Bản tin cải cách hành chính ngày 15/10/2018

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 1

1.  Cải cách hành chính tại TPHCM: Đề cao trách nhiệm người đứng đầu. 1

2.  Người dân được lợi gì từ Chính quyền điện tử TP HCM?. 3

3.  Thái Bình thí điểm hợp nhất, kiêm nhiệm nhiều chức danh. 5

4.  Tây Ninh: Đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực tài nguyên và môi trường. 5

5.  Quảng Ninh đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số, đảm bảo an toàn bảo mật cho trao đổi văn bản. 6

LĨNH VỰC CẢI CÁCH.. 7

6.  Ngân hàng Nhà nước quy định mới về chế độ báo cáo định kỳ. 7

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH.. 8

7.  Phát hiện, xử lý 277 vụ tham nhũng, chức vụ trong 8 tháng. 8

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH.. 10

8.  Khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư sốt ruột 10

9.  Cần môi trường kinh doanh thông thoáng. 11


CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Cải cách hành chính tại TPHCM: Đề cao trách nhiệm người đứng đầu

Thừa nhận công tác cải cách hành chính từ đầu năm đến nay chưa thật sự đột phá, UBND TP Hồ Chí Minh sẽ giao việc cụ thể, sản phẩm cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị. Căn cứ vào mức độ hoàn thành nhiệm vụ để đánh giá trách nhiệm người đứng đầu. Đây được xem là biện pháp mạnh nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong công tác cải cách hành chính thời gian tới.

Có mặt tại bộ phận "một cửa" thuộc Phòng Kinh tế (UBND quận 3) vào lúc 7h30 để đăng ký hộ kinh doanh cá thể, anh Nguyễn Văn Thanh bất ngờ khi nghe cán bộ tiếp nhận hồ sơ dặn: "Nếu anh muốn nhận kết quả ngay thì chờ đến 11h30 sẽ có kết quả cho hồ sơ của anh". Theo anh Thanh, việc giải quyết hồ sơ hành chính nhanh gọn như trên là điều mà bất kỳ ai đến cơ quan công quyền đều mong muốn, nên dù bận công việc anh vẫn ở lại để nhận kết quả.

Thực tế cho thấy, đây là chuyển biến thật sự rõ nét trong công tác cải cách hành chính của UBND quận 3. Tuy nhiên, sự chuyển biến này lại chưa đồng bộ ở tất cả các quận, huyện trên địa bàn thành phố. Các quận, huyện sử dụng dịch vụ công trực tuyến đạt tỷ lệ khác nhau.

Cụ thể, trong 9 tháng năm 2018, tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của quận Bình Tân đạt 47%, quận Bình Thạnh đạt 45%, nhưng cũng có quận, huyện chỉ đạt vài phần trăm, kéo tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến trung bình 24 quận, huyện chỉ đạt 11%. Đây là tỷ lệ tương đối thấp so với yêu cầu đặt ra của UBND thành phố.

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát do Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hồ Chí Minh thực hiện ở một số sở, ngành và quận, huyện để "đo lường" sự hài lòng của người dân đối với công tác cải cách hành chính tại cơ quan công quyền cho thấy, có tới 50% người dân được khảo sát cho biết chỉ mới "hài lòng ở mức độ vừa phải hoặc chưa hài lòng". Trong khi đó, dù hồ sơ trễ hẹn còn nhiều, có quận trễ hẹn hàng nghìn hồ sơ nhưng từ đầu năm đến nay chỉ thực hiện được 6 thư xin lỗi.

Trung bình mỗi năm TP Hồ Chí Minh phải giải quyết tới 14 triệu hồ sơ hành chính các loại. Do đó, công tác cải cách, tinh giản thủ tục hành chính và áp dụng dịch vụ công trực tuyến là yêu cầu bắt buộc tại mỗi cơ quan, đơn vị. Hiện thành phố đã thực hiện được 655 thủ tục hành chính công trực tuyến mức độ 3 và 112 thủ tục hành chính công trực tuyến mức độ 4. So với năm 2017, tỷ lệ hồ sơ hành chính sử dụng dịch vụ công trực tuyến đã tăng từ 32% lên 38%.

Theo Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến, một trong những nguyên nhân khiến công tác cải cách hành chính của thành phố chưa có sự chuyển biến đột phá và đồng bộ là do người đứng đầu của nhiều cơ quan, đơn vị không quyết liệt trong chỉ đạo, đôn đốc và kiểm soát quy trình công tác của cấp dưới. Nhiều cơ quan, đơn vị còn lơ là, buông lỏng việc sửa đổi, tinh giản quy trình xử lý thủ tục hành chính.

Tại hội nghị giao ban trực tuyến sơ kết 9 tháng năm 2018 về thực hiện công tác cải cách hành chính diễn ra mới đây, Phó Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Trần Vĩnh Tuyến nhận định, nhiều lãnh đạo sở, ngành, quận, huyện chưa nắm vững quy trình công tác nên thường phó mặc cho cấp dưới xử lý mà không kiểm tra lại. Thủ trưởng không ít cơ quan, đơn vị không quyết liệt chỉ đạo đẩy mạnh sử dụng dịch vụ công trực tuyến, không chủ động học hỏi, áp dụng mô hình cải cách hành chính đã thành công ở các đơn vị khác.

Qua đó, ông Trần Vĩnh Tuyến cho biết, thành phố sẽ sớm đưa ra bộ tiêu chí đánh giá trách nhiệm người đứng đầu. Theo đó, ai có một trong các biểu hiện trên là chưa làm tròn trách nhiệm; từ hai biểu hiện trở lên sẽ bị xem xét trách nhiệm người đứng đầu; mắc phải 50% các khuyết điểm đã nêu sẽ bị xem xét xử lý và có thể bị luân chuyển công tác.

Trao đổi với phóng viên Báo Hànộimới, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong cho rằng, để cải cách hành chính đạt kết quả cao thì việc phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành là rất quan trọng. Cùng với đó là hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các địa phương.

"UBND thành phố đang chờ Nghị định thay thế Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 4-4-2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Nghị định thay thế Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 5-5-2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh để tinh giản bộ máy của nhiều cơ quan, đơn vị như sắp xếp lại ban quản lý các dự án, ban quản lý các khu đô thị", ông Nguyễn Thành Phong cho hay.

Liên quan đến trách nhiệm người đứng đầu, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh Nguyễn Thành Phong cho biết, thành phố đã giao việc cho từng sở, ngành, quận, huyện trong một quý phải làm những gì, sản phẩm nào. Bản thân các sở, ngành, quận, huyện khi duyệt kế hoạch công tác cũng phải cụ thể, rõ người, rõ việc. Đơn vị nào không hoàn thành sản phẩm cụ thể của quý đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm trước lãnh đạo thành phố.

"Chỉ có thể thông qua sản phẩm cụ thể mới đánh giá được hiệu quả công việc và đây cũng là cơ sở để truy trách nhiệm của người đứng đầu", ông Nguyễn Thành Phong nhấn mạnh. (Hà Nội Mới 15/10, Nguyễn Lê)Về đầu trang

Người dân được lợi gì từ Chính quyền điện tử TP HCM?

Đề án Xây dựng Kiến trúc Chính quyền điện tử (CQĐT) vừa được UBND TP HCM thông qua. Để làm rõ việc người dân sẽ được hưởng lợi ích gì từ động thái này của thành phố, bà Võ Thị Trung Trinh (Phó giám đốc Sở Thông tin – Truyền thông) có cuộc trao đổi với VnExpress.

- Vì sao TP HCM phải xây dựng Kiến trúc CQĐT?

- Khung kiến trúc tổng thể này nói bằng một từ dân dã là: Quy hoạch về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) mà các đơn vị phải tuân thủ theo. Nó giúp đảm bảo các kế hoạch đầu tư về CNTT và truyền thông của cơ quan chính quyền đạt hiệu quả đúng mục tiêu đề ra; đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân, doanh nghiệp. CQĐT còn giúp thành phố tránh lãng phí, trùng lặp và tiết kiệm ngân sách. Quan trọng nhất, đây là cơ sở phục vụ định hướng xây dựng TP HCM thành đô thị thông minh.

Việc xây dựng Kiến trúc CQĐT không chỉ là ban hành cái khung, bởi có nhiều tỉnh thành làm kiến trúc công khai xong nhưng không thực thi. Trong khi đó, câu chuyện của TP HCM khác do có quy mô rất rộng. Nhưng hướng đi của tương lai là làm sao có những tiện ích của đô thị thông minh mà trong những tiện ích đó có thể khai thác vấn đề trí tuệ nhân tạo.

- Việc xây dựng Kiến trúc CQĐT mang lại lợi ích gì cho người dân?

- Đây chính là câu chuyện TP HCM hướng đến nhiều nhất. Bản chất của Kiến trúc CQĐT là đảm bảo đồng bộ trong công tác ứng dụng CNTT của thành phố. Để từ đó giải quyết tồn tại trong vấn đề cải cách hành chính, hướng tới việc cung cấp dịch vụ công tốt hơn, công khai, minh bạch... mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp.

Chắc chắn ai cũng ít nhất một lần trong đời đi làm thủ tục hành chính, phải đăng ký tên tuổi, số chứng minh nhân dân, địa chỉ, hộ khẩu... rất nhiêu khê. Nếu chúng ta làm tốt được cơ sở dữ liệu này, khi người dân đến cơ quan hành chính chỉ cần đưa số chứng minh nhân dân, có mã công dân thì những thông tin cơ bản đã có sẵn. Tôi nghĩ rằng nó tiết kiệm một số chi phí đáng kể - là lợi ích hàng đầu cho người dân.

Những định hướng lớn, mang đến lợi ích cho người dân và doanh nghiệp sẽ được thành phố công khai, chia sẻ, nếu không thì khác gì đó là bài toán mù mà hộp đen là gì thì không ai biết.

TP HCM là thị trường rất lớn, khi công khai khung Kiến trúc CQĐT các doanh nghiệp sẽ biết đến. Ông lớn sẽ nhìn thấy sân chơi lớn, ông nhỏ cũng sẽ nhìn thấy sân chơi của mình ở đâu trong câu chuyện lợi ích doạnh nghiệp.

- Ứng dụng CNTT vào Xây dựng CQĐT có đảm bảo được thủ tục hành chính của nhà nước sẽ tốt hơn dịch vụ công khác?

- Đối với doanh nghiệp, tôi cho rằng khi công tác ứng dụng CNTT của thành phố tốt, CQĐT phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn thì các thủ tục hành chính của nhà nước sẽ tốt hơn. Vấn đề quan trọng là, ứng dụng CNTT đặc thù hơn những ngành khác trong việc đảm bảo tính công khai, minh bạch. Cụ thể, sau khi làm dịch vụ công trực tuyến xong thì người dân có thể kiểm tra thông tin rất dễ dàng, giám sát đảm bảo.

Việc xây dựng CQĐT giúp chúng ta tận dụng công nghệ mới, cơ sở dữ liệu lớn sẽ có các kho dữ liệu dùng chung. Dữ liệu mở nên chính quyền ngày càng cung cấp được nhiều dịch vụ công tốt hơn cho người dân.

Nếu chính quyền không có thông tin, không có dữ liệu làm sao biết được người dân quan tâm đến lĩnh vực gì, cần cái gì để phục vụ. Chúng ta đang cá nhân hóa người sử dụng, vậy nên TP HCM sắp tới sẽ đi theo hướng Chính quyền điện tử đạt đến mức nếu tôi phục vụ bạn rồi thì tôi sẽ cá nhân hóa luôn.

- Việc Xây dựng Kiến trúc CQĐT từ đề án đến hiện thực khoảng cách là bao xa?

- Tôi lấy ví dụ, bây giờ người dân phát hiện ra cống rãnh bị hư, họ chỉ cần chụp hình gửi cho các đơn vị phản ánh, ngay lập tức đơn vị sẽ nhận được và kịp thời xử lý. Thời gian từ lúc phát hiện cho đến lúc phản ảnh đến đơn vị liên quan chỉ tính bằng giây.

Từ giờ đến cuối năm Sở Thông tin - Truyền thông sẽ phổ biến khung kiến trúc rộng rãi và làm việc với các quận huyện, sở ngành nhằm xây dựng cho họ kế hoạch cụ thể theo những nội dung lớn mà thành phố đang thực hiện. Từ năm 2019 sẽ triển khai làm những nội dung như quản lý văn bản điều hành.

Ngoài ra, chúng tôi chú ý hai nội dung: Hệ thống một cửa điện tử liên thông theo Nghị định 61 và hệ thống quản lý văn bản điều hành điện tử theo quy định 28. (VnExpress.net 15/10, Dương Trang)Về đầu trang

Thái Bình thí điểm hợp nhất, kiêm nhiệm nhiều chức danh

Thường trực Tỉnh ủy Thái Bình vừa tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy để thảo luận về một số nội dung quan trọng.

Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe tờ trình về việc thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả...

Phát biểu kết luận, ông Nguyễn Hồng Diên, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Thái Bình thống nhất việc thí điểm kiêm nhiệm chức danh người đứng đầu cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn của chính quyền có chức năng, nhiệm vụ tương đồng ở cấp huyện.

Theo đó, huyện Đông Hưng và huyện Hưng Hà sẽ thực hiện thí điểm kiêm nhiệm chức danh Trưởng ban Tổ chức Huyện ủy đồng thời là Trưởng phòng Nội vụ; huyện Quỳnh Phụ và huyện Tiền Hải sẽ thực hiện thí điểm kiêm nhiệm chức danh Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy đồng thời là Chánh Thanh tra.

Về việc thí điểm hợp nhất cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND có chức năng, nhiệm vụ tương đồng ở cấp huyện, Thái Bình sẽ thí điểm hợp nhất Văn phòng Huyện ủy với Văn phòng HĐND và UBND huyện Thái Thụy.

Thống nhất thí điểm kiêm nhiệm chức danh Trưởng ban Dân vận cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban MTTQ cấp huyện ở tất cả các huyện, thành phố, bắt đầu thực hiện từ nay đến tháng 5/2019. (Tiền Phong 15/10, Thành Nam)Về đầu trang

Tây Ninh: Đơn giản hóa thủ tục hành chính lĩnh vực tài nguyên và môi trường

UBND tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định thông qua phương án đơn giản hóa 4 nhóm thủ tục hành chính (TTHC) lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

Chẳng hạn, đề nghị rút ngắn thời gian giải quyết TTHC từ 115 ngày xuống còn 37 ngày làm việc đối với nhóm TTHC cấp giấy phép khai thác khoáng sản; cho thực hiện song song các bước xử lý hồ sơ quy định tại Điểm a, b Khoản 2 Điều 60 Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29.11.2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khoáng sản. Để thực thi phương án đơn giản hóa, Tây Ninh kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 60 của Nghị định số 158/2016/NĐ-CP ngày 29.11.2016. Hoặc, đề nghị rút ngắn thời gian giải quyết đối với TTHC này từ 35 ngày làm việc xuống còn 23,5 ngày làm việc, đối với nhóm TTHC cấp mới sổ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại

UBND tỉnh giao Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành tỉnh và đơn vị có liên quan gửi phương án đơn giản hóa không thuộc thẩm quyền quyết định của UBND tỉnh tới các bộ, ngành xem xét. Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc sở, ngành, đơn vị có liên quan thực hiện Quyết định này. (Đại Biểu Nhân Dân 15/10, N. Minh)Về đầu trang

Quảng Ninh đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số, đảm bảo an toàn bảo mật cho trao đổi văn bản

Nhằm đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, an toàn và bảo mật cao giữa các cơ quan nhà nước, Quảng Ninh đã ứng dụng chữ ký số trong xây dựng Chính quyền điện tử, trao đổi văn bản điện tử.

Theo thông tin từ Sở TT&TT tỉnh Quảng Ninh, một trong những thành công giúp tỉnh tiết kiệm được thời gian, chi phí, đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp giữa các cơ quan nhà nước trong thời gian quan đó là đẩy mạnh ứng dụng chữ ký số trong xây dựng Chính quyền điện tử, trong trao đổi văn bản điện tử, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp.

Ngay từ năm 2011, tỉnh đã chú trọng đến việc ứng dụng chữ ký số trong hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan và đơn vị thông qua triển khai Dự án hệ thống chứng thực điện tử và chữ ký số.

Năm 2015 tỉnh ban hành Quyết định 979 về việc trao đổi văn bản điện tử trong các cơ quan nhà nước, trong đó quy định văn bản điện tử phải được ký số trước khi gửi và khi văn bản điện tử đã được ký số hợp lệ có giá trị pháp lý như văn bản giấy, được tiếp nhận và xử lý theo quy định, cơ quan phát hành không cần gửi bản giấy.

Quyết tâm triển khai tại các cấp, các ngành, đơn vị, Quảng Ninh đã trở thành một trong hai tỉnh/thành phố đầu tiên trong cả nước thực hiện liên thông 4 cấp trong trao đổi văn bản điện tử. Trên 95% văn bản gửi, nhận của các cơ quan nhà nước sử dụng chữ ký số để trao đổi hoàn toàn trên hệ thống chính quyền của tỉnh. Tính từ khi triển khai đến tháng 9/2018, Quảng Ninh đã trao đổi 4.468.481 văn bản có ký số qua mạng giữa 574 đơn vị.

Ngoài ra còn gần 200 đơn vị (bệnh viện, trường học, trung tâm của các Sở, ban, ngành, các hội…) đã triển khai ký số và gửi nhận văn bản điện tử thông qua các hệ thống thông tin khác của tỉnh (hòm thư công vụ, một cửa điện tử...). Hàng năm, ước tỉnh tỉnh đã tiết kiệm gần 30 tỷ đồng cho việc in ấn, gửi nhận văn bản.

Tính đến nay, tỉnh đã được cấp 2.176 chữ ký số tổ chức, 5.144 chữ ký số cá nhân. Một số bệnh viện của tỉnh đã sử dụng chữ ký số trong hồ sơ bệnh án theo mô hình bệnh viện thông minh nhằm số hóa các hoạt động bệnh viện, giúp công tác quản lý hồ sơ khám chữa bệnh được liên thông, thuận lợi trong quá trình theo dõi bệnh án. Các trường học trong tỉnh cũng triển khai ứng dụng chữ ký số để phục vụ quản lý, điều hành.

Hiện nay, trên 90% đơn vị, doanh nghiệp trên toàn tỉnh sử dụng chữ ký số để kê khai thuế, bảo hiểm xã hội trên môi trường mạng, các giao dịch với kho bạc nhà nước cũng đang thực hiện triển khai thí điểm ứng dụng chữ ký số trong giao dịch cho 20 đơn vị.

Việc áp dụng chữ ký số trong trao đổi văn bản giữa doanh nghiệp với cơ quan nhà nước là mục tiêu Quảng Ninh đang hướng đến, nhằm thúc đẩy quá trình sử dụng dịch vụ công mức độ 3,4 của các doanh nghiệp, phát huy hiệu qủa Chính quyên điện tử, cải thiện được các chỉ số về môi trường kinh doanh, tạo ra môi trường làm việc thông thoáng, công khai, minh bạch, thu hút đầu tư.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, việc sử dụng chữ ký số của tỉnh còn gặp một số khó khăn như hệ thống văn bản pháp lý triển khai, ứng dụng chữ ký số chưa được hoàn thiện, tỉnh cũng chưa có đầy đủ căn cứ pháp lý để hướng dẫn các đơn vị trong việc quản lý văn bản, hồ sơ điện từ.

Cùng đó, còn thiếu đồng bộ giữa hệ thống quản lý chứng thư số của với quy định cung cấp, quản lý, sử dụng dịch vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, hiện nay hệ thống cấp phát chứng thư số của Ban cơ yếu chính phủ đã được nâng cấp, hoàn thiện tuy nhiên cần bổ sung thêm một số chức năng như gia hạn, thay đổi thông tin, cấp lại mật khẩu...

Cũng theo Sở TT&TT Quảng Ninh, việc ứng dụng chữ ký số cá nhân trong tỉnh chưa được triệt để, một số cán bộ do tâm lý ngại làm quen với những ứng dụng mới, chưa nhận thức lợi ích của chữ ký số nên ít hoặc chưa đưa vào khai thác, sử dụng…

Quảng Ninh cũng đề xuất các Bộ cần hoàn thiện về cơ sở pháp lý để làm căn cứ cho các đơn vị, địa phương hướng dẫn triển khai. Đề nghị Ban Cơ yếu Chính phủ tiếp tục hoàn thiện hệ thống quản lý, cấp phát chứng thư số trong thời gian tới để tạo thuận lợi trong việc quản lý, thu hổi, cấp phát tại địa phương. (ICTNews.vn 14/10)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Ngân hàng Nhà nước quy định mới về chế độ báo cáo định kỳ

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước vừa ký ban hành Thông tư số 24/2018/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của các Thông tư, văn bản có quy định về chế độ báo cáo định kỳ.

Thông tư 24 ban hành nhằm thực hiện Quyết định 559/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đơn giản hóa chế độ báo cáo trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước" và thực hiện Quyết định số 576/QĐ-ngân hàng Nhà nước ngày 30/3/2018 của Thống đốc ngân hàng Nhà nước về việc phê duyệt nội dung phương án đơn giản hóa chế độ báo cáo định kỳ thuộc phạm vi chức năng quản lý của ngân hàng Nhà nước.

Thông tư 24 bao gồm các nội dung bãi bỏ, đơn giản hóa 6 báo cáo tại 6 Thông tư, văn bản quy định chế độ báo cáo định kỳ của ngân hàng Nhà nước.

Cụ thể, bãi bỏ báo cáo của người đại diện về tình hình hoạt động kinh doanh, tài chính của Ngân hàng Hợp tác xã quy định tại Quyết định số 61/2006/QĐ-ngân hàng Nhà nước; Bãi bỏ báo cáo định kỳ hàng năm về tình hình đầu tư gián tiếp ra nước ngoài đối với các trường hợp được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tại Thông tư số 10/2016/TT-NHNN.

Đồng thời, Thông tư cũng đề nghị bãi bỏ báo cáo tình hình mua bán ngoại tệ tiền mặt của tổ chức tín dụng được phép với cá nhân tại Thông tư số 20/2011/TT-NHNN; bãi bỏ báo cáo định kỳ hàng năm về thực hiện các yêu cầu kỹ thuật về an toàn bảo mật đối với trang thiết bị phục vụ thanh toán thẻ ngân hàng tại Thông tư số 47/2014/TT-NHNN; bãi bỏ báo cáo định kỳ hàng năm về an toàn bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ ngân hàng trên Internet tại Thông tư số 35/2016/TT-NHNN.

Bên cạnh đó, sửa đổi, bổ sung báo cáo đánh giá tính hiệu quả, khả thi của các chính sách thí điểm tại Nghị quyết số 42/2017/QH14 tại Chỉ thị số 06/CT-ngân hàng Nhà nước.

Thông tư có hiệu lực kể từ ngày 15/11. (TTXVN/Vietnam+ 13/10)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Phát hiện, xử lý 277 vụ tham nhũng, chức vụ trong 8 tháng

Theo Chính phủ, trong 8 tháng đầu năm đã phát hiện, xử lý 10.839 vụ tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế; 277 vụ tội phạm và vi phạm pháp luật về tham nhũng, chức vụ, nhiều hơn 148 vụ so với cùng kỳ năm 2017.

Sáng 15/10, tại phiên họp thứ 28, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về tình hình kinh tế-xã hội năm 2018 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019; giữa kỳ thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2016-2020…

Theo đánh giá giữa kỳ của Chính phủ, ngay từ đầu nhiệm kỳ, nhờ có tinh thần vào cuộc mạnh mẽ của toàn hệ thống chính trị, cùng với sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, các tổ chức quốc tế, nền kinh tế đã từng bước vượt qua khó khăn, thách thức, duy trì đà chuyển biến tích cực. Trong đó, năm 2018 hoàn thành toàn diện 12/12 chỉ tiêu Quốc hội giao (trong đó, 8 chỉ tiêu vượt và 4 chỉ tiêu đạt kế hoạch), góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm đã đề ra.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục được duy trì ổn định, tạo nền tảng quan trọng để thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực và đảm bảo an sinh xã hội, giữ gìn ổn định và an ninh quốc gia. Lạm phát được kiểm soát, liên tiếp 03 năm CPI đạt dưới 4%; tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì mức cao, chất lượng tăng trưởng cải thiện. Chính phủ dự báo triển vọng GDP năm 2018 có thể tăng cao hơn 6,7%, mô hình tăng trưởng dần dịch chuyển sang chiều sâu.

Đáng lưu ý về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí được đẩy mạnh và đạt kết quả tích cực; hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng; phát hiện và xử lý nghiêm nhiều hành vi vi phạm pháp luật. Chính phủ dẫn chứng, trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn ngành đã triển khai 3.827 cuộc thanh tra hành chính và 92.913 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; phát hiện vi phạm 9.814 tỷ đồng , 32.627 ha đất; kiến nghị thu hồi về ngân sách 7.875 tỷ đồng và 357 ha đất; xử phạt vi phạm hành chính 5.889 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra tiếp tục xem xét, xử lý 42 vụ, 46 đối tượng.

Riêng Thanh tra Chính phủ 8 tháng đầu năm 2018 thực hiện 50 cuộc thanh tra. Qua kết luận 14 cuộc phát hiện vi phạm 2.398 tỷ đồng, 23.738 ha đất; kiến nghị thu hồi về ngân sách 1.704 tỷ đồng, 114 ha đất; kiến nghị việc hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung nhiều cơ chế, chính sách.

Cùng với đó, việc thanh kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách, pháp luật cũng được tăng cường; kiên quyết điều tra, xử lý nghiêm các vụ án trọng điểm ở các lĩnh vực; góp phần củng cố niềm tin của nhân dân và có tác dụng răn đe, phòng ngừa tham nhũng. Cụ thể như cải cách hành chính, công khai, minh bạch trong hoạt động; kê khai tài sản, thu nhập; tặng quà và nộp lại quà tặng; xây dựng, thực hiện quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức; xử lý trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng; đổi mới phương thức thanh toán.

Cũng theo đánh giá của Chính phủ, tiềm lực quốc phòng, an ninh ngày càng được nâng cao, an ninh chính trị được giữ vững; trật tự, an toàn xã hội được đảm bảo, chủ động ngăn chặn mọi âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ứng phó kịp thời các tình huống xảy ra trong giải quyết tranh chấp biển Đông và những vấn đề phức tạp, nhạy cảm liên quan đến lợi ích quốc gia; chủ động về lực lượng và biện pháp tấn công, trấn áp, truy nã tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Theo Chính phủ, công tác điều tra, khám phá các vụ án hình sự đạt tỷ lệ cao (77,67%), nhất là các vụ án kinh tế, tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, việc xét xử các vụ án hình sự cơ bản đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đã hạn chế các trường hợp kết án oan người không có tội, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, giữ vững ổn định chính trị, xã hội.

Cũng theo Chính phủ, trong 8 tháng đầu năm đã phát hiện, xử lý 10.839 vụ tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự quản lý kinh tế; 277 vụ tội phạm và vi phạm pháp luật về tham nhũng, chức vụ, nhiều hơn 148 vụ so với cùng kỳ năm 2017. (Tiền Phong 15/10, Luân Dũng)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

 

Khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư sốt ruột

Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa có báo cáo gửi Chính phủ cho biết, trong khi kế hoạch sửa luật vẫn chưa rõ ràng thì chỉ tiêu cắt giảm 50% điều kiện kinh doanh trong các văn bản luật nếu có đạt cũng chưa đảm bảo thực chất.

Theo bộ này, dù mới có 16 bộ, cơ quan và 28 tỉnh, thành phố gửi báo cáo, có thể thấy các đơn vị tuy đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng nhìn chung vẫn chưa chuyển biến căn bản. Một số báo cáo của bộ, ngành, địa phương “nêu hành động thực thi chung chung, đôi khi chỉ là lặp lại các nội dung yêu cầu của nghị quyết, kết quả không rõ ràng”.

Cụ thể, hầu hết các bộ trình dự thảo nghị định về cắt giảm, sửa đổi điều kiện kinh doanh đúng hạn, mặc dù đến nay mới có 2 nghị định cắt giảm, sửa đổi điều kiện kinh doanh được ban hành (gồm Nghị định 08/2018/NĐ-CP về sửa đổi một số nghị định liên quan đến điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công thương và Nghị định 100/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng) với 858 điều kiện kinh doanh được cắt giảm, đơn giản hóa. Điều này đồng nghĩa với việc thực hiện cắt giảm điều kiện kinh doanh mới chỉ đạt 30% so với yêu cầu.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước... là những bộ, cơ quan tích cực thực hiện nhiệm vụ này, với phương án cắt giảm thực chất. Bộ Công an không đề xuất xây dựng Dự thảo nghị định sửa đổi, bổ sung các nghị định quy định về điều kiện kinh doanh mà đề xuất sửa riêng từng văn bản, nhưng thời hạn thực hiện trong năm 2019, không phải năm 2018. Bộ GTVT không đề xuất xây dựng một văn bản sửa nhiều văn bản mà đề xuất sửa 9 nghị định liên quan.

Phân tích nội dung cắt giảm và hiệu quả cắt giảm điều kiện kinh doanh, Bộ KH-ĐT cho rằng vẫn còn những điều kiện kinh doanh “không phù hợp, không cần thiết, không đạt hiệu quả quản lý”. Đáng lưu ý, tình hình và kết quả cải cách quy định về thủ tục hải quan và quản lý chuyên ngành đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được nhìn nhận là “ít có sự biến chuyển”.

Một số văn bản mới ban hành còn “đẻ” thêm thủ tục, gây khó khăn, phiền phức hơn cho doanh nghiệp so với trước đây. Chẳng hạn, thủ tục chuẩn bị tờ khai theo Thông tư 39/2018/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan, thuế và quản lý thuế với hàng hóa xuất, nhập khẩu) tăng thêm và gây tốn kém thời gian hơn cho doanh nghiệp.

Nghị quyết 19 của Chính phủ yêu cầu 12 bộ báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ về cải cách hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành, trong đó có nội dung cắt giảm 50% danh mục mặt hàng kiểm tra chuyên ngành. Trong quý 3, chỉ có 3 bộ: Tài nguyên và Môi trường, NN-PTNT, GTVT báo cáo về nội dung này, nhưng kết quả thực hiện cũng chưa đạt yêu cầu.

Ví dụ, Bộ NN-PTNT có 7.698 dòng hàng và bộ xác định danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành trước thông quan là 1.675 dòng hàng. Theo báo cáo của Bộ NN-PTNT thì tỷ lệ cắt giảm là 78,2%. Tuy nhiên, con số này chưa chính xác; 78,2% không phải là tỷ lệ cắt giảm mà là chuyển từ giai đoạn trước thông quan sang giai đoạn sau thông quan.

Nhìn chung, qua tập hợp kết quả về rà soát, cắt giảm danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành mà các bộ, ngành báo cáo, Bộ KH-ĐT cho rằng vẫn chưa có nhiều chuyển biến đáng kể. (Sài Gòn Giải Phóng 14/10, Anh Thư)Về đầu trang

Cần môi trường kinh doanh thông thoáng

Không yêu cầu các hỗ trợ, ưu đãi, hầu hết các doanh nhân đều mong muốn có một môi trường kinh doanh thông thoáng, thuận lợi, minh bạch... để họ thỏa sức phát huy nội lực, cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp (DN) ngoại tại sân nhà và khi ra thế giới.

Ông Nguyễn Đình Trung, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần đầu tư kinh doanh địa ốc Hưng Thịnh, mong muốn nhà nước chuẩn hóa hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh. Hiện một số vấn đề còn chồng chéo làm ảnh hưởng quá trình hoạt động của DN, đồng thời tác động lợi ích của người dân và làm các cơ quan quản lý lúng túng khi thực thi. Đơn cử, thị trường bất động sản đang rất cần sự chỉn chu trong cơ chế của mỗi địa phương để đảm bảo các dự án nằm trong quy hoạch tổng thể. Đồng thời có cơ chế đầu tư, giám sát rõ ràng để từ đó tạo nên bộ mặt toàn diện hơn cho địa phương và sự cân bằng cho cộng đồng DN.

“Thời gian qua Chính phủ rất quyết liệt trong việc đưa ra các giải pháp và chủ trương rút ngắn, đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho DN phát triển. Tuy nhiên, vẫn còn đâu đó các văn bản hướng dẫn, triển khai dưới luật chưa truyền tải được thông điệp này dẫn đến phát sinh các thủ tục, giấy phép con không đáng có. Nếu không giải quyết được dứt điểm cũng sẽ là rào cản cho sự phát triển trong kinh doanh và ảnh hưởng đến môi trường đầu tư và kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội”, ông Trung nói và cho rằng việc hoàn thiện hệ thống luật trên cũng chính là một trong những yếu tố tạo nên sức bật cho cộng đồng DN phát triển. Có thể ví dụ hệ thống luật như việc tình hình giao thông trên đường phố. Cần phân định rõ chỗ nào được chạy nhanh, chạy chậm hay phải dừng, để DN hiểu và đi đúng luật.

“Tuy nhiên, để làm được điều đó, như tôi đã nói, chúng ta cần có hệ thống pháp luật rành mạch và chuẩn hóa hơn. Vì việc đăng ký lập một DN rất đơn giản. Nhưng làm sao để duy trì và phát triển nó lớn mạnh, có nhiều đóng góp cho xã hội mới là quan trọng”, ông Nguyễn Đình Trung nhấn mạnh.

Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hiệp hội DN TP.HCM (HUBA), cho rằng xét về lợi thế cạnh tranh các DN trong nước vẫn còn thua thiệt nhiều so với DN có vốn đầu tư nước ngoài. Ví dụ họ vẫn gặp khó với nhiều thủ tục hành chính, nhiều bộ ngành chưa quyết liệt cắt bỏ giấy phép con. Trong khi đó, để phát triển kinh tế tư nhân đòi hỏi chính phủ điện tử với những con người “điện tử” để tạo ra những chuyển biến đáng kể. Mọi cái cần được số hóa; công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan nhà nước.

Tiến sĩ Trần Hoàng Ngân cũng đánh giá các chính sách để thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ DN trong nước đã có, nhưng thực thi lại chưa tới nơi tới chốn. Chính sách được áp dụng thế nào, còn vướng mắc ở đâu vẫn chưa được giám sát cụ thể. Chẳng hạn các buổi đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho DN cũng được tổ chức nhiều từ T.Ư đến địa phương nhưng sau đó giải quyết lại chưa triệt để. Đồng thời cần chế tài nghiêm khắc với các công chức có hành vi nhũng nhiễu, gây cản trở cho hoạt động của DN. Khi đó mới tạo được niềm tin cho các doanh nhân để họ sẵn sàng đầu tư, mở rộng kinh doanh sản xuất.

Mục tiêu của Việt Nam từ nay đến năm 2020 có hơn 1 triệu DN thì phải nỗ lực nhiều hơn mới có khả năng đạt được. Một số chính sách hỗ trợ DN vừa và nhỏ đã có nhưng chưa được lan tỏa rộng và các địa phương phải có nhiều đột phá hơn. Ví dụ mỗi địa phương cần phải hình thành các trung tâm sáng tạo, ươm mầm để khuyến khích cho các ý tưởng kinh doanh. Chính phủ và địa phương phải có sự đầu tư ban đầu và chấp nhận rủi ro trong đầu tư đó, như không xem xét kỷ luật người ra quyết định đầu tư. Quan trọng nhất là chính sách minh bạch, cụ thể để khuyến khích việc đầu tư ở giai đoạn đầu. Sau đó DN lớn mạnh thì nhà nước lại thu được thuế, gia tăng ngân sách quốc gia… (Thanh Niên 15/10, M.Phương – N.Nga)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.044.328 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này