Bản tin cải cách hành chính ngày 04/5/2020

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nội xây dựng chính quyền điện tử: Hợp xu hướng, tăng hiệu quả

2. Hà Nội công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2019

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

3. Ngày 5/5, công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2019

4. Một cửa quốc gia và giám sát tự động tại sân bay quốc tế Nội Bài: Bước chuyển từ quản lý thủ công sang điện tử

5. Kho bạc Nhà nước tăng cường phòng, chống tham nhũng

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Hành chính công “một cửa” và dịch vụ công trực tuyến, thấy gì từ những con số biết nói của PAPI?

7. Chặn đứng việc lạm quyền, thao túng công tác cán bộ

8. “Chây ỳ” không trả nhà công vụ: Đừng để “luật cho dân, lệ cho quan”

9. Chọn đúng cán bộ: Dân được nhờ, cách mạng và đất nước phát triển         

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội xây dựng chính quyền điện tử: Hợp xu hướng, tăng hiệu quả

Tăng cường đầu tư hạ tầng và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý, điều hành, cung ứng dịch vụ công, xây dựng chính quyền điện tử, thành phố thông minh được Hà Nội xác định là giải pháp đột phá để hiện đại hóa hành chính, cơ sở để tinh giản biên chế các cấp. Điều này đang được từ TP đến cơ sở thực hiện đạt nhiều kết quả nổi bật.

Theo UBND TP, kết quả nổi bật từ đầu năm đến nay là TP tiếp tục triển khai hệ thống họp trực tuyến đến 579/579 xã, phường, thị trấn và đã hoàn thành đưa vào khai thác; các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu cốt lõi như dân cư, DN, bảo hiểm… được khai thác hiệu quả. TP cũng duy trì hiệu quả Cổng dịch vụ công TP và các dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức độ 3, 4 dùng chung của TP; hiện đã triển khai 1.448 DVCTT mức 3, 4 (đạt 81%), trong đó 239 DVCTT mức 4.

Với 1.850 TTHC, số hồ sơ được tiếp nhận trên cổng DVC của TP đã đạt hơn 300.000, tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn đạt 90%; đăng ký kinh doanh qua mạng 100%... Đặc biệt, TP đã xây dựng, vận hành Cổng DVC TP, hệ thống một cửa dùng chung 3 cấp giúp tiếp cận, giải quyết TTHC cho người dân thuận tiện, tiết kiệm và giúp kiểm soát việc giải quyết TTHC tốt hơn. 100% sở, ngành, quận, huyện, xã, phường sử dụng phần mềm quản lý văn bản kết nối, liên thông trên mạng, ứng dụng chữ ký số chuyên dùng.

Năm nay, TP phấn đấu 100% văn bản trao đổi giữa các cơ quan nhà nước (trừ văn bản mật) dưới dạng điện tử; rút ngắn 30 - 50% thời gian họp; 90% cuộc họp của UBND TP diện rộng đến sở, ngành, quận, huyện, xã, phường và 80% cuộc họp giữa sở, ngành, quận, huyện diện rộng đến cấp xã thực hiện trực tuyến; từng bước hoàn thiện 100% DVCTT mức 3, 4, trong đó tối thiểu 35% DVCTT mức 4…

Để đạt các mục tiêu, TP đã hoàn thành kết nối mạng WAN đến 100% xã, phường, thị trấn; phát triển cơ sở hạ tầng CNTT đến cấp huyện, xã phục vụ yêu cầu giải quyết công việc và cung cấp DVCTT cho công dân, DN. Tháng 2/2020, đã thí điểm 20 bảng điện tử tại các tòa nhà, khu dân cư phục vụ thực hiện DVCTT, truyền tải thông tin đến người dân.

Để xây dựng, phát triển được chính quyền điện tử hướng tới TP thông minh, từ TP đến sở, ngành, quận, huyện, xã, phường đang tích cực hoàn thiện hạ tầng CNTT, tăng kết nối trong xử lý công việc nội bộ và giải quyết TTHC, hình thành những “công dân điện tử”.

Tại quận Đống Đa đã xây dựng các group zalo để chỉ đạo điều hành rất hiệu quả, mỗi thông tin đưa lên nhóm lập tức có người xử lý. Các hoạt động nội bộ quận được chỉ đạo qua hệ thống quản lý văn bản - điều hành tác nghiệp có tích hợp chữ ký số.

“Phần mềm quản lý này đã được kết nối liên thông từ TP đến quận, phường, nên từ lâu chúng tôi không phải gửi văn bản giấy nữa, giúp tiết kiệm hẳn giấy, mực in, nhân lực. Đợt dịch Covid-19, cán bộ công chức quận trao đổi công việc hoàn toàn qua phần mềm; việc họp hầu hết trực tuyến từ TP đến tận phường; vừa đảm bảo giãn cách xã hội, vừa đảm bảo công việc thường xuyên” - cán bộ CNTT UBND quận Đỗ Thùy Linh cho hay.

Đến nay, bộ phận một cửa (BPMC) từ quận đến 21 phường cũng đều có cơ sở vật chất rất hiện đại, đồng bộ, thân thiện, đáp ứng tiêu chí “Trang thiết bị BPMC hiện đại”. Với những TTHC trong danh mục thực hiện DVCTT mức 3, tại quận đã đạt 100% hồ sơ được thực hiện, trong đó tỷ lệ người dân tự thao tác đạt 90%...

Hiện 18/18 phường thuộc quận Hai Bà Trưng cũng đều sử dụng hệ thống mạng thông tin nội bộ hoạt động ổn định; các văn bản tài liệu chính thức (trừ văn bản mật) được thực hiện hoàn toàn dạng điện tử. Như phường Bạch Mai, lãnh đạo có thể sử dụng một số ứng dụng dùng chung của TP trên máy tính bảng để xử lý công việc. UBND phường còn gắn chỉ tiêu triển khai ứng dụng CNTT vào tiêu chí đánh giá thi đua. 

Vừa qua, Đại hội Đảng bộ phường cũng áp dụng họp trực tuyến đến “điểm cầu” tại 17 phường còn lại. Đặc biệt, UBND phường đã sử dụng hiệu quả phần mềm một cửa điện tử dùng chung 3 cấp của TP và kết nối với hệ thống DVCTT mức 3, 4, góp phần đưa tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng, trước hạn ngày càng cao. “Khi mới triển khai DVCTT mức 3, công chức nhiều khi phải thực hiện hộ công dân.

Sau đó, phường đã kiên trì tuyên truyền; công dân đến BPMC muốn nộp hồ sơ thuộc lĩnh vực quy định thực hiện trực tuyến thì chúng tôi hướng dẫn, phát cho tờ hướng dẫn để họ về nghiên cứu tự làm... Đến nay, tỷ lệ người dân tự nộp hồ sơ đã đạt 80 - 90% tổng hồ sơ trực tuyến” - công chức Văn phòng - thống kê phường Đống Hồng Anh chia sẻ.

Với khu vực ngoại thành có điều kiện cơ sở vật chất hạn chế hơn, chính quyền điện tử cũng đang mang lại hiệu quả rất lớn trong quản lý, họp hành, lưu trữ… Ở huyện Hoài Đức, các xã đều đạt 70 - 80% tổng hồ sơ trực tuyến là do người dân tự thực hiện. Có được kết quả này cũng nhờ tăng cường hình thức tuyên truyền, công chức hướng dẫn người dân trực tiếp thực hiện tại BPMC chứ không làm hộ như trước.

Một số xã còn gửi tờ rơi về DVCTT đến đoàn thanh niên (đối tượng sử dụng thành thạo thiết bị thông minh), hoặc phát trực tiếp cho phụ nữ đang mang thai để tuyên truyền đăng ký khai sinh trực tuyến… Tại cơ quan huyện, các cuộc họp từ TP đến huyện và 100% xã đều bằng trực tuyến.

Trước đây, mỗi buổi họp chỉ có lãnh đạo xã lên UBND huyện họp, sau phải thêm buổi họp tại xã để phổ biến lại; giờ mỗi khi UBND huyện họp thì mọi công chức xã có thể dự họp ngay tại trụ sở xã, rồi triển khai nhiệm vụ luôn, rất tiết kiệm thời gian, công sức. Mọi văn bản gửi từ huyện đi xã, sở, ngành đều chỉ cần in 1 bản có chữ ký, còn lại scan bản gốc để gửi điện tử. (Kinhtedothi.vn 3/5, Linh Chi) Về đầu trang

Hà Nội công bố chỉ số cải cách hành chính năm 2019

UBND thành phố Hà Nội vừa ban hành Quyết định số 1752/QĐ-UBND phê duyệt và công bố Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 của các sở và cơ quan ngang sở; UBND các quận, huyện, thị xã thuộc thành phố.

Theo quyết định này, Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 của 22 sở, cơ quan ngang sở thuộc thành phố trung bình đạt khoảng 72% trở lên, trong đó cao nhất là Sở Nội vụ (86,93%), Văn phòng UBND thành phố (86,72%), Ban Quản lý các khu công nghiệp và chế xuất thành phố (86,63%)... xếp cuối bảng là Sở Quy hoạch - Kiến trúc đạt 73,39%, Sở Ngoại vụ đạt 71,97%,

Đối với UBND 30 quận, huyện, thị xã, Chỉ số cải cách hành chính năm 2019 trung bình đạt từ 83% trở lên, trong đó quận Cầu Giấy có chỉ số cao nhất (95,61%), tiếp đến các quận Long Biên (95,56%), Đống Đa (94,93%)… Đứng cuối bảng là huyện Ba Vì đạt 84,55%, huyện Ứng Hoà đạt 83%.

UBND thành phố Hà Nội yêu cầu, căn cứ Chỉ số cải cách hành chính năm 2019, các sở, cơ quan ngang sở; UBND các quận, huyện, thị xã tiếp tục có giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện Chỉ số cải cách hành chính những năm tiếp theo. (Nhandan.com.vn 3/5, Việt Anh) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Ngày 5/5, công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2019

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) tại Việt Nam sẽ phối hợp tổ chức Lễ công bố Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2019 vào ngày 5/5, tại Hà Nội.

Đây là sự kiện được trông đợi trong năm với những chỉ số đo lường và đánh giá chất lượng điều hành kinh tế, mức độ thuận lợi, thân thiện của môi trường kinh doanh và nỗ lực cải cách hành chính của các tỉnh, thành phố trong cả nước, qua đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.    

Theo Ban tổ chức, báo cáo PCI 2019 là ấn phẩm thường niên năm thứ 15 liên tiếp do VCCI và USAID hợp tác xây dựng và công bố nhằm đánh giá và xếp hạng môi trường kinh doanh cũng như chất lượng điều hành kinh tế của các địa phương trên cả nước, với sự tham gia của gần 12.500 doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Được xây dựng từ dữ liệu điều tra doanh nghiệp thường niên có quy mô lớn nhất, PCI là “tập hợp tiếng nói” của cộng đồng doanh nghiệp về mức độ cải cách trên từng lĩnh vực điều hành, chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, chất lượng nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Đặc biệt, lần đầu tiên báo cáo PCI 2019 phân tích về xu hướng tự động hóa và số hóa trong sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam, dự báo các tác động của xu hướng này đối với lao động, việc làm trong thời gian tới.

Một địa phương có chất lượng điều hành tốt phải đảm bảo các tiêu chí như: Chi phí gia nhập thị trường thấp; tiếp cận đất đai dễ dàng và sử dụng đất ổn định; môi trường kinh doanh minh bạch và thông tin kinh doanh công khai; chi phí không chính thức thấp; thời gian thanh tra, kiểm tra và thực hiện các quy định, thủ tục hành chính nhanh chóng; môi trường cạnh tranh bình đẳng; chính quyền tỉnh năng động, sáng tạo trong giải quyết vấn đề cho doanh nghiệp; dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, chất lượng cao; chính sách đào tạo lao động tốt và thủ tục giải quyết tranh chấp công bằng, hiệu quả và duy trì được an ninh trật tự... (Baotintuc.vn 3/5, Thạch Huê) Về đầu trang

Một cửa quốc gia và giám sát tự động tại sân bay quốc tế Nội Bài: Bước chuyển từ quản lý thủ công sang điện tử

Sân bay quốc tế Nội Bài đã được Tổng cục Hải quan lựa chọn để triển khai thí điểm Cơ chế một cửa quốc gia đường hàng không, đồng thời triển khai Hệ thống quản lý, giám sát tự động và Cục Hải quan Hà Nội được chỉ định là đơn vị đầu tiên triển khai. Sau quá trình triển khai thí điểm và từng bước hoàn thiện hệ thống đã làm thay đổi căn bản phương thức quản lý.

Theo Cục Hải quan Hà Nội, đơn vị đang hoàn thành các bước chuẩn bị cuối cùng để sẵn sàng triển khai chính thức Hệ thống một cửa quốc gia và Hệ thống quản lý, giám sát tự động tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài theo Nghị định 59/2018/NĐ-CP và Thông tư 39/2018/TT-BTC.

Đánh giá về quá trình này, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Hà Nội Trần Quốc Định cho biết, sau một quá trình triển khai thí điểm và từng bước hoàn thiện hệ thống, Cục Hải quan Hà Nội đang phối hợp với các cơ quan thuộc Tổng cục Hải quan và đơn vị có liên quan chuẩn bị để triển khai chính thức Hệ thống một cửa quốc gia đường hàng không và Hệ thống quản lý, giám sát tự động đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài.

“Đến nay, 100% hãng hàng không đã gửi thông tin tới Cổng thông tin một cửa quốc gia theo quy định. Tỷ lệ thiết lập tự động thông tin hàng hóa dự kiến xếp dỡ đưa qua khu vực giám sát ổn định và đạt trên 95%. Tỷ lệ hàng hóa được quản lý, giám sát qua hệ thống đạt 99,9%. Còn lại được giám sát thủ công khi hệ thống gặp sự cố. Như vậy, hệ thống đã đáp ứng được yêu cầu đặt ra để tiến tới triển khai chính thức tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài”- Phó Cục trưởng Trần Quốc Định nói. Ông Định cũng đồng thời nhấn mạnh, quá trình triển khai Hệ thống một cửa quốc gia và Hệ thống quản lý, giám sát tự động hải quan tại sân bay Nội Bài là thay đổi căn bản phương thức quản lý từ thủ công sang điện tử, dựa trên việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin và áp dụng các chuẩn mực quốc tế.

Cụ thể, với việc triển khai thí điểm Hệ thống một cửa quốc gia đường hàng không và Hệ thống quản lý, giám sát tự động đáp ứng mục tiêu thay đổi phương thức quản lý từ thủ công sang phương thức quản lý trên dữ liệu điện tử, đảm bảo kết nối thông tin giữa 3 khâu trước thông quan, trong thông quan và khâu đưa hàng qua khu vực giám sát. Hệ thống CNTT đồng bộ tạo nên môi trường làm việc điện tử, doanh nghiệp có thể tương tác với hệ thống mọi lúc, mọi nơi. Kiểm soát, theo dõi hàng hóa đưa vào, đưa ra và tồn đọng của kho hàng không. Đặc biệt, cơ chế quản lý rủi ro sẽ được áp dụng xuyên suốt quá trình quản lý, giám sát hàng hóa để qua đó, kiểm soát, theo dõi được việc khai báo các chỉ tiêu thông tin của các hãng hàng không.

Với mục tiêu này, lãnh đạo Cục Hải quan Hà Nội cho biết việc hoàn thiện và đưa Hệ thống một cửa quốc gia đường hàng không và Hệ thống quản lý, giám sát tự động vào triển khai chính thức tại Nội Bài có ý nghĩa to lớn, khẳng định quyết tâm của ngành Hải quan tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách, hiện đại hóa và ứng dụng mạnh mẽ CNTT trong các lĩnh vực công tác của Cục Hải quan Hà Nội. Đây cũng sẽ là tiền đề để ngành Hải quan triển khai mở rộng đồng bộ tại các cảng hàng không trên toàn quốc.

Theo ông Trần Quốc Định, việc triển khai Hệ thống sẽ đem lại cho cơ quan Hải quan nhiều lợi ích. Trong đó, quan trọng nhất là nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về Hải quan tại Cảng hàng không quốc tế, đặc biệt là trong quản lý, theo dõi, giám sát hàng hóa đưa vào, đưa ra, tồn đọng của kho hàng không và hoàn toàn được thực hiện tự động trên hệ thống. Qua đó giảm thời gian và khối lượng công việc cho công chức hải quan. Cùng một thời gian, công chức hải quan có thể làm được công việc nhiều hơn, hiệu quả hơn. Hơn nữa, hệ thống CNTT đồng bộ tạo nên môi trường làm việc điện tử, doanh nghiệp có thể tương tác với hệ thống mọi lúc, mọi nơi.

Chia sẻ về quá trình phối hợp triển khai với cơ quan Hải quan, ông Lê Thanh Bình- Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Nhà ga hàng hoá ALS (ALSC) cho rằng, đây rõ ràng là con đường phải đi và điều này đúng với chủ trương, quan điểm của Chính phủ. “Quan điểm của Chính phủ rất rõ ràng là đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt các khâu trung gian. Với việc triển khai Hệ thống một cửa quốc gia đường hàng không và Hệ thống quản lý, giám sát tự động chính là hiện thực hóa chủ trương đó, hơn nữa việc ứng dụng công nghệ, số hóa cũng là xu hướng chung”- ông Lê Thanh Bình nhấn mạnh.

Để đạt được kết quả, kho hàng không đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan Hải quan trong việc triển khai. Từ năm 2017, Công ty Cổ phần Nhà ga hàng hoá ALS (ALSC) đã nỗ lực xây dựng hệ thống và triển khai các nội dung công việc liên quan để đáp ứng các điều kiện của hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động đối với hàng hóa XNK. Với mục tiêu nhanh hơn, minh bạch hơn, ít giấy tờ hơn và trên cơ sở thông tin cơ quan Hải quan cho phép trao đổi trực tuyến trên phầm mềm, Công ty Cổ phần Nhà ga hàng hoá ALS (ALSC) đã tuân thủ chính xác việc đưa hàng hóa ra/vào kho, tiếp nhận và trả hàng nhanh chóng cho khách hàng. Đồng thời sự cải tiến này đã góp phần quan trọng để các doanh nghiệp có điều kiện cắt giảm chi phí nhân công, thời gian đi lại để giải quyết các thủ tục đưa hàng ra, vào khu vực Cảng.

Ở góc độ doanh nghiệp XNK, ông Mai Văn Thành– Phó Tổng Giám đốc Công ty Samurai Global Logistics cho biết, việc triển khai hệ thống giúp doanh nghiệp giảm thiểu thời gian và chi phí trong việc hoàn tất các thủ tục thông quan XNK. Theo đó, đầu tiên là giúp tiết kiệm được thời gian, chi phí đi lại, chi phí lưu kho bãi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp không phải sử dụng chứng từ giấy để xuất trình với cơ quan Hải quan như trước đây, mà hiện nay được điện tử hóa trên hệ thống qua đó thông tin được trao đổi, xử lý nhanh chóng và chính xác. (Haiquanonline.com.vn 3/5, Ngọc Linh) Về đầu trang

Kho bạc Nhà nước tăng cường phòng, chống tham nhũng

Xác định những lĩnh vực trong ngành có thể phát sinh tham nhũng, Kho bạc Nhà nước (KBNN) đã ban hành các quy định về kỷ cương, kỷ luật, đạo đức lối sống cho cán bộ, công chức, đồng thời tăng cường thanh kiểm tra, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong phòng chống tham nhũng.

KBNN đã xây dựng kế hoạch, chương trình phổ biến, thông tin, tuyên truyền quán triệt đến toàn thể cán bộ công chức về công tác phòng, chống tham nhũng theo Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Theo đó, KBNN đã xác định những lĩnh vực có thể phát sinh hành vi tham nhũng trong hệ thống tập trung ở một số vị trí và nghiệp vụ nhất định, trên cơ sở đó, ban hành chuẩn mực đạo đức, lối sống của cán bộ, công chức, trong hệ thống. Đồng thời, ban hành quy định 10 điều kỷ luật của ngành KBNN để mỗi cán bộ, công chức xác định rõ định hướng, tu dưỡng, rèn luyện; triển khai các lớp bồi dưỡng về văn minh, văn hóa công sở cho 100% cán bộ, công chức.

Hệ thống KBNN cũng đã nâng cao chất lượng hoạt động, đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa công nghệ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn, phòng ngừa có hiệu quả những hành vi tham ô, tham nhũng, lãng phí, đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tiền, tài sản của nhà nước giao KBNN quản lý.

Những năm qua trên cơ sở các quyết định của Bộ Tài chính, KBNN đã bám sát và ban hành các kế hoạch cải cách hành chính cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn. Trong giai đoạn này, hệ thống KBNN tiếp tục triển khai hiệu quả mô hình một cửa, một giao dịch viên; tiếp tục cải tiến, đơn giản hóa các thủ tục thu, chi ngân sách thuộc lĩnh vực KBNN…

Đồng thời, đẩy mạnh công tác thanh toán không dùng tiền mặt qua KBNN, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các đơn vị giao dịch, nâng cao chất lượng phục vụ và sự hài lòng của khách hàng. KBNN cũng đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để thông báo biến động số dư tài khoản cho các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần phòng ngừa, hạn chế rủi ro, thất thoát đối với các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước.

Các đơn vị trực thuộc KBNN thường xuyên triển khai Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Hằng năm, KBNN thực hiện công khai tài sản của ban lãnh đạo và cán bộ công chức, viên chức thuộc diện phải kê khai tài sản theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng.

Ngoài ra, KBNN đã lập kế hoạch xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, các đề án chiến lược hàng năm và dài hạn để trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt. Trong đó, thường xuyên rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, kịp thời phát hiện, xử lý các văn bản trái pháp luật hoặc sửa đổi các nội dung theo thẩm quyền, khắc phục những sơ hở có thể gây phiền hà, sách nhiễu đối với người dân, doanh nghiệp.

KBNN đã dự thảo và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 11/2020/NĐ-CP ngày 20/1/2020 quy định thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực KBNN. Trong đó, đã đơn giản hóa quy trình thực hiện, đa dạng hóa cách thực hiện, giảm thành phần hồ sơ, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, đặc biệt quy định lộ trình triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đến hết năm 2020 đạt 100% các giao dịch phải thực hiện trên dịch vụ công mức độ 4 (trừ giao dịch liên quan đến lĩnh vực an ninh, quốc phòng). Đây có thể coi là cải cách lớn đối với hệ thống KBNN.

Để thực hiện tốt Chỉ thị 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, KBNN tăng cường chỉ đạo việc triển khai, thực hiện nghiêm túc công tác thanh tra, kiểm tra và xây dựng cơ chế giám sát nhằm phát hiện hành vi vi phạm của công chức, viên chức thuộc phạm vi trách nhiệm quản lý.

Trong đó, tập trung chấn chỉnh hoạt động thanh tra, kiểm tra nhất là thanh tra chuyên ngành theo đúng Chỉ thị số 20/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; tránh tình trạng chồng chéo, gây phiền hà sách nhiễu trong hoạt động thanh tra kiểm tra. Tăng cường thanh tra kiểm tra về công vụ công chức nhất là việc thực hiện quy tắc ứng xử, những việc công chức viên chức không được làm, trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ.

KBNN đã đề xuất hình thức khen thưởng, động viên khích lệ đơn vị tổ chức cá nhân chấp hành tốt; kịp thời phát hiện, đề xuất xử lý những trường hợp vi phạm và xử lý nghiêm những công chức, viên chức có hành vi tiêu cực tham nhũng, nhũng nhiễu gây phiền hà với người dân, doanh nghiệp.

KBNN đã lồng việc kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc triển khai thực hiện Chỉ thị 10/CT-TTg vào các cuộc kiểm tra thường xuyên, định kỳ. Trong đó, năm 2019 KBNN đã tiến hành 390 cuộc kiểm tra, giám sát, đôn đốc với 320 cơ quan, đơn vị.

Thời gian tới, KBNN tiếp tục tăng cường kiểm tra trong nội bộ hệ thống và thanh tra chuyên ngành trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, thuộc trách nhiệm của KBNN, nhất là các lĩnh vực nhạy cảm, có nhiều dư luận về tham nhũng. Đồng thời, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu đối với công tác tự kiểm tra về phòng, chống tham nhũng; thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra./. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 3/5, Minh Anh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Hành chính công “một cửa” và dịch vụ công trực tuyến, thấy gì từ những con số biết nói của PAPI?

Báo cáo PAPI 2019 cho thấy dịch vụ hành chính công “một cửa” và trực tuyến cần phải được thực hiện tốt hơn nhằm đem lại sự hài lòng cho người dân và doanh nghiệp.

Trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt hàng ngày, người dân và các doanh nghiệp đã từng phải thực hiện các thủ tục hành chính công như xin cấp sổ đỏ, kê khai thuế, xin cấp bằng lái xe, cấp chứng minh thư… Trong 15 năm qua, để đơn giản hóa các thủ tục hành chính nhiêu khê, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách như Nghị quyết 19/NQ-CP và Nghị quyết 35/NQ-CP năm 2016. Đến tháng 1 năm 2019, Chính phủ đã ban hành tiếp Nghị quyết 02/NQ-CP nhằm tăng năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp và nâng cao sự hài lòng của người dân khi thực hiện thủ tục hành chính công.

Bên cạnh việc cắt giảm các thủ tục kê khai, Chính phủ đã đưa vào thực hiện mô hình hành chính “một cửa” – công dân và doanh nghiệp có thể thực hiện các thủ tục hành chính tại một địa điểm. Đồng thời, chính phủ cũng yêu cầu điện tử hóa các hoạt động hành chính công. (Nghị định số 43/2011/NĐ-CP).

Với các thủ tục hành chính công được rút gọn, quy về “một cửa” và có thể thực hiện qua mạng, rõ ràng người dân và doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi. Khi thực hiện các thủ tục qua mạng, người dân sẽ tránh được sự sách nhiễu, vòi vĩnh của cán bộ công quyền. Còn doanh nghiệp - đối tượng chính của các thủ tục hành chính như đăng ký kinh doanh, nộp thuế và thuê đất - sẽ giảm được chi phí.

Theo khảo sát của PAPI, các doanh nghiệp tỏ rõ sự hài lòng khi thực hiện các thủ tục hành chính công “một cửa”. Trái lại, qua việc so sánh các kết quả khảo sát với người dân từ năm 2011 đến năm 2019 ở các nội dung như “xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, “xin chứng thực, xác nhận của chính quyền địa phương”, “xin giấy phép xây dựng” và “làm thủ tục hành chính ở bộ phận một cửa cấp xã, phường”, các chuyên gia PAPI nhận thấy mức độ hài lòng của người dân ít hơn và hầu như không có sự cải thiện qua nhiều năm. 

Theo tiến sĩ Paul Schuler, thành viên nhóm nghiên cứu PAPI từ năm 2015, việc người dân không quá hài lòng với dịch vụ hành chính công cho thấy bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cần phải cải thiện hơn nữa công việc chuyên môn của mình. Còn Thạc sĩ Đỗ Thị Thanh Huyền, chuyên gia phân tích của Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP) cho biết bà đã thống kê số ngày trung bình mà người dân phải chờ để làm xong thủ tục hành chính là 55 ngày, trong khi đối với doanh nghiệp chỉ là 35 ngày. Đây là một khía cạnh mà tất cả các cấp chính quyền địa phương cần phải lưu tâm nhằm phục vụ người dân công bằng hơn trong mối tương quan với doanh nghiệp.

Như đã đề cập ở trên, bên cạnh cơ chế “một cửa”, chính phủ cũng đẩy mạnh hoạt động quản trị điện tử trong lĩnh vực hành chính công. Đây là một nỗ lực của chính phủ nhằm hướng tới xây dựng một chính phủ điện tử hoạt động hiệu quả.

Nỗ lực này đã được thể hiện qua các chính sách như Nghị quyết số 17/NQ-CP về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2019-2020, và Quyết định số 1201/QD-TTg về thành lập Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử (Thủ tướng làm Chủ tịch Ủy ban). Việc ra mắt Cổng Dịch vụ công Quốc gia (dichvucong.gov.vn) vào tháng 12 năm 2019 đánh dấu một bước quan trọng trong định hướng đúng đắn này.

Tăng cường quản trị điện tử được kỳ vọng sẽ nâng cao mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp với dịch vụ hành chính công, xóa bỏ hành vi bôi trơn, đưa và nhận hối lộ. Tuy nhiên, báo cáo PAPI đã chỉ ra một thực tế đáng quan ngại. Theo tổng kết từ năm 2016 đến 2018, rất ít người đã lên cổng thông tin điện tử của chính quyền địa phương để tìm hiểu thông tin về quy trình, thủ tục cần làm.

Mặc dù số lượng dùng Internet ở Việt Nam ngày một gia tăng, tỷ lệ người truy cập tin tức qua Internet đã tăng lên trong năm 2019 nhưng tỷ lệ người truy cập cổng thông tin điện tử địa phương không có mức tăng tương xứng.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do tốc độ truy cập cổng thông tin của các tỉnh thành còn chậm, thông tin trên cổng chưa được bố trí một khoa học để dễ tra cứu. VietTimes trước đây đã có bài viết phản ánh Cổng thông tin điện tử của tỉnh Nghệ An lúc truy cập được lúc không, và người phụ trách cổng này giải thích rằng đó là do hệ thống chạy trên nền tảng 32-bit lạc hậu.

Việc chăm sóc Cổng thông tin và phản hồi yêu cầu người dân cũng chưa tốt. Thạc sĩ Đỗ Thị Thanh Huyền, chuyên gia UNDP nói rằng trong thời gian chuẩn bị báo cáo PAPI, bà đã thử gửi thư điện tử cho 61 tỉnh thành qua cổng thông tin điện tử địa phương. Kết quả là đến giờ bà mới chỉ nhận được duy nhất một thư phản hồi của tỉnh Tiền Giang, 18 tỉnh email bị trả lại (địa chỉ email sai hoặc đã thay đổi địa chỉ email mà không cập nhật cho người dân biết), số còn lại không hề có hồi đáp. Thư điện tử là cửa ngõ đầu tiên để tương tác giữa chính quyền và người dân mà còn làm chưa tốt thì không thể hy vọng nhiều vào sự hài lòng của người dân. Bà Huyền cho rằng dịch vụ công trực tuyến hiện giờ chỉ phục vụ tốt cho doanh nghiệp, còn người dân chưa có sự phục vụ tương xứng.

Biểu đồ dưới đây cho thấy tốc độ sử dụng cổng thông tin điện tử địa phương từ năm 2016 đến 2019 tăng rất chậm. Thậm chí tỷ lệ người tìm hiểu thông tin qua cổng thông tin điện tử địa phương để thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn sụt giảm trong năm 2019.

Biểu đồ dưới đây so sánh mức độ hài lòng của những người được khảo sát khi họ thực hiện các thủ tục hành chính tại bộ phận “một cửa” và qua Cổng thông tin điện tử địa phương.

Kết quả cho thấy nhóm người tìm hiểu thông tin về thủ tục cần làm khi lấy chứng thực, xác nhận của chính quyền và xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cổng thông tin điện tử địa phương có xu hướng hài lòng hơn một chút so với những người tìm hiểu thông tin trên qua bộ phận một cửa.

Ngược lại, nhóm người tìm hiểu thông tin về thủ tục xin cấp phép xây dựng trên cổng thông tin điện tử lại có mức hài lòng thấp hơn so với nhóm người tìm hiểu qua bộ phận một cửa.

Kết quả nói trên không có nghĩa là những nỗ lực thúc đẩy chính phủ điện tử từ trước tới nay chưa mang lại nhiều giá trị cho người dân, bởi vẫn có những người đã hài lòng với những gì họ tìm hiểu được trên cổng thông tin điện tử. Nhưng chính quyền các tỉnh, thành cũng cần nỗ lực hơn nữa nhằm đảm bảo người dân có thể tiếp cận thông tin một cách thuận tiện, nhanh chóng. Vấn đề này cũng giống như bài toán cung – cầu. Nếu bên cung (chính quyền cung cấp các dịch vụ công) làm tốt thì bên cầu (người dân) sẽ khắc có nhu cầu tham gia nhiều hơn vào các dịch vụ công trên môi trường mạng. (Viettimes.vn 3/5, Hoài Nam) Về đầu trang

Chặn đứng việc lạm quyền, thao túng công tác cán bộ

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ là vấn đề hết sức quan trọng, là công việc gốc của Đảng. Thế nhưng, bên cạnh những kết quả, công tác cán bộ còn không ít tồn tại, hạn chế, đặc biệt là tình trạng lạm quyền, thao túng công tác cán bộ đã xuất hiện, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ. Chặn đứng hiện tượng này chính là góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

1. Bản chất chế độ ta là chế độ xã hội chủ nghĩa, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; chủ thể kiểm soát quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn những biểu hiện lạm quyền, thao túng, vi phạm nguyên tắc không phải đến bây giờ mà trong suốt hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng đã tiến hành nhiều chủ trương, giải pháp. Tuy nhiên, những biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, thao túng nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng vẫn diễn ra. Vấn đề này đã được chỉ rõ trong nhiều văn kiện, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ”.

Phân tích kỹ tình hình, Nghị quyết Trung ương 4 chỉ ra thực trạng “tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích”… 

Thời gian qua, những biểu hiện lạm quyền, thao túng công tác cán bộ diễn ra ở nhiều nơi, ở mọi cấp, mọi ngành. Điển hình phải kể đến là trường hợp ông Lê Phước Thanh - Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam (nhiệm kỳ 2010-2015). Do có những biểu hiện ưu ái trong việc quy hoạch, điều động và bổ nhiệm con trai là Lê Phước Hoài Bảo, mặc dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, vi phạm nguyên tắc công tác cán bộ, nên ông Lê Phước Thanh đã bị cách chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam nhiệm kỳ 2010-2015.

Hay như trường hợp ông Bùi Ngọc Bảo, với cương vị là Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Doanh nghiệp trung ương (nhiệm kỳ 2010-2015 và 2015-2020), Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, ông Bảo cùng với Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam đã có hàng loạt các vi phạm. Một trong những sai phạm khiến ông Bùi Ngọc Bảo bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng là vi phạm nguyên tắc công tác cán bộ...

Tương tự là trường hợp ông Nguyễn Phong Quang, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ đã bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng vì nhiều lý do, trong đó có quyết định chủ trương công tác cán bộ không đúng quy định, để xảy ra nhiều sai phạm trong thời gian dài; trực tiếp ký bổ nhiệm trên 30 trường hợp không đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, điều kiện và tiêu chuẩn...

Đó chỉ là 3 trong số nhiều vụ việc bị “lộ sáng”, trong khi hành vi lạm quyền, thao túng công tác cán bộ diễn ra khá tinh vi, thường mang danh tập thể để che đậy cho hành vi sai trái… Hệ lụy của tình trạng lạm quyền, thao túng công tác cán bộ là rất lớn, rõ nhất là sinh ra tệ “chạy chức, chạy quyền”, thui chột tài năng, triệt tiêu động cơ phấn đấu của những cán bộ có phẩm chất đạo đức và trình độ năng lực tốt... Đây cũng là lý do để các thế lực thù địch khai thác, khoét sâu chống phá, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Thấy rõ tính chất, mức độ nguy hại của những sai phạm liên quan đến công tác cán bộ, trong nhiều văn kiện, Đảng ta đã chỉ rõ thực trạng, phân tích nguyên nhân và đề ra nhiều giải pháp ngăn chặn. Trong nhiệm kỳ khóa XII, nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quy định cụ thể về công tác cán bộ đã được ban hành. Đáng chú ý, ngày 23-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 205-QĐ/TƯ về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Ngày 24-3-2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Kết luận số 71-KL/TƯ về xử lý sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức theo thông báo Kết luận số 43-TB/TƯ ngày 28-12-2017 của Bộ Chính trị... Đặc biệt, trong chỉ đạo tiến hành các khâu, các bước để tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cùng với chuẩn bị văn kiện, Đảng rất coi trọng công tác chuẩn bị nhân sự.

2. Những gì mà Đảng ta đã và đang làm cho thấy một tinh thần trách nhiệm rất cao, thái độ nghiêm túc và quyết liệt trong chống lộng quyền, lạm quyền, thao túng công tác cán bộ. Điều đó càng được khẳng định rõ hơn trong bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị cán bộ toàn quốc tổ chức ngày 23-4-2020. Sau khi nêu rõ quan điểm "dưới có vững thì trên mới bền chắc được", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chỉ đạo: Phải lựa chọn được những cán bộ vừa có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; vừa có trí tuệ, tầm nhìn, tư duy chiến lược, có cả đức và tài.

Sau hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết quan trọng “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng”. Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, cán bộ tham gia Ban Chấp hành Trung ương là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, là tinh hoa của Đảng, có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước, sự sống còn của chế độ. Do đó kiên quyết không bỏ sót những người thật sự có đức, có tài, đủ tiêu chuẩn; đồng thời không để lọt vào Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII những người bản lĩnh chính trị không vững vàng, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, xu nịnh, chạy chọt, tham nhũng, quan liêu, cục bộ, vận động cho cá nhân, phe cánh, lợi ích nhóm; vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, mị dân, chuyên quyền, độc đoán; trù dập người thẳng thắn đấu tranh, phê bình; để nội bộ mất đoàn kết nghiêm trọng hoặc để xảy ra tham nhũng, thất thoát, vụ việc tiêu cực lớn ở địa phương, cơ quan, đơn vị...

Để thực hiện được tinh thần ấy, Đảng phải làm rất nhiều việc, trong đó, khắc phục những hạn chế, yếu kém của công tác cán bộ là việc làm cấp thiết. Đặc biệt, công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị…

Có thể thấy, một trong những khâu yếu nhất hiện nay của công tác cán bộ là việc đánh giá cán bộ. Do một thời gian dài việc này chưa được làm bài bản, có quy trình chặt chẽ, công tâm, khách quan trong nhìn nhận, đánh giá cán bộ nên mới dẫn đến quy hoạch sai; thực hiện quy trình bổ nhiệm trái nguyên tắc; bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ không đúng với phẩm chất, trình độ năng lực. Nói cách khác, công tác cán bộ đã có lúc, có nơi bị một số cán bộ chủ trì lộng hành, thao túng. Để khắc phục tình trạng ấy cùng với xử lý nghiêm những cá nhân vi phạm, chúng ta cần đẩy mạnh các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn từ xa.

Thực chất những việc mà Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Ban Chấp hành Trung ương khóa XII đã làm vừa qua là quá trình từng bước hoàn thiện hệ thống thể chế, quy chế, quy định, quy trình về công tác cán bộ để ngăn chặn biểu hiện lạm quyền, thao túng công tác cán bộ. Thực hiện nghiêm hệ thống thể chế, cơ chế, quy định ấy cùng những chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng chính là giải pháp tốt nhất để kiểm soát chặt chẽ quyền lực, khắc phục tình trạng lộng quyền, lạm quyền, thao túng trong công tác cán bộ. Đồng thời đó cũng là dịp để Đảng ta tổng rà soát chất lượng đội ngũ cán bộ được giới thiệu tham gia cấp ủy các cấp, đặc biệt là tham gia Ban Chấp hành Trung ương nhiệm kỳ sắp tới. Đây cũng là những giải pháp thiết thực để Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) mang lại hiệu quả sâu rộng trong đời sống chính trị, kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. (Hanoimoi.com.vn 4/5, Đại tá Phùng Kim Lân) Về đầu trang

“Chây ỳ” không trả nhà công vụ: Đừng để “luật cho dân, lệ cho quan”

Mới đây, Bộ Xây dựng vừa ký loạt thông báo gửi 12 cựu quan chức yêu cầu trả lại nhà công vụ tại chung cư CT1-CT2, khu đô thị Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội. Điều đáng nói, thông báo đòi nhà đã được gửi tới 2-3 lần nhưng họ vẫn chưa trả lại nhà công vụ. Một lần nữ, người dân phải băn khoăn đặt câu hỏi: Phải chăng đang có chuyện “luật cho dân, lệ cho quan”?

Nhà công vụ, theo quy định của pháp luật là loại tài sản công, thuộc quyền quản lý của Nhà nước. Nhà nước dùng ngân sách để chi trả những chi phí trong quá trình cán bộ công chức đương chức có nhu cầu và đủ điều kiện sử dụng. Khi cán bộ công chức nghỉ hưu có nghĩa tài sản ấy phải được hoàn trả để tiếp tục sử dụng theo quy định.

Tuy nhiên, chuyện không đáng nói nếu nhà công vụ không bị chiếm giữ, sử dụng sai mục đích, việc này đã khiến dư luận không đồng tình. Bên cạnh những lãnh đạo chủ động trả lại nhà công vụ khi kết thúc thời gian công tác thì có không ít trường hợp không chịu trả lại. Cơ quan quản lý Nhà nước phải đi “đòi”, mà “đòi” nhiều lần, quan chức ấy vẫn không chịu trả, làm cho những cán bộ, đảng viên liêm chính, gương mẫu bị tổn thương. Bởi hầu hết những người này không khó khăn về nhà ở, thậm chí có người còn có nhà để cho thuê...

Việc quan chức về hưu phải trả nhà công vụ đã được quy định rất rõ tại Khoản 2 Điểm đ Điều 34 Luật Nhà ở 2014: “Trả lại nhà ở công vụ cho Nhà nước khi không còn thuộc đối tượng được thuê nhà ở hoặc khi không còn nhu cầu thuê nhà ở công vụ hoặc khi có hành vi vi phạm thuộc diện bị thu hồi nhà ở theo quy định của Luật này trong thời hạn không quá 90 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan quản lý nhà ở công vụ”.

Thực tế, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng nhà ở công vụ được quy định tại: Luật nhà ở 2005, Nghị định 71/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật Nhà ở, Nghị định 34/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nhà ở thuộc sở hữu nhà nước, Quyết định 09/2008/QĐ-TTg quy định nguyên tắc thiết kế và tiêu chuẩn sử dụng nhà ở công vụ, Thông tư 16/2010/TT-BXD hướng dẫn Luật nhà ở. Gần đây, có Luật Nhà ở 2014; Thông tư 01/2014/TT-BXD; Thông tư số 09/2015/TT-BXD hướng dẫn quản lý sử dụng nhà ở công vụ.

Các văn bản trên đều yêu cầu cán bộ, lãnh đạo được thuê nhà ở phải trả lại nhà cho đơn vị quản lý, vận hành nhà công vụ trong thời hạn 3 tháng từ khi “không còn nhu cầu sử dụng, không còn tiêu chuẩn thuê nhà công vụ, không còn giữ chức vụ lãnh đạo, khi chuyển công tác đi nơi khác...”. Thậm chí nêu rõ: “Không được chuyển đổi hoặc cho thuê lại dưới bất kỳ hình thức nào”.

Tuy nhiên, các quy định pháp luật còn thiếu, chỉ quy định chung chung. Cụ thể, đơn vị quản lý nhà ở công vụ chỉ có quyết định giao nhà ở công vụ mà không có hợp đồng thuê nhà, không quy định về việc thuê, giá thuê cụ thể, thời hạn thuê nhà ở công vụ...) do vậy việc thu hồi nhà ở công vụ của các cán bộ lãnh đạo của các Bộ, ngành thành phố trực thuộc Trung ương khi hết tiêu chuẩn nhà ở công vụ gặp khó khăn.

Luật sư Nguyễn Mạnh Hùng, Đoàn Luật sư TP. Hà Nội cho rằng, hiện nay chưa có quy định rõ ràng hoặc có các chế tài đối với việc chây ỳ trả nhà công vụ. Việc không tuân thủ quy định trả nhà khi về hưu hoặc không còn đáp ứng yêu cầu về sử dụng nhà công vụ được coi là vi phạm quy định của Luật Nhà ở và được xử lý theo quy định tại điều 179 Luật Nhà ở.

Tuy nhiên, việc áp dụng này trên thực tế rất khó khăn do cán bộ công chức được bố trí nhà có chức vụ quyền hạn nên còn nhiều nể nang. Do vậy, cần cụ thể hóa hành vi và có chế tài là điều cần thiết nếu cơ quan chức năng tiến hành sửa luật hoặc ban hành văn bản dưới luật.

Theo thông tin mới nhất được lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, sau khi báo chí phản ảnh thì một số cựu cán bộ lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương đã liên hệ, làm thủ tục để trả lại nhà. Đó mới là những con người có lòng tự trọng. Đừng để “luật cho dân, lệ cho quan”! (Suckhoedoisong.vn 4/5, Lâm Viên) Về đầu trang

Chọn đúng cán bộ: Dân được nhờ, cách mạng và đất nước phát triển

Nếu không tinh tường chọn đúng cán bộ để những người không đủ đức - tài vào cương vị lãnh đạo sẽ có hậu quả khôn lường, là tai họa của Đảng, hại nước, hại dân.

Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, Đảng ta đã phải thi hành kỷ luật gần 100 cán bộ cao cấp thuộc diện Trung ương quản lý, một số cán bộ đã bị xử lý hình sự. Để người không xứng đáng, sa sút về phẩm chất, đạo đức lọt được vào cương vị lãnh đạo là tai họa cho Đảng, là tạo điều kiện cho họ càng hại nước, hại dân nhiều hơn. Quan điểm này một lần nữa được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh tại Hội nghị cán bộ toàn quốc vừa qua và trong bài viết về một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng.

Đúng như quan điểm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, gần như đi đến đâu, ở chỗ nào cũng thấy cán bộ, đảng viên và nhân dân quan tâm theo dõi, băn khoăn lo lắng về những vấn đề nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Còn phát biểu trực tiếp tại Hội nghị cán bộ toàn quốc, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đặc biệt coi đó không chỉ đơn thuần là công việc có ý nghĩa "cực kỳ quan trọng" đối với việc tổ chức một Đại hội Đảng, mà là "công việc có ý nghĩa chiến lược gắn liền với vận mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước".

"Đừng nhìn gà hóa cuốc", "đừng thấy đỏ tưởng là chín"... những yêu cầu cũng là những trăn trở, nhắn nhủ chân tình của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhận được sự quan tâm sâu sắc, sự đồng cảm, chia sẻ của đông đảo nhân dân, cán bộ và Đảng viên, bởi chúng ta đã có những bài học đau xót về việc giới thiệu cán bộ không đủ phẩm chất và năng lực nhưng là cánh hẩu, là họ hàng, là lợi ích nhóm.

Một thực tế nữa là mỗi khi đến thời điểm chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ đại hội đảng bộ các cấp, có nơi, người đứng đầu còn đủ điều kiện tái cử chỉ lo giữ mình, né tránh, ngại va chạm, thiếu tích cực triển khai các mặt công tác, nhất là những việc khó, nhạy cảm, phức tạp vì sợ mất phiếu, ảnh hưởng đến bản thân, gây ra sự trì trệ trong xử lý, giải quyết công việc chung. Nhiều ý kiến cho rằng, cần phải tỉnh táo nhận diện sớm biểu hiện "phòng thủ từ xa" để không bị "cái mã bên ngoài nó che đậy cái sơ sài bên trong".

Trên tờ Tiền phong, đại biểu Quốc hội Lê Thanh Vân cho rằng: "Cái bên trong" mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói chính là trí tuệ và ý chí nung nấu của cán bộ với công việc chung. Cán bộ phải một lòng lo cho dân, cho nước. Còn "mã bên ngoài", đi xe sang, mặc hàng hiệu thì bất kể ở cấp nào cũng nên loại bỏ bớt.

Nhấn mạnh đây đều là những lời gan ruột của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, báo Vietnamnet bình luận: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước muốn nhắc đến một thực tế đó là đã có một thời gian dài, công tác giới thiệu cán bộ vẫn còn biểu hiện phe nhóm, cục bộ. Vẫn còn tình trạng "đỏ mà chưa chín". Hành động, việc làm mang tính khoe mẽ, đánh bóng tên tuổi, tạo dư luận để luồn sâu leo cao…

Nguyên Tổng Biên tập báo Nhân dân Hồng Vinh thì phân tích: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã không dưới 10 lần nhấn mạnh đến yếu tố bản lĩnh chính trị của cán bộ. Bản lĩnh chính trị chính là minh chứng cho thấy "yếu tố bên trong" có sơ sài hay không. Và một trong những biểu hiện là có dám chịu trách nhiệm khi chỉ đạo triển khai công tác hay không.

Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão nhấn mạnh, để lựa chọn được cán bộ như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói, cũng cần tin vào quần chúng, lắng nghe nhân dân bởi cán bộ cấp cao, cấp thấp như thế nào nhân dân đều biết hết.

Thực tế đã có một số cán bộ, làm việc gì, giữ chức vụ gì cũng chỉ tính đến lợi quyền, bổng lộc cho cá nhân mình, gia đình mình trước nhất, quên cả thanh liêm, danh dự, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Vì vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng một lần nữa nhấn mạnh, công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị. Đặc biệt, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu và ở những nơi có cán bộ được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII phải chịu trách nhiệm trước Tiểu ban Nhân sự, trước Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương về nhân sự do mình đề xuất, giới thiệu.

Trong bài viết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã rất kỳ vọng vào đội ngũ cấp chiến lược khi nhấn mạnh rằng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhất là vào những thời điểm quyết định hoặc có tính bước ngoặt lịch sử, vận nước đặt tất cả vào đội ngũ cán bộ này. Tìm cho ra được nhân sự cho Đại hội XIII của Đảng là nhiệm vụ "then chốt" của "then chốt". Ở nhiệm kỳ XII, Đảng ta đã tiến hành công tác hệ trọng này sớm hơn với các nhiệm kỳ trước với những bước đi bài bản, chặt chẽ, công tâm và khách quan, làm đến đâu chắc đến đó. Đến nay, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức được 4 lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ quy hoạch cấp chiến lược khóa XIII.

Lựa chọn đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đội ngũ tinh hoa của Đảng là vô cùng quan trọng, đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cả hệ thống chính trị phải làm việc với tinh thần trách nhiệm rất cao, với quyết tâm, nỗ lực rất lớn, có cách làm thật sự công tâm, khách quan, khoa học, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. (Vtv.vn 3/5) Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.028.900 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này