu tư, kinh doanh, tiết kiệm thời gian, chi phí.

Trưởng ban quản lý Các khu công nghiệp (KCN) tỉnh Hưng Yên Phạm Thái Sơn cho biết: Ban quản lý rất coi trọng hoạt động xúc tiến đầu tư, hỗ trợ các DN. Trung tâm dịch vụ và hỗ trợ đầu tư KCN trực thuộc ban đã thực hiện hiệu quả nhiều giải pháp như: Giới thiệu môi trường đầu tư và các vấn đề liên quan; cung cấp dịch vụ, tư vấn đầu tư; hỗ trợ tư vấn cho DN về các vấn đề liên quan thủ tục pháp lý, quy định của pháp luật ở nhiều lĩnh vực… Điển hình, việc thành lập, duy trì hoạt động Ban hỗ trợ DN Nhật Bản đã giúp hàng chục DN Nhật Bản đầu tư, làm ăn hiệu quả ở Hưng Yên. Đồng thời, ban thực hiện liên thông với Phòng Đăng ký kinh doanh, thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký kinh doanh đối với nhà đầu tư nước ngoài xuống còn ba ngày, giảm 15 ngày làm việc so với quy định. Thực hiện rà soát, cắt giảm thời gian giải quyết từ 30% đến 50% các thủ tục thuộc lĩnh vực đầu tư, quy hoạch xây dựng và bảo vệ môi trường… Áp dụng hệ thống quản lý và cấp chứng nhận xuất xứ điện tử và hệ thống thông tin một cửa điện tử để cung cấp dịch vụ công trực tuyến đạt mức độ 3 đối với hơn 60% số TTHC thuộc thẩm quyền.

Việc thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp cải cách hành chính, TTHC, ứng dụng công nghệ thông tin trong phục vụ dịch vụ công của các cơ quan tỉnh Hưng Yên đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (CPI), tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Chín tháng năm 2019, Hưng Yên đã tiếp nhận 80 dự án đầu tư, nâng tổng số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh lên 1.896 với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 132 nghìn tỷ đồng và gần 5 tỷ USD. Trong đó, có nhiều dự án công nghệ cao, giá trị sản xuất lớn đi vào hoạt động như: sản xuất thiết bị vệ sinh và các phụ kiện của Công ty TNHH Toto Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 281 triệu USD; nhà máy sản xuất bảng mạch in dùng cho các thiết bị điện tử của Công ty TNHH Mektec Manufacturing Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 100 triệu USD; nhà máy chế biến sữa của Công ty cổ phần Thực phẩm dinh dưỡng Nutifood Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký hơn 1.600 tỷ đồng; nhà máy tôn mạ màu của Công ty TNHH một thành viên Hòa Phát với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.400 tỷ đồng...

Theo một số nhà đầu tư, môi trường đầu tư ở tỉnh Hưng Yên đã có nhiều cải thiện, tuy nhiên vẫn còn một số vướng mắc trong đền bù giải phóng mặt bằng. Một số trường hợp còn thiếu mặt bằng sạch để sẵn sàng tiếp nhận các dự án đầu tư. Tiến độ triển khai đầu tư xây dựng hạ tầng ở một số KCN chậm, chưa đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư; thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho DN chậm; chỉ số tiếp cận đất đai, đào tạo lao động sụt giảm… Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hưng Yên Nguyễn Văn Phú cho biết, việc giải phóng mặt bằng có nơi, có lúc còn khó khăn là do mật độ dân cư cao, bình quân ruộng đất trên đầu người thấp (khoảng hơn một sào (360 m2)/khẩu, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp khá cao cho nên người nông dân rất gắn bó với đất. Hơn nữa, việc giao đất cho một số DN còn gặp vướng mắc về cơ chế giữa các luật còn chồng chéo. Cụ thể, Luật Đất đai chưa quy định rõ đã đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư theo Luật Đấu thầu thì có phải đấu giá quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai không? Hay Luật Đất đai quy định điều kiện đấu giá quyền sử dụng đất là đất đã giải phóng mặt bằng, trong khi nguồn lực của các địa phương rất hạn chế, không có đủ kinh phí để làm công tác này, cho nên không thể thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất. Và khi chủ đầu tư ứng tiền để thực hiện giải phóng mặt bằng thì Luật Đất đai cũng không có quy định giao đất cho nhà đầu tư trúng thầu dự án được sử dụng phần đất này, dẫn đến các địa phương lúng túng, ảnh hưởng tiến độ thực hiện dự án…

Trong những năm qua, tỉnh Hưng Yên đã giải phóng mặt bằng được hơn 2.500 ha đất, giao cho các dự án đầu tư của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Đến nay, có gần 1.000 dự án đi vào hoạt động, góp phần nâng cao giá trị sản xuất công nghiệp, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm nghìn lao động. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ 18, với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp, Hưng Yên tiếp tục triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ: rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội, quy hoạch công nghiệp, các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nhất là việc lập quy hoạch và trình Chính phủ phê duyệt KCN và đô thị dịch vụ Lý Thường Kiệt rộng khoảng 3.000 ha vào quy hoạch tổng thể các KCN của tỉnh Hưng Yên đến năm 2020 và bổ sung vào quy hoạch phát triển các KCN Việt Nam đến năm 2020.

Bên cạnh đó, tiếp tục xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động phục vụ tốt nhất cho người dân và DN. Khuyến khích các sáng kiến, cải tiến rút ngắn quy trình, giảm số lượng và đơn giản hóa TTHC. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ cao (mức độ 3, mức độ 4) trong công tác tiếp nhận, xử lý các hồ sơ và trả kết quả giải quyết TTHC của cá nhân, tổ chức, nhất là các hồ sơ trong lĩnh vực hợp tác đầu tư. Theo dõi, giám sát việc giải quyết TTHC tại các cơ quan, đơn vị để kịp thời đôn đốc, bảo đảm tiến độ, đồng thời làm rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân trong việc giải quyết TTHC cho người dân và DN. Đồng thời, tạo thuận lợi, hỗ trợ DN khởi nghiệp, DN đổi mới sáng tạo; giảm chi phí đầu vào, chi phí cơ hội, chi phí không chính thức; đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại. Tổ chức thực hiện tốt kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, giao cho từng sở, ngành các chỉ số, mục tiêu cụ thể, nhất là những chỉ số còn yếu kém như: chỉ số về tiếp cận đất, đai, chỉ số về lao động… Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; phối hợp các bộ, ngành trung ương tháo gỡ vướng mắc trong quá trình thực thi những quy định của pháp luật liên quan đến đất đai. Thực hiện cơ chế phối hợp, gắn kết giữa DN với các trường đại học, trung tâm đào tạo nghề, cũng như thực hiện các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo nghề gắn với DN nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu lao động của các DN. Hỗ trợ, khuyến khích các DN đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới, ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến vào sản xuất. (Nhandan.com.vn 11/10, Phạm Hà) Về đầu trang

Đà Nẵng lấy ý kiến xây dựng Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị

Sáng 11-10, tại Trung tâm hành chính TP Đà Nẵng, UBND TP Đà Nẵng tổ chức Hội thảo đánh giá thực trạng tổ chức, hoạt động của chính quyền các cấp và đề xuất đổi mới theo mô hình chính quyền đô thị.

Tại hội thảo, các cơ quan, đơn vị của Trung ương và thành phố, các nhà khoa học, chuyên gia, cán bộ quản lý đã cùng thảo luận, trao đổi, đề xuất ý kiến xoay quanh các nội dung như: Thực trạng tổ chức, hoạt động chính quyền các cấp trong thời gian qua; cơ sở lý luận và thực tiễn, những thách thức và cơ hội, điều kiện thí điểm xây dựng chính quyền đô thị tại TP Đà Nẵng; định hướng, phương án, kiến nghị đổi mới về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của chính quyền đô thị thành phố theo Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị; tổ chức chính quyền trong điều kiện đô thị hóa trên địa bàn huyện Hòa Vang...

Với những ý kiến xác thực, tâm huyết, hội thảo nhằm tạo cơ sở để chính quyền TP Đà Nẵng tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện nội dung Đề án thí điểm mô hình chính quyền đô thị; từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp, phù hợp với đặc điểm, quy mô, tính chất đặc thù của đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương; nâng cao tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền đô thị; huy động mọi nguồn lực cho sự phát triển bền vững, văn minh và hiện đại. (Qdnd.vn 11/10, Thanh Thúy) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Sớm thí điểm dịch vụ công mức độ 4 trong lý lịch tư pháp

Sáng 10/10, Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc đã có buổi làm việc với Trung tâm Lý lịch tư pháp (LLTP) quốc gia để tháo gỡ một số khó khăn, vướng mắc trong công tác LLTP.

Báo cáo tại buổi làm việc, Giám đốc Trung tâm Hoàng Quốc Hùng cho biết, Trung tâm có 4 nhiệm vụ chính, bao gồm quản lý nhà nước về LLTP; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trong phạm vi cả nước; cấp Phiếu LLTP; tra cứu, xác minh thông tin LLTP theo yêu cầu của Sở Tư pháp phục vụ công tác cấp Phiếu LLTP. Trong đó, về công tác quản lý nhà nước thì nhiệm vụ mới nhất là Bộ luật Hình sự năm 2015 giao cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp Phiếu LLTP cho các trường hợp đương nhiên được xóa án tích.

Để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu, Trung tâm tiếp nhận thông tin từ khoảng 220 đầu mối. Lượng thông tin liên tục tăng, như năm 2011 tiếp nhận được hơn 10 nghìn thông tin thì từ tháng 5/2015, tiếp nhận trung bình hàng năm khoảng 222 nghìn thông tin. Sau rà soát, đã tích hợp, cập nhật vào cơ sở dữ liệu LLTP điện tử tại Trung tâm tại 537.778 thông tin được lập LLTP, hơn 500 nghìn thông tin giấy chứng nhận xong án phạt tù, giấy tha tù trước thời hạn có điều kiện… 

Bên cạnh đó, nếu trước năm 2014, trung bình mỗi năm Trung tâm cấp Phiếu cho khoảng 200 yêu cầu thì từ năm 2014 tăng lên rất nhiều, tính riêng năm 2018, đã thụ lý và cấp hơn 5.800 Phiếu LLTP.

Theo quy định của Luật LLTP và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, việc tra cứu, xác minh thông tin LLTP có trước ngày 1/7/2010 để cấp Phiếu LLTP thuộc trách nhiệm của lực lượng hồ sơ nghiệp vụ ngành Công an; đối với các thông tin có sau ngày 1/7/2010 thuộc trách nhiệm của ngành Tư pháp.

Trong thời gian qua, do cơ sở dữ liệu LLTP còn chưa đầy đủ nên về cơ bản, lực lượng hồ sơ nghiệp vụ ngành Công an đã tra cứu, xác minh hỗ trợ cho Trung tâm và Sở Tư pháp các tỉnh thành các thông tin cả trước và sau ngày 1/7/2010, bảo đảm sự ổn định trong công tác cấp Phiếu LLTP.

Tuy nhiên, gần đây, một số cơ quan hồ sơ nghiệp vụ có quan điểm lực lượng hồ sơ nghiệp vụ chỉ thực hiện việc tra cứu, xác minh đối với những thông tin có trước ngày 1/7/2010, không thực hiện việc tra cứu, xác minh thông tin có sau ngày 1/7/2010.

Trường hợp các cơ quan hồ sơ nghiệp vụ thực hiện nội dung này thì trong bối cảnh cơ sở dữ liệu LLTP vẫn còn thiếu thông tin, sẽ ảnh hưởng đến công tác cấp Phiếu LLTP, thời hạn cấp Phiếu không bảo đảm đúng quy định, nội dung Phiếu sẽ có khả năng không chính xác.

Ngoài ra, mặc dù Trung tâm đã có nhiều giải pháp trong công tác tra cứu, xác minh thông tin để hỗ trợ Sở Tư pháp cấp Phiếu LLTP, về cơ bản đã giải quyết được tình trạng chậm thời hạn cấp Phiếu LLTP. Nhưng vẫn còn khoảng 2% số lượng hồ sơ còn chậm thời hạn cấp Phiếu, gây bức xúc cho người dân và khó khăn cho Sở Tư pháp trước yêu cầu của cải cách thủ tục hành chính.

Số hồ sơ chậm thời hạn này chủ yếu là những trường hợp đã từng bị kết án, có thông tin về khởi tố, có hành vi vi phạm pháp luật… Sở Tư pháp phải tiếp tục xác minh thông tin về án tích của người đó. Nhưng các cơ quan được yêu cầu tra cứu, xác minh (Tòa án, Viện Kiểm sát, Thi hành án…) đều trả lời chậm, quá thời hạn yêu cầu, đặc biệt có nhiều cơ quan không trả lời hoặc trả lời không có nội dung cụ thể nên người dân phải chờ lâu, đi lại nhiều lần, ảnh hưởng đến chỉ số cải cách hành chính của địa phương.

Các Phó Giám đốc Trung tâm Đỗ Thúy Lan và Phạm Quang Đại báo cáo thêm một số vướng mắc. Cụ thể như dù đã có Chỉ thị 02 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp song tình trạng tồn, chưa nhập dữ liệu LLTP tại địa phương vẫn rất nhiều, cần sự quan tâm chỉ đạo hơn nữa của Lãnh đạo Bộ. Hay trong ứng dụng công nghệ thông tin, việc kết nối với ngân hàng, với dữ liệu dân cư đang bế tắc; không có nguồn nhân lực để nhập dữ liệu, cần cơ chế để tháo gỡ…

Đánh giá cao những kết quả tích cực đã đạt được, nhất là nỗ lực, sự chủ động trong phối hợp liên ngành của Trung tâm nhưng Thứ trưởng Nguyễn Khánh Ngọc cũng nhận thấy Trung tâm đang đảm nhiệm khối lượng công việc khổng lồ, áp lực nhiều. Trong bối cảnh nguồn lực hạn chế hiện nay, Thứ trưởng đề nghị tập thể lãnh đạo đơn vị phải nhận định thực trạng, xem xét những vấn đề cần xử lý thời gian tới.

Đặc biệt, Thứ trưởng lưu ý cần tập trung nghiên cứu sẽ tiếp tục làm nhiệm vụ nào, sẽ làm thêm nhiệm vụ nào hoặc không làm nhiệm vụ nào thì mới bảo đảm được vai trò quản lý, còn phân cấp, chuyển giao được thì mạnh dạn đề xuất. “Công tác LLTP đang phát triển nhưng khả năng của chúng ta có hạn, cần đặt ra bài toán đổi mới căn cơ” – Thứ trưởng nhấn mạnh.

Thống nhất với đề xuất nghiên cứu sửa đổi Luật LLTP vào năm 2021, Thứ trưởng yêu cầu khẩn trương tổng kết, đánh giá thi hành Luật, đề ra giải pháp đúng tầm, giúp giải phóng nguồn lực làm tốt công tác LLTP. Còn trước mắt, theo Thứ trưởng, cần xây dựng công văn gửi UBND tỉnh đề nghị địa phương quan tâm làm tốt, không để tồn dữ liệu, thông tin LLTP, riêng Trung tâm không được phép tồn.

Thứ trưởng cũng nêu rõ, đối với tra cứu, xác minh thông tin sau ngày 1/7/2010 thuộc trách nhiệm của ngành Tư pháp nên phải tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu – xương sống của công tác LLTP. Về ứng dụng công nghệ thông tin, cần phối hợp thực chất, hiệu quả với Cục Công nghệ thông tin và các đơn vị liên quan thuộc Bộ để triển khai thí điểm dịch vụ công mức độ 4 theo hướng có thể nhân rộng. (Baophapluat.vn 11/10, Hoàng Thư) Về đầu trang

Từ 10/10, thí điểm 6 thủ tục hành chính lĩnh vực y tế trên Cơ chế một cửa quốc gia

Theo thông báo của Tổng cục Hải quan, kể từ ngày 10/10/2019 đến hết ngày 31/12/2019, 6 thủ tục hành chính của Bộ Y tế thuộc lĩnh vực an toàn thực phẩm và môi trường y tế sẽ được triển khai thí điểm thông qua Cơ chế một cửa quốc gia.

Cụ thể, trong lĩnh vực an toàn thực phẩm có hai thủ tục hành chính được triển khai gồm: Kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu theo phương thức kiểm tra thông thường; kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm nhập khẩu theo phương thức kiểm tra chặt.

Về lĩnh vực môi trường y tế, 4 thủ tục hành chính được triển khai thí điểm trên Cơ chế một cửa quốc gia gồm: Cấp giấy phép nhập khẩu chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế nhập khẩu để nghiên cứu; Cấp giấy phép nhập khẩu chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế nhập khẩu phục vụ mục đích viện trợ; Cấp giấy phép nhập khẩu chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế nhập khẩu là quà biếu, cho, tặng; Cấp giấy phép nhập khẩu chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế do trên thị trường không có sản phẩm và phương pháp sử dụng phù hợp.

Tổng cục Hải quan cho biết, trong thời gian thí điểm, các Thông báo/Giấy phép nhập khẩu là bản giấy vẫn có giá trị đến hết thời hạn hiệu lực của giấy phép. Từ 1/1/2020, tất cả các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức thực hiện theo Cơ chế một cửa quốc gia.

Tổng cục Hải quan đề nghị các cục hải quan tỉnh, thành phố phân quyền sử dụng chức năng tra cứu giấy phép, kết quả xử lý trên hệ thống thông quan điện tử tập trung (E-Customs) đối với 6 thủ tục hành chính trên cho cán bộ hải quan. (Haiquanonline.com.vn 10/10, N.Linh) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Cán bộ 4.0 trong Chính phủ 4.0

Để nâng cao năng lực quản lý, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, bên cạnh yếu tố công nghệ, thể chế… việc hoàn thiện Chính phủ điện tử (CPĐT) trong cuộc Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 không thể không nhắc tới yếu tố con người.

Thời gian qua, ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan nhà nước là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu.

Nhận thức rõ tầm quan trọng này, Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ tư do Bộ Chính trị vừa ban hành đã nhấn mạnh đến việc “đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức”. Đó cũng là chủ trương đầu tiên trong 8 chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ 4 mà Bộ Chính trị đề ra.

Khi nhắc đến chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Bộ Chính trị yêu cầu phải “xây dựng cơ sở dữ liệu số của Chính phủ và các cấp chính quyền, tạo điều kiện để mọi công dân có thể cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của bộ máy nhà nước...”.

Cùng với xây dựng CPĐT, chính quyền điện tử, Thủ tướng cũng nhấn mạnh vấn đề bảo đảm an ninh, an toàn tuyệt đối.

Tại Thông báo số 338/TB-VPCP ngày 24/9/2019 của VPCP, Thủ tướng yêu cầu các Bộ Công an, Quốc phòng, Thông tin và Truyền thông, Ban Cơ yếu Chính phủ tăng cường chia sẻ thông tin, phối hợp chặt chẽ bảo đảm an toàn thông tin mạng cho các hệ thống thông tin CPĐT.

Giám sát nghiêm ngặt các DN cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin về vấn đề an toàn thông tin, an ninh mạng; không được để lộ, lọt dữ liệu, bí mật nhà nước...

Thời gian qua, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong hoạt động của các cơ quan nhà nước là nhiệm vụ được ưu tiên hàng đầu. Sự ra đời và đưa vào hoạt động Trục liên thông văn bản Quốc gia cũng như Hệ thống thông tin phục vụ họp và xử lý công việc của Chính phủ (e-Cabinet) đã thể hiện quyết tâm của một Chính phủ kiến tạo, hành động, liêm chính, hướng tới phục vụ người dân và doanh nghiệp (DN).

Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ (VPCP) Mai Tiến Dũng, việc sử dụng Trục liên thông văn bản quốc gia sẽ tiết kiệm mỗi năm 1.200 tỷ đồng. Trong đó, có 154 tỷ tiền giấy mực, 575 tỷ tiền bưu chính và chi phí thời gian 576 tỷ. “Đây là một bước đột phá mạnh mẽ vào tư duy giấy tờ, quan liêu kiểu cũ để tạo lập nền tảng cho những bước phát triển mới của CPĐT”, ông Dũng nhấn mạnh.

Chỉ hơn 3 tháng kể từ ngày khai trương Trục liên thông văn bản quốc gia, ngày 24/6/2019, hệ thống e-Cabinet chính thức được khai trương và đưa vào hoạt động với mục tiêu tạo môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch, giảm thời gian, tăng tính kịp thời, hiệu quả trong xử lý công việc.

Phát biểu tại Lễ khai trương hệ thống, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định việc xây dựng CPĐT là xu thế tất yếu, không ngoại trừ quốc gia nào, đồng thời nêu rõ: “Chúng ta muốn xây dựng thành công nền kinh tế số và xã hội số thì trước tiên chúng ta phải có Chính phủ số mà khởi đầu là e-Cabinet”.

Dù quyết tâm cao, hành động quyết liệt, tuy nhiên thực hiện CPĐT không phải không có vướng mắc, bất cập. Đó là vẫn thiếu hành lang pháp lý để quản lý, kết nối và chia sẻ dữ liệu; nhiều ứng dụng CNTT còn manh mún, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ giữa các bộ, ngành, địa phương...

“Chuyển sang một phương thức làm việc mới thì bao giờ cũng có nhiều điểm bỡ ngỡ, có khi còn e ngại và thấy khó khăn… Tuy nhiên, chúng ta phải quyết tâm làm cho được CPĐT”, Thủ tướng nói.

Theo ông Ngô Hải Phan, Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính (VPCP), việc triển khai CPĐT đã đạt nhiều kết quả nổi bật.

Các địa phương đã bắt đầu triển khai nền tảng chính quyền điện tử, hoàn thành việc kết nối với Trục liên thông văn bản Quốc gia theo hướng dẫn của VPCP để triển khai gửi, nhận văn bản điện tử.

Từ ngày 12/3 - 20/8/2019, đã có hơn 86.000 văn bản gửi và hơn 263.000 văn bản nhận qua trục liên thông. Đáng chú ý, hầu hết trong số 353 thủ tục hành chính đã được các địa phương triển khai cung cấp trực tuyến theo quyết định của Thủ tướng, 91 thủ tục đang được các địa phương triển khai… Một số địa phương có số lượng hồ sơ trực tuyến mức độ 3, 4 khá cao.

Đưa ra thông điệp này, Thủ tướng muốn các thành viên Chính phủ cũng như lãnh đạo các cơ quan chính quyền các cấp cần quán triệt tinh thần tiên phong, quyết liệt nhập cuộc, đổi mới mạnh mẽ. Điều đó cũng có nghĩa, muốn có Chính phủ 4.0  thì không thể thiếu cán bộ 4.0. Bản thân mỗi cán bộ phải không ngừng học hỏi và tự đổi mới chính mình để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Điều này một lần nữa được Nghị quyết 52 yêu cầu cụ thể: “Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của cuộc CMCN lần thứ tư; chuẩn hoá và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp”.

Đặc biệt, thời gian gần đây, trong các cuộc họp với các bộ, ngành, địa phương về triển khai CPĐT và cải cách thủ tục hành chính, ông Dũng đã nhiều lần nhắc nhở khi không ít cán bộ, công chức vẫn còn muốn giữ thói quen làm việc giấy tờ và đưa ra nhiều lý do để chần chừ trong ứng dụng CNTT. Chính vì thế ông Dũng cho rằng, cải cách đầu tiên phải thay đổi là tư duy, nhận thức của mỗi cán bộ, công chức nhà nước. 

Mới đây, tại Diễn đàn cấp cao và Triển lãm quốc tế về công nghiệp 4.0 năm 2019, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: “Ngày hôm nay chúng ta đã dự kiến là thay đổi những mô hình kinh doanh mới, ngành nghề mới, nhưng đó là ngày hôm nay; còn ngày mai, với những dự báo của chúng ta ngày hôm nay chưa chắc đã đúng. Vậy thì cuối cùng phải có con người để sẵn sàng tận dụng được các thời cơ, tránh những rủi ro và đặc biệt là để sẵn sàng thích ứng, có những giải pháp linh hoạt để thay đổi mà ngày hôm nay chúng ta không lường được”.

Cùng quan điểm, ông Nguyễn Xuân Thắng, Bí thư Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định: “Các đồng chí nói đến công nghệ  rất quan trọng, nói đến thể chế rất quyết định, nhưng con người là quyết định nhất. Cho nên chúng ta phải có một đội ngũ đủ sẵn sàng để tiếp cận, nắm bắt, vận dụng chuyển giao và đi trước một số lĩnh vực”. (Baophapluat.vn 11/10, Vân Anh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Chuyện khó tin nhất

Trong nhiều câu chuyện đáng bàn hiện nay, có những chuyện đáng tin, có những chuyện không đáng tin. Chuyện cán bộ thuộc diện phải kê khai tài sản (KKTS) là khó tin nhất. Có thể hiểu như thế nào nhỉ? Một là, cán bộ có chức có quyền đã quá “nêu gương” trong KKTS; hai là, đã quá gian dối trong KKTS. Không ai mong muốn khả năng thứ 2 xảy ra...

Thanh tra Chính phủ vừa hoàn tất báo cáo công tác phòng chống tham nhũng năm 2019 trình Chính phủ để gửi tới kỳ họp Quốc hội sắp tới. Theo đó, số người đã KKTS, thu nhập trong năm 2019 là trên 1,08 triệu người, đạt tỷ lệ 99,9% so với tổng số người phải kê khai; có 46 người thuộc diện kê khai được xác minh tài sản, thu nhập.

Qua việc xác minh của cơ quan có thẩm quyền phát hiện 10 trường hợp vi phạm và đến nay đã xử lý kỷ luật 8 trường hợp, đang xem xét xử lý kỷ luật 2 trường hợp. Tức là, phát hiện ra 1% vi phạm. Con số này cũng như mọi năm, ở báo cáo cấp Trung ương và một số địa phương.

Ví dụ, năm 2018 hơn một triệu người KKTS sản chỉ phát hiện 6 trường hợp vi phạm. Ngay tại Hà Nội, năm 2018, qua báo cáo của trên 34.300 người, chỉ phát hiện có một trường hợp kê khai không trung thực.

Trong nhiều câu chuyện đáng bàn hiện nay, có những chuyện đáng tin, có những chuyện không đáng tin. Chuyện cán bộ thuộc diện phải KKTS là khó tin nhất. Có thể hiểu như thế nào nhỉ? Một là, cán bộ có chức có quyền đã quá “nêu gương” trong KKTS; hai là, đã quá gian dối trong KKTS. Không ai mong muốn khả năng thứ 2 xảy ra.

Xây dựng ra cả một đạo luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) và đã được sửa đi sửa lại nhiều lần, trong đó một quy định yêu cầu cả triệu cán bộ, công chức phải kê khai tài sản, thu nhập để kiểm tra, xác minh hàng năm, khi có biến động tài sản, nếu anh không giải trình được nguồn gốc thì đó chính là dấu hiệu tham nhũng. Nhưng lại bỏ công cụ đó đi, không dùng đến, hoặc dùng đến nhưng rất đối phó, làm cho có thì PCTN thế nào?

Phải thừa nhận rằng, công tác PCTN những năm qua đã có chuyển biến tích cực, nhiều vụ vi phạm, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước được phát hiện và xử lý nghiêm minh, đã thể hiện nhất quán quan điểm “nói đi đôi với làm”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

Hiệu quả là tiếp tục tạo được sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, được dư luận đánh giá cao, củng cố lòng tin của nhân dân vào quyết tâm PCTN của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, còn một số hạn chế, tồn tại trong công tác PCTN vẫn chưa có giải pháp để khắc phục triệt để. Trong các hạn chế đó, bi hài nhất là KKTS.

Nhiều cán bộ có chức, có quyền trong bộ máy nhà nước giàu có nhưng khi KKTS ai cũng nghèo. Nguyên nhân thì ai cũng biết.

Khi sửa đổi Luật PCTN (sửa đổi) năm 2018 cơ quan lập pháp đã không thống nhất được nội dung xử lý tài sản không chứng minh được nguồn gốc; tuy nhiên yêu cầu PCTN cho thấy, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung tội danh làm giàu bất chính, thông qua việc hình sự hoá một số hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng trong việc kê khai và kiểm soát việc KKTS. Bởi rất khó chờ “nêu gương”. (Baophapluat.vn 11/10, Ngô Đức Hành) Về đầu trang

Lấp 'lỗ hổng' công tác cán bộ: Rõ trách nhiệm, khó làm sai

Quy định 205-QĐ/TW đã xác định rất cụ thể trách nhiệm không chỉ của người có thẩm quyền trong công tác tổ chức cán bộ mà cả nhân sự được đề xuất.

Công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và là “khâu then chốt” của “nhiệm vụ then chốt” vì “cán bộ là gốc của công việc” và “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém.”

Việc tìm kiếm, lựa chọn được những cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng công việc được giao, hay nói cách khác là tìm đúng người trao đúng việc, là khâu quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, đòi hỏi người làm công tác cán bộ phải thật minh bạch, công tâm, khách quan.

Thế nhưng đâu đó trong chuỗi hoạt động quan trọng này đã nảy sinh những toan tính, vụ lợi, sử dụng quyền được trao để đạt được mục đích cho riêng mình.

Việc lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ đang diễn ra một cách tinh vi, phức tạp và không dễ nhận biết.

Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ ra khá đầy đủ, rõ ràng thực trạng này: “Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận.

Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực.”

Để xảy ra tình trạng lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ do nhiều nguyên nhân, mà một trong số đó là do còn những thiếu sót, hạn chế đối với việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, do chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hữu hiệu.

Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm.”

Công tác cán bộ của Đảng gồm nhiều nội dung và nhiều khâu, từ nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm đến khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ.

Tất cả các khâu của công tác cán bộ đều có quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách."

Tuy nhiên, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" chưa được xác định một cách rõ ràng, rành mạch cơ chế trách nhiệm đã dẫn đến thực tế ở không ít nơi khi xảy ra những câu chuyện trong công tác cán bộ, cần xác định căn nguyên để xử lý thì có sự né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cá nhân, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm, tất cả đổ lỗi cho tập thể.

Trong bố trí sử dụng cán bộ có tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền hạn, lợi dụng tập thể để hợp thức hóa ý chí của một người hoặc một nhóm người, từ đó làm cho những quyết định về cán bộ và công tác cán bộ thiếu công tâm, khách quan, bị sai lệch.

Chính vì vậy, việc lựa chọn, bố trí cán bộ không còn chính xác, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Điểm lại hàng loạt kết luận thanh tra của Bộ Nội vụ từ đầu năm 2019 đến nay, có một thực tế là tất cả các bộ, ngành, địa phương được thanh tra đều phát hiện ra sai sót trong công tác tuyển dụng hoặc sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, quản lý viên chức và hợp đồng lao động.

Kiểm tra tại Tổng cục Thuế và 17 đơn vị thuộc, trực thuộc Tổng cục, Thanh tra Bộ Nội vụ công bố còn 141 công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng một hoặc một số điều kiện, tiêu chuẩn đối với chức vụ hiện giữ...

Mới đây nhất, qua kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý biên chế công chức; tuyển dụng, nâng ngạch công chức; bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý; số lượng cấp phó từ đầu năm 2016 đến hết tháng 3/2019, thuộc thẩm quyền quản lý của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Giang, Thanh tra Bộ Nội vụ chỉ ra 417 hồ sơ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại.

Một số trường hợp tại thời điểm bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn; việc thực hiện quy trình bổ nhiệm lại còn chậm, chưa bảo đảm theo đúng quy định.

Trước thực trạng xảy ra nhiều vi phạm trong công tác cán bộ, trong nhiều văn bản, Đảng ta đã yêu cầu phải quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ.

Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XII) chỉ rõ "các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.

Tại Hội nghị lần thứ 7 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu "Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ."

Để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, bên cạnh việc nêu cao trách nhiệm người đứng đầu, cần cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân trong mỗi vụ việc, tránh để trách nhiệm cá nhân “lẩn” trong trách nhiệm tập thể.

Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, đã cụ thể hóa, quy rõ trách nhiệm trong thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước.

Cụ thể, đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị, Khoản 1 Điều 3 Quy định 205-QĐ/TW nêu rõ: "Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những sai sót và chịu trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm được giao."

Đối với thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị, điều 4, khoản 1 quy định: "Thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong công tác cán bộ. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự mà cá nhân được phân công theo dõi, quản lý. Thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, được bảo lưu ý kiến."

Điều 4, khoản 3 quy định: "Chịu trách nhiệm cá nhân trong việc đề xuất nhân sự và trong việc nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền phụ trách.

Với tư cách là thành viên, chịu trách nhiệm liên đới đối với từng quyết định không đúng về công tác cán bộ của tập thể lãnh đạo, trừ trường hợp đã có ý kiến không đồng ý trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ và báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản (hoặc ý kiến đã được ghi nhận trong biên bản cuộc họp).

Khoản 4 ghi rõ: "Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách."

Tại Điều 5 quy định đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị, khoản 3 quy định "Đề xuất rõ ràng, cụ thể về yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu, điều kiện, quy trình giới thiệu, đánh giá nhân sự. Kết luận đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan những nội dung thảo luận và chịu trách nhiệm về kết luận của mình khi chủ trì hội nghị về công tác cán bộ."

Điều 6 quy định: Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện công tác cán bộ ở các cấp, chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo đối với những đề xuất, nhận xét, đánh giá, thẩm định nhân sự, hồ sơ nhân sự.

Cán bộ tham mưu, đề xuất phải chịu trách nhiệm về đề xuất của mình và tính chính xác, kịp thời của hồ sơ nhân sự.

Đặc biệt, Quy định đã dành hẳn một điều để quy định rõ trách nhiệm của nhân sự, đó là báo cáo kịp thời, đầy đủ, chính xác, rõ ràng hồ sơ lý lịch đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và kê khai trung thực tài sản, thu nhập theo quy định; tự giác không ứng cử, không nhận đề cử, quy hoạch, bổ nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, khen thưởng, chế độ, chính sách nếu bản thân thấy không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, uy tín, năng lực, sức khỏe; nghiêm cấm việc trực tiếp hoặc thông qua người khác, phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội để phát tán thông tin không đúng sự thật, tố cáo sai sự thật nhằm đề cao bản thân, hạ thấp uy tín người khác trong công tác cán bộ.

Đồng thời, Điều 10 của Quy định 205-QĐ/TW cũng chỉ rõ các hành vi chạy chức, chạy quyền cần nghiêm cấm.

Quy định 205-QĐ/TW đã xác định rất cụ thể trách nhiệm không chỉ của người có thẩm quyền trong công tác tổ chức cán bộ mà cả nhân sự được đề xuất.

Đây là việc làm rất cần thiết, minh bạch quá trình thực hiện quy trình cán bộ, phân định rõ ràng quyền đi cùng với ràng buộc trách nhiệm trong việc giới thiệu đề xuất, thẩm định đối với tập thể và cá nhân.

Quy định rõ như vậy trước hết sẽ nâng cao tính trách nhiệm của cá nhân và tập thể đối với các đề xuất, quyết định trong công tác cán bộ, đồng thời là căn cứ, cơ sở để xử lý nếu để xảy ra vi phạm./. (VietnamPlus.vn 11/10, Quỳnh Hoa) Về đầu trang

Rõ trách nhiệm, khó làm sai

Công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng và là “khâu then chốt” của “nhiệm vụ then chốt” vì “cán bộ là gốc của công việc” và “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.

Việc tìm kiếm, lựa chọn được những cán bộ đủ năng lực, phẩm chất, đáp ứng công việc được giao, hay nói cách khác là tìm đúng người trao đúng việc, là khâu quan trọng trong công tác cán bộ của Đảng, đòi hỏi người làm công tác cán bộ phải thật minh bạch, công tâm, khách quan. Thế nhưng đâu đó trong chuỗi hoạt động quan trọng này đã nảy sinh những toan tính, vụ lợi, sử dụng quyền được trao để đạt được mục đích cho riêng mình.

Việc lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ đang diễn ra một cách tinh vi, phức tạp và không dễ nhận biết. Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ ra khá đầy đủ, rõ ràng thực trạng này: “Việc sắp xếp, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử vẫn còn tình trạng đúng quy trình nhưng chưa đúng người, đúng việc. Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận. Công tác tuyển dụng, thi nâng ngạch công chức, viên chức còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa cao, chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực”.

Để xảy ra tình trạng lạm dụng quyền lực trong công tác cán bộ do nhiều nguyên nhân, mà một trong số đó là do còn những thiếu sót, hạn chế đối với việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, do chưa có cơ chế kiểm soát quyền lực một cách hữu hiệu. Đảng ta đã thẳng thắn thừa nhận: “Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hữu hiệu để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Thiếu chặt chẽ, hiệu quả trong phối hợp kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm”.

Công tác cán bộ của Đảng gồm nhiều nội dung và nhiều khâu, từ nhận xét, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bổ nhiệm đến khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với cán bộ. Tất cả các khâu của công tác cán bộ đều có quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách". Tuy nhiên, nguyên tắc "tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách" chưa được xác định một cách rõ ràng, rành mạch cơ chế trách nhiệm đã dẫn đến thực tế ở không ít nơi khi xảy ra những câu chuyện trong công tác cán bộ, cần xác định căn nguyên để xử lý thì có sự né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cá nhân, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm, tất cả đổ lỗi cho tập thể. Trong bố trí sử dụng cán bộ có tình trạng độc đoán, chuyên quyền, lạm dụng quyền hạn, lợi dụng tập thể để hợp thức hóa ý chí của một người hoặc một nhóm người, từ đó làm cho những quyết định về cán bộ và công tác cán bộ thiếu công tâm, khách quan, bị sai lệch. Chính vì vậy, việc lựa chọn, bố trí cán bộ không còn chính xác, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao.

Điểm lại hàng loạt kết luận thanh tra của Bộ Nội vụ từ đầu năm 2019 đến nay, có một thực tế là tất cả các bộ, ngành, địa phương được thanh tra đều phát hiện ra sai sót trong công tác tuyển dụng hoặc sử dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, quản lý viên chức và hợp đồng lao động. Kiểm tra tại Tổng cục Thuế và 17 đơn vị thuộc, trực thuộc Tổng cục, Thanh tra Bộ Nội vụ công bố còn 141 công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng một hoặc một số điều kiện, tiêu chuẩn đối với chức vụ hiện giữ... Mới đây nhất, qua kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý biên chế công chức; tuyển dụng, nâng ngạch công chức; bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý; số lượng cấp phó từ đầu năm 2016 đến hết tháng 3/2019, thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh Bắc Giang, Thanh tra Bộ Nội vụ chỉ ra 417 hồ sơ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại. Một số trường hợp tại thời điểm bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn; việc thực hiện quy trình bổ nhiệm lại còn chậm, chưa bảo đảm theo đúng quy định.

Trước thực trạng xảy ra nhiều vi phạm trong công tác cán bộ, trong nhiều văn bản, Đảng ta đã yêu cầu phải quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Hội nghị Trung ương 4 (Khóa XII) chỉ rõ "các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Tại Hội nghị lần thứ 7 (khóa XII), Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu "Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm quy trình công tác cán bộ. Xác định rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu trong công tác cán bộ".

Để hạn chế, đi đến chấm dứt tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, bên cạnh việc nêu cao trách nhiệm người đứng đầu, cần cụ thể hóa trách nhiệm của từng cá nhân trong mỗi vụ việc, tránh để trách nhiệm cá nhân “lẩn” trong trách nhiệm tập thể. Quy định số 205-QĐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, đã cụ thể hóa, quy rõ trách nhiệm trong thực hiện kiểm soát quyền lực nhà nước.

Cụ thể, đối với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị, Khoản 1 Điều 3 Quy định 205-QĐ/TW nêu rõ: "Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các nguyên tắc, quy định, quy chế, quy trình về công tác cán bộ; thường xuyên tự kiểm tra, kịp thời chấn chỉnh những sai sót và chịu trách nhiệm về những hạn chế, khuyết điểm trong công tác cán bộ thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm được giao."

Đối với thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị, điều 4, khoản 1 quy định: "Thực hiện đúng, đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của mình trong công tác cán bộ. Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực đến cấp có thẩm quyền những nội dung có liên quan đến nhân sự mà cá nhân được phân công theo dõi, quản lý. Thể hiện rõ chính kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình, được bảo lưu ý kiến." Điều 4, khoản 3 quy định: "Chịu trách nhiệm cá nhân trong việc đề xuất nhân sự và trong việc nhận xét, đánh giá, xác nhận hồ sơ, lý lịch, các giấy tờ có liên quan của nhân sự thuộc thẩm quyền phụ trách. Với tư cách là thành viên, chịu trách nhiệm liên đới đối với từng quyết định không đúng về công tác cán bộ của tập thể lãnh đạo, trừ trường hợp đã có ý kiến không đồng ý trong quá trình thực hiện quy trình công tác cán bộ và báo cáo cấp có thẩm quyền bằng văn bản (hoặc ý kiến đã được ghi nhận trong biên bản cuộc họp). Khoản 4 ghi rõ: "Chịu trách nhiệm khi để xảy ra tiêu cực, sai phạm trong công tác cán bộ ở địa phương, cơ quan, đơn vị, lĩnh vực thuộc thẩm quyền được giao quản lý, phụ trách." Tại Điều 5 quy định đối với người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị, khoản 3 quy định "Đề xuất rõ ràng, cụ thể về yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu, điều kiện, quy trình giới thiệu, đánh giá nhân sự. Kết luận đầy đủ, chính xác, trung thực, khách quan những nội dung thảo luận và chịu trách nhiệm về kết luận của mình khi chủ trì hội nghị về công tác cán bộ." Điều 6 quy định: Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện công tác cán bộ ở các cấp, chịu trách nhiệm trước cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo đối với những đề xuất, nhận xét, đánh giá, thẩm định nhân sự, hồ sơ nhân sự.

Cán bộ tham mưu, đề xuất phải chịu trách nhiệm về đề xuất của mình và tính chính xác, kịp thời của hồ sơ nhân sự. Đặc biệt, Quy định đã dành hẳn một điều để quy định rõ trách nhiệm của nhân sự, đó là báo cáo kịp thời, đầy đủ, chính xác, rõ ràng hồ sơ lý lịch đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức và kê khai trung thực tài sản, thu nhập theo quy định; tự giác không ứng cử, không nhận đề cử, quy hoạch, bổ nhiệm, phong, thăng cấp bậc hàm, khen thưởng, chế độ, chính sách nếu bản thân thấy không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, uy tín, năng lực, sức khỏe; nghiêm cấm việc trực tiếp hoặc thông qua người khác, phương tiện truyền thông đại chúng, mạng xã hội để phát tán thông tin không đúng sự thật, tố cáo sai sự thật nhằm đề cao bản thân, hạ thấp uy tín người khác trong công tác cán bộ. Đồng thời, Điều 10 của Quy định 205-QĐ/TW cũng chỉ rõ các hành vi chạy chức, chạy quyền cần nghiêm cấm.

Quy định 205-QĐ/TW đã xác định rất cụ thể trách nhiệm không chỉ của người có thẩm quyền trong công tác tổ chức cán bộ mà cả nhân sự được đề xuất. Đây là việc làm rất cần thiết, minh bạch quá trình thực hiện quy trình cán bộ, phân định rõ ràng quyền đi cùng với ràng buộc trách nhiệm trong việc giới thiệu đề xuất, thẩm định đối với tập thể và cá nhân. Quy định rõ như vậy trước hết sẽ nâng cao tính trách nhiệm của cá nhân và tập thể đối với các đề xuất, quyết định trong công tác cán bộ, đồng thời là căn cứ, cơ sở để xử lý nếu để xảy ra vi phạm./. (Tuyengiao.vn 11/10) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.036.879 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này