Bản tin cải cách hành chính ngày 03/8/2021

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Quyết liệt cải cách hành chính 2021-2030, tạo nền tảng hỗ trợ doanh nghiệp hồi sinh

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. TP.HCM đặt mục tiêu đưa 100% thủ tục hành chính lên trực tuyến

3. Quảng Ngãi: Giải pháp nâng cao chỉ số cải cách hành chính

4. Hải Dương: Chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực

5. Lào Cai: Tiếp nhận đơn thư tố cáo, phản ánh qua đường bưu điện từ ngày 3/8

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

6. Đảng viên bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được xử lý nội bộ

7. Bắc Giang: Kịp thời chấn chỉnh đạo đức công vụ, phòng ngừa tham nhũng

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

8. Cải cách mạnh mẽ thể chế để nâng tầm hội nhập quốc tế

9. Khi “gánh nặng” chứng chỉ tin học, ngoại ngữ với công chức chính thức được gỡ bỏ

10. Hỏa tốc ban hành, hỏa tốc thu hồi!

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Quyết liệt cải cách hành chính 2021-2030, tạo nền tảng hỗ trợ doanh nghiệp hồi sinh

Nghị quyết số 76/NQ-CP về Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030 được Chính phủ ban hành chỉ ra 6 nội dung cần cải cách mạnh mẽ, góp sức hỗ trợ các doanh nghiệp hồi sinh.

Theo đó, Chương trình tập trung vào 6 nội dung: Cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính (TTHC), cải cách tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước, cải cách chế độ công vụ, cải cách tài chính công và xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Trọng tâm cải cách hành chính 10 năm tới tập trung vào các lĩnh vực cải cách thể chế, trong đó tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế của nền hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thi hành pháp luật; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có năng lực, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển đất nước, trong đó, chú trọng cải cách chính sách tiền lương; xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.

Đồng thời, cải cách quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả quy định TTHC liên quan đến người dân, doanh nghiệp; TTHC nội bộ giữa cơ quan hành chính nhà nước; rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh, thành phần hồ sơ và tối ưu hóa quy trình giải quyết TTHC trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin; bãi bỏ các rào cản hạn chế quyền tự do kinh doanh, cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường đầu tư kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, minh bạch; đổi mới và nâng cao hiệu quả thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC. Đẩy mạnh thực hiện TTHC trên môi trường điện tử để người dân, doanh nghiệp có thể thực hiện dịch vụ mọi lúc, mọi nơi, trên các phương tiện khác nhau.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu đến năm 2025, tập trung cắt giảm, đơn giản hóa tối thiểu 20% số quy định và cắt giảm tối thiểu 20% chi phí tuân thủ quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh tại các văn bản đang có hiệu lực thi hành tính đến hết ngày 31 tháng 5 năm 2020. Hoàn thành việc đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính theo hướng nâng cao chất lượng phục vụ, không theo địa giới hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, giảm thời gian đi lại, chi phí xã hội và tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Tối thiểu 80% hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính được luân chuyển trong nội bộ giữa các cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc các cơ quan có liên quan được thực hiện bằng phương thức điện tử. Tối thiểu 80% thủ tục hành chính có yêu cầu nghĩa vụ tài chính, được triển khai thanh toán trực tuyến, trong số đó, tỷ lệ giao dịch thanh toán trực tuyến đạt từ 30% trở lên. (Tapchitaichinh.vn 03/8)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

TP.HCM đặt mục tiêu đưa 100% thủ tục hành chính lên trực tuyến

UBND TP.HCM vừa có văn bản 2538/UBND-KSTT về việc triển khai nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn TP.HCM.

Theo đó, thành phố đặt mục tiêu năm 2021 có 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 được cung cấp trên cổng dịch vụ công thành phố, 50% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp cổng dịch vụ công quốc gia.

Để đạt được mục tiêu này, thành phố yêu cầu các sở, ban, ngành chủ động rà soát, đánh giá, để xuất để xác định danh mục thủ tục hành chính đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.

Chậm nhất đến ngày 30/7/2021 phải trình Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt danh mục thủ tục hành chính đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.

Thành phố giao văn phòng uỷ ban hoàn thiện kế hoạch cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn thành phố năm 2021. Đồng thời theo dõi, đôn đốc và định kỳ tổng hợp báo cáo tình hình kết quả thực hiện các nhiệm vụ rà soát, đơn giản hóa quy trình, thủ tục xây dựng quy trình điện tử cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Bên cạnh đó,  giao văn phòng uỷ ban khẩn trương quyết định thành lập Ban quản lý dự án thuê dịch vụ “Cổng dịch vụ công Thành phố, hệ thống thông tin một cửa điện tử gắn với đánh giá hài lòng việc giải quyết thủ tục hành chính”. Xây dựng kế hoạch đấu thầu khoa học, phù hợp quy định pháp luật với điều kiện thực tiễn, thời hạn kết thúc đấu thầu chậm nhất trong Quý I/2022.

Sở TT&TT có nhiệm vụ hướng dẫn, hỗ trợ văn phòng uỷ ban thực hiện các thủ tục dự án thuê dịch vụ; tổ chức thẩm định, phê duyệt theo thẩm quyền, đảm bảo tiến độ thực hiện và sự chặt chẽ về pháp lý trong suốt quá trình thực hiện dự án.

Đồng thời, đánh giá chi tiết hiện trạng hệ thống cung cấp dịch vụ công trực tuyến, một cửa điện tử, đánh giá hài lòng tại các đơn vị thực hiện thủ tục hành chính trên địa bàn thành phố; việc triển khai, xây dựng chính quyền điện tử tại thành phố. (Ictnews.vietnamnet.vn 03/8, Hải Đăng)Về đầu trang

Quảng Ngãi: Giải pháp nâng cao chỉ số cải cách hành chính

Mặc dù Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều nỗ lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nhưng năm 2020, tỉnh này vẫn đứng vị trí thứ 63/63 tỉnh, thành phố về chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX). Tính cả giai đoạn 2015 - 2020, thì có 2 năm tỉnh ta đứng cuối bảng, các năm còn lại thì nằm trong nhóm áp chót.

Vì sao tỉnh đưa ra nhiều giải pháp, nhưng kết quả lại không đạt? Vì sao người dân, doanh nghiệp (DN) lại chấm điểm cung cách làm việc của bộ máy hành chính công thấp? Vậy đâu là giải pháp để nâng bậc thứ hạng trong bảng xếp hạng PAR INDEX của tỉnh năm 2021 và các năm tiếp theo? Đó là những câu hỏi cần được trả lời thỏa đáng để Quảng Ngãi thoát khỏi nhóm "đội sổ" trong bảng xếp hạng PAR INDEX.

Giám đốc Sở Nội vụ Tạ Công Dũng cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến công tác cải cách hành chính (CCHC) của tỉnh luôn đứng trong nhóm cuối bảng xếp hạng. Trong đó, phải kể đến là chi phí thời gian quá nhiều. Đơn cử như, tỷ lệ DN, người dân dành hơn 20% quỹ thời gian để tìm hiểu các quy định trong quá trình thực hiện nhiệm vụ là bất cập. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền về pháp luật, các quy định còn hạn chế.

Ngoài ra, ý thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức chưa cao; công tác liên kết giữa các sở, ngành trong giải quyết chưa nhịp nhàng... “Để nâng cao chỉ số CCHC cần đẩy mạnh tuyên truyền, xử lý nghiêm cán bộ vi phạm về giải quyết việc công. Tăng cường đối thoại với DN, người dân để lắng nghe và kịp thời tháo gỡ những vướng mắc. Nghiên cứu lại các quy định do tỉnh ban hành liên quan đến thủ tục, hồ sơ. Hạn chế tối đa tình trạng hồ sơ đi đường vòng”, ông Dũng kiến nghị.

Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Văn Minh chỉ rõ: Chúng ta đổ lỗi về nhiều nguyên nhân, nhưng cũng cùng một cơ chế, chính sách, pháp luật như nhau, mà các tỉnh, thành phố khác lại làm tốt, còn Quảng Ngãi thì không bật lên được. Do đó, phải xem lại chính mỗi cá nhân, tổ chức khi thực hiện nhiệm vụ đã làm hết trách nhiệm chưa? Một bộ phận vẫn còn thiếu tinh thần trách nhiệm trong chỉ đạo, trong tổ chức thực hiện CCHC dẫn đến trì trệ.

“Kỷ luật, kỷ cương hành chính chưa thực hiện nghiêm, người đứng đầu thiếu quyết tâm trong xử lý. Người làm sai không kiểm điểm, người làm tốt không được khen thưởng kịp thời, dẫn đến “ách tắc”. Ở bộ phận giải quyết TTHC cấp huyện, xã có làm nhưng làm không đến nơi đến chốn, làm mang tính đối phó vẫn còn diễn ra. Việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho DN, nhà đầu tư chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, thiếu quyết liệt, tình trạng nhũng nhiễu vẫn còn... dẫn đến người dân, DN “mệt mỏi” chấm điểm thấp là khó tránh khỏi. Phải nghiêm túc nhìn nhận điểm yếu đó và đề ra giải pháp khắc phục”, Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Văn Minh chỉ đạo.

Để nâng cao kết quả trong việc thực hiện CCHC, UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch rà soát đánh giá TTHC năm 2021, trong đó yêu cầu các đơn vị cắt giảm tối thiểu 10% chi phí mà các cá nhân, tổ chức chi ra để thực hiện TTHC; trình và công bố danh mục TTHC tiếp nhận trực tuyến mức độ 3, 4 trên địa bàn tỉnh; kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; rà soát và đơn giản hóa các TTHC; triển khai dịch vụ công chứng bản sao điện tử từ bản chính trên Cổng dịch vụ công trực tuyến quốc gia; thực hiện số hóa kết quả giải quyết TTHC...

Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Văn Minh cho rằng, để nâng cáo kết quả CCHC, mà trước mắt là trong năm 2021, đứng vào nhóm trung bình của cả nước, các cấp, ngành, địa phương phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm chính trị cao nhất của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp, các ngành trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Tập trung khắc phục triệt để những tồn tại, hạn chế; chấm dứt ngay tình trạng trì trệ, cần hành động, thay đổi mạnh mẽ trong thời gian tới.

“Kể từ năm 2021 sẽ tổ chức đánh giá, công bố sớm kết quả CCHC của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố (dự kiến trước tháng 12) để làm cơ sở đánh giá xếp loại người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ CCHC. Trong đó, sẽ xây dựng và ban hành Quy định một số biện pháp chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương hành chính thay cho quy định cũ. Cụ thể, sẽ xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ đối với thủ trưởng các sở, ngành, địa phương không hoàn thành, hoặc hoàn thành chậm trễ 30% nội dung công việc do cấp có thẩm quyền giao trong năm", Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Văn Minh nhấn mạnh. (Baoquangngai.vn 02/8, Lê Đức)Về đầu trang

Hải Dương: Chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực

Sở Tư pháp Hải Dương đề nghị cần chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính.

Sau 6 năm thực hiện Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch và các văn bản hướng dẫn thi hành, công tác này trên địa bàn tỉnh Hải Dương đạt những kết quả nhất định. Đến nay, đã cơ bản đáp ứng yêu cầu chứng thực của tổ chức, công dân tại địa phương trong tình hình mới.

Theo báo cáo của Sở Tư pháp, từ ngày 01/4/2015 đến ngày 30/4/2021 toàn tỉnh đã thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính 6.585.997 bản; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản 205.865 việc; chứng thực chữ ký người dịch 17.719 việc; chứng thực hợp đồng, giao dịch 147.836 việc.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Sở Tư pháp Hải Dương cũng chỉ rõ những khó khăn: đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch, chứng thực hiện nay còn ít so với yêu cầu nhiệm vụ được giao và thường xuyên luân chuyển công tác trong khi số lượng việc chứng thực ngày càng tăng nên các đơn vị thực hiện chứng thực gặp nhiều khó khăn trong triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao.

Việc thực hiện Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ đối với một số cơ quan, đơn vị còn chưa nghiêm, vẫn còn tình trạng một số cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận bản sao từ sổ gốc, bản sao chứng thực từ bản chính vẫn yêu cầu công dân xuất trình bản chính.

Bên cạnh đó, hiện nay kỹ thuật làm giả các giấy tờ, tài liệu ngày càng tinh vi, thời gian quy định chứng thực bản sao từ bản chính ngăn nên rất khó phát hiện các trường hợp làm giả giấy tờ, tài liệu. Chưa có quy định về thời hạn sử dụng bản sao từ bản chính nên cũng gây khó khăn cho các cơ quan khi tiếp nhận, giải quyết các thủ tục hành chính.

Từ các khó khăn này, Sở Tư pháp Hải Dương đề nghị tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về chứng thực và các quy định pháp luật có liên quan đến chứng thực; tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về công tác chứng thực cho đội ngũ làm công tác chứng thực tại địa phương.

Đặc biệt, các cấp ngành cần tiếp tục chỉ đạo việc thực hiện Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 20/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh tình trạng lạm dụng yêu cầu nộp bản sao có chứng thực đối với giấy tờ, văn bản khi thực hiện thủ tục hành chính. (Baophapluat.vn 03/8, Bình An)Về đầu trang

Lào Cai: Tiếp nhận đơn thư tố cáo, phản ánh qua đường bưu điện từ ngày 3/8

Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai vừa ban hành Công điện số 05/CĐ-UBND về việc tăng cường thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong đó có nội dung tạm dừng tiếp công dân trực tiếp tại trụ sở các cấp và khuyến khích việc gửi đơn thư tố cáo, kiến nghị qua đường bưu điện.

Nội dung công điện nêu rõ, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh, Hà Nội và các tỉnh phía Nam, để chủ động ngăn chặn, ứng phó với dịch bệnh trên địa bàn tỉnh, bảo vệ sức khỏe và tính mạng của nhân dân, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai yêu cầu các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo tổ chức thực hiện các nội dung cụ thể như sau:

Các sở, ban, ngành, đoàn thể, UBND các huyện, thị xã, thành phố thống nhất nhận thức và hành động, quán triệt sâu sắc tinh thần “chống dịch như chống giặc”, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và mọi người dân, đề cao kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm của người đứng đầu. Tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của nhân dân là mục tiêu tối thượng, quyết tâm cao hơn nữa, nỗ lực cố gắng hơn nữa trong thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống dịch theo chỉ đạo của Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19, Tỉnh ủy, UBND tỉnh về phòng, chống dịch COVID-19, huy động toàn dân, toàn quân, phát huy hiệu quả công tác phòng, chống dịch theo phương châm “bốn tại chỗ”.

Đề nghị người dân không ra khỏi nhà khi không cần thiết. Khi có việc cần ra khỏi nhà phải thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch. Không tụ tập từ 20 người trở lên ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện; yêu cầu thực hiện khoảng cách tối thiểu 1m giữa người với người.

Các dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp khuyến khích tiếp nhận thủ tục hành chính trực tuyến. Tạm dừng việc tiếp công dân tại trụ sở các cấp (bố trí lịch tiếp sang một thời gian thích hợp), đề nghị người dân gửi các ý kiến, kiến nghị, phản ánh, đơn, thư khiếu nại, tố cáo… qua đường bưu điện. (Thanhtra.com.vn 03/8)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đảng viên bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được xử lý nội bộ

Mới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Quy định 22 về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng.

Theo đó, nguyên tắc trong kiểm tra, giám sát và kỷ luật Đảng phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Cùng với đó chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Khi các vụ vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe và giáo dục.

Quy định cũng nêu rõ kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại. Tổ chức đảng sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng, phải chỉ đạo hoặc đề nghị ngay với các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính, đoàn thể hoặc xử lý hình sự cho đồng bộ, kịp thời.

Đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp ủy các cấp quản lý đã nghỉ hưu, nếu phát hiện có vi phạm khi đang công tác thì thẩm quyền thi hành kỷ luật của các tổ chức đảng được thực hiện như đang đương chức; nếu có vi phạm khi đã nghỉ hưu thì do tổ chức đảng quản lý đảng viên đó xử lý kỷ luật theo thẩm quyền.

Về thẩm quyền xử lý, Quy định 22 nêu rõ, Ban Bí thư, Bộ Chính trị quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Ban Bí thư, Bộ Chính trị quản lý; khiển trách, cảnh cáo Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (kể cả Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Trường hợp cách chức, khai trừ thì Ban Bí thư, Bộ Chính trị báo cáo Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định.

Ban Chấp hành Trung ương là cấp quyết định kỷ luật cuối cùng; quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư.

Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý công minh, chính xác, kịp thời; tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải kỷ luật đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh.

Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì chuyển cơ quan có thẩm quyền giải quyết, không được xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước, của tổ chức, cá nhân thì phải xem xét trách nhiệm và bồi hoàn. (Kienthuc.net.vn 03/8, Hiểu Lam)Về đầu trang

Bắc Giang: Kịp thời chấn chỉnh đạo đức công vụ, phòng ngừa tham nhũng

Tăng cường kiểm tra chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật hành chính, nâng cao đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ là một trong những giải pháp của công tác phòng, chống tham nhũng. Ở Bắc Giang, nội dung này thường xuyên được quan tâm, qua đó góp phần kiểm soát, phòng ngừa tham nhũng.

Cuối năm 2020, một số cán bộ xã, thôn ở xã Yên Lư (Yên Dũng) bị kỷ luật do vi phạm trong công tác bình xét hộ nghèo. Rút kinh nghiệm sâu sắc từ vụ việc này, Đảng ủy, UBND xã tập trung siết chặt kỷ cương, kỷ luật hành chính; chú trọng giáo dục, nâng cao tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, công chức.

Ngoài thường xuyên kiểm tra, nắm bắt tiến độ giải quyết công việc ở từng lĩnh vực, lãnh đạo xã phân công cán bộ văn phòng UBND xã trực tiếp theo dõi, đôn đốc việc thực hiện quy định về thời gian, lề lối làm việc, kịp thời báo cáo để có biện pháp nhắc nhở, chấn chỉnh.

Nhờ vậy từng bước tạo được chuyển biến tích cực trong thực thi công vụ. Điều này thể hiện qua việc cán bộ xã trách nhiệm, tận tình hơn với công việc, bám sát kế hoạch công tác theo từng tuần; tỷ lệ giải quyết thủ tục hành chính đúng và trước hạn cao, đạt hơn 95%...

Tương tự, huyện Lục Nam thành lập và duy trì tổ công tác với hai nhóm do lãnh đạo Phòng Nội vụ và Văn phòng Huyện ủy phụ trách. Năm 2020 và 6 tháng đầu năm nay, các nhóm thực hiện hơn 30 cuộc kiểm tra toàn diện từ cơ sở đến các phòng, ban của huyện.

Qua đó, một số xã như: Tiên Nha, Lan Mẫu, Đan Hội và Phòng Tài chính - Kế hoạch đã được yêu cầu nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm, chỉ đạo cán bộ chấn chỉnh lề lối làm việc. Đồng chí Lương Thế Toán, Phó Chánh Văn phòng Huyện ủy cho biết: “Thông qua kiểm tra thường xuyên, kỷ cương, kỷ luật hành chính ở các cấp được siết chặt. Tinh thần trách nhiệm trước công việc và tính trung thực, liêm chính của đội ngũ cán bộ được nâng lên”.

Xác định việc chấn chỉnh kỷ luật, nâng cao trách nhiệm đạo đức công vụ cho cán bộ, công chức, viên chức là một trong những cách làm hiệu quả để tạo chuyển biến về chất lượng thực hiện nhiệm vụ, góp phần phòng ngừa tham nhũng, nhiều năm qua tỉnh Bắc Giang đã tích cực triển khai biện pháp này.

Thực tế, Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 4/7/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; Chỉ thị số 01-CT/UBND ngày 8/1/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh đều chỉ rõ mục đích yêu cầu, những giải pháp tập trung vào việc chấn chỉnh lề lối, tác phong làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính khi thực thi công vụ.

Quán triệt các văn bản chỉ đạo trên, Sở Nội vụ thành lập các tổ kiểm tra việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập, các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn. Tính từ đầu năm 2020 đến nay, các tổ thực hiện kiểm tra tại 10 đơn vị trực thuộc sở, ngành tỉnh; 14 lượt tại bộ phận một cửa UBND các huyện, TP cùng hàng chục lượt đối với UBND xã, phường, thị trấn.

Thông qua đây, nhiều biểu hiện tiêu cực hay chưa nghiêm túc trong quá trình thực thi công vụ ở các đơn vị được chấn chỉnh, xử lý kịp thời. (Baobacgiang.com.vn 03/8, Tùng Chi)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cải cách mạnh mẽ thể chế để nâng tầm hội nhập quốc tế

Để những chủ trương và giải pháp về hội nhập quốc tế được nêu trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đi vào cuộc sống, trong giai đoạn tới, Chính phủ cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ thể chế theo hướng đồng hành, tạo ra những lợi ích để chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp; đưa doanh nghiệp vươn tầm thế giới.

Theo TS Lý Hoàng Mai – Viện Kinh tế, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, hội nhập quốc tế là một chủ trương, chiến lược hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, là một bước chuyển tư duy mang tính đột phá chiến lược, đem lại cho đất nước các điều kiện để phát triển và một vị thế chưa từng có so với giai đoạn trước đây. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã có những nội dung kế thừa và phát triển các nhận thức lý luận về hội nhập quốc tế, nâng tầm hội nhập quốc tế lên mức cao hơn khi nhấn mạnh nội dung chủ động, tích cực, toàn diện, sâu rộng.

Phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025 đã đề ra mục tiêu tổng quát: “Chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế”. Nội hàm của yêu cầu chủ động hội nhập và tích cực của Văn kiện Đại hội XIII có bước tiến hơn so với giai đoạn trước khi đặt ra nhiệm vụ phải đạt được hiệu quả để nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế cho công tác đối ngoại. Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, Đảng đã đưa ra quan điểm phát triển về hội nhập lên một tầm cao mới khi khai thác nội dung tích cực, toàn diện, sâu rộng để phục vụ cho mục tiêu xây dựng nền kinh tế tự chủ, đặc biệt là tự chủ về công nghệ nhằm nâng cao năng lực sản xuất quốc gia để cải thiện vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Qua 35 năm tiến hành đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong hội nhập quốc tế, hội nhập tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế, cải thiện cơ cấu xuất khẩu, cân bằng cán cân thương mại. Điều này cho thấy chủ trương đúng đắn, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Đánh giá về kết quả trong công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển có những bước tiến quan trọng về chủ trương, chính sách cũng như triển khai trên thực tiễn, cùng với quốc phòng và an ninh đã củng cố môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế”.

Văn kiện Đại hội XIII đã đề ra mục tiêu hội nhập trong giai đoạn tới của Việt Nam là tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Để đạt được mục tiêu nêu trên, Văn kiện đã đề ra mười nhiệm vụ, giải pháp liên quan đến hội nhập quốc tế. Trong đó, nhiệm vụ, giải pháp đầu tiên là khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, không để phụ thuộc quá lớn vào một thị trường. Cùng với đó là tích cực đàm phán các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Nâng cao hiệu quả hoạt động của các đại diện thương thương mại, xúc tiến thương mại của Việt Nam tại các quốc gia.

TS Lý Hoàng Mai cho rằng, những nhiệm vụ và giải pháp liên quan đến hội nhập quốc tế mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã đề ra là phù hợp với bối cảnh mới của quốc tế và trong nước. Tuy nhiên, để những chủ trương và giải pháp này đi vào cuộc sống, trong giai đoạn tới, Chính phủ cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ thể chế theo hướng đồng hành, tạo ra những lợi ích để chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp; đưa doanh nghiệp vươn tầm ra thế giới bằng những thể chế ưu tiên, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. (Baophapluat.vn 03/8, Minh Ngọc)Về đầu trang

Khi “gánh nặng” chứng chỉ tin học, ngoại ngữ với công chức chính thức được gỡ bỏ

Thông tư số 02/2021/TT-BNV của Bộ Nội vụ đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8/2021, trong đó có một quy định được chờ đợi nhiều, đó là tất cả các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và văn thư đã không còn yêu cầu chứng chỉ về trình độ ngoại ngữ và tin học trong tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng.

Như nhiều ý kiến nhận định, đây là quy định rất phù hợp thực tiễn, giúp nhiều công chức, viên chức thở phào “bỏ được gánh nặng” chứng chỉ. Trước khi ban hành Thông tư 02/2021/TT-BNV quy định mã số, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ và xếp lương đối với các ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức văn thư này, Bộ Nội vụ đã Bộ Nội vụ đề xuất, kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ một số nội dung như: Đề nghị bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ, tin học trong công tác tuyển dụng, bổ nhiệm, nâng ngạch công chức, thăng hạng viên chức, bao gồm: Bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ ngoại ngữ của 74 ngạch công chức và 155 chức danh nghề nghiệp viên chức; bỏ quy định bắt buộc về chứng chỉ tin học của 74 ngạch công chức và 142 chức danh nghề nghiệp viên chức.

Điểm mới của Thông tư này là chính thức bãi bỏ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ về chứng chỉ ngoại ngữ và chứng chỉ tin học của công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư.

Cụ thể, đối với ngạch chuyên viên cao cấp, về tiêu chuẩn trình độ đào tạo bồi dưỡng, Thông tư 02 của Bộ Nội vụ chỉ yêu cầu bằng tốt nghiệp đại học ngành phù hợp trở lên; bằng tốt nghiệp cao cấp lý luận chính trị hoặc bằng cao cấp lý luận chính trị - hành chính hoặc giấy xác nhận trình độ tương đương; chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo chuẩn ngạch chuyên viên cao cấp.

Đối với ngạch chuyên viên chính, chuyên viên, tiêu chuẩn về trình độ đào tạo bồi dưỡng là: Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên với ngành hoặc chuyên ngành đào tạo phù hợp lĩnh vực công tác; có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch chuyên viên hoặc chuyên viên chính.

So với quy định hiện hành, tất cả ngạch công chức chuyên ngành hành chính và công chức chuyên ngành văn thư không còn cần chứng chỉ ngoại ngữ, tin học. Tuy nhiên, hai loại công chức này phải có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản, sử dụng được ngoại ngữ ở trình độ tương đương với yêu cầu của vị trí việc làm.

Đón nhận quy định này, nhiều ý kiến đồng tình, thực tế chương trình học tập của các cấp học đã giúp học sinh, sinh viên được trang bị kiến thức về ngoại ngữ, tin học. Hiện các cơ sở đào tạo đã có quy định về chuẩn đầu ra phải đạt trình độ ngoại ngữ, tin học theo các cấp độ tương ứng, chính vì vậy, việc cho phép sử dụng bằng tốt nghiệp chuyên môn, trong đó có đào tạo liên quan liên quan đến ngoại ngữ, tin học để thay thế cho các loại chứng chỉ về ngoại ngữ, tin học là hoàn toàn hợp lý. Quy định như vậy vừa giản lược thủ tục hành chính; vừa tránh lãng phí về thời gian, công sức, tiền của cho công chức, viên chức.

Theo Phó Vụ trưởng Vụ Công chức Viên chức (Bộ Nội vụ) Nguyễn Tư Long, chúng ta đang thực hiện quản lý công chức theo vị trí việc làm, nên việc giảm văn bằng chứng chỉ cũng có nghĩa đối với những vị trí việc làm nào cần thiết tương ứng với trình độ nào thì mới cần đáp ứng ở trình độ như vậy, sẽ giảm rất nhiều hệ quả của văn bằng chứng chỉ. Như một công chức làm ở vị trí việc làm không cần đến trình độ tiếng Anh B2, B1 nhưng nếu vẫn yêu cầu những công chức đó đi học thì sẽ dẫn đến hệ quả là mua văn bằng chứng chỉ, văn bằng chứng chỉ giả…

Từ tính toán về lợi ích về kinh tế của Bộ Nội vụ cũng cho thấy, về tổng thể, ví dụ cứ 1 văn bằng chứng chỉ đi học 2,5-3 triệu. Đội ngũ công chức có khoảng 300.000 người, nếu khoảng 200.000 người phải đi hoàn thiện trong thời gian còn lại, nhân lên có thể tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng, chưa kể thời gian, chi phí xã hội,  phức tạp trong quá trình phải đi học.

Nhiều chuyên gia về pháp luật cũng đánh giá, quy định mới này là rất cần thiết và kịp thời. Mặc dù chúng ta không phủ nhận giai đoạn đầu, nhu cầu phát triển, nâng cao năng lực công chức, viên chức, mỗi người phải trang bị về kiến thức tin học ngoại ngữ. Nhưng so với xu thế phát triển, việc bắt buộc có chứng chỉ ngoại ngữ và tin học là không cần thiết. Hơn nữa, về mặt xã hội, quy định mới cũng làm triệt tiêu những tiêu cực phát sinh như làm giả bằng cấp, cơ sở đào tạo “mua bán” bằng cấp…

Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng và yêu cầu công việc,  mỗi công chức, viên chức vẫn cần nâng cao trình độ để đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm. Đồng thời, theo ý kiến từ cơ sở, trong Thông tư vẫn có quy định ràng buộc tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể ứng với từng ngạch công chức. Do đó, việc thẩm định trình độ kỹ năng ngoại ngữ và tin học như thế nào để đáp ứng yêu cầu vị trí việc làm thì cần có quy định, hướng dẫn cụ thể để tạo điều kiện cho các đơn vị thực hiện. (Kinhtedothi.vn 02/8, Nguyễn Vũ)Về đầu trang

Hỏa tốc ban hành, hỏa tốc thu hồi!

Không khó để có thể chỉ ra các văn bản vừa được  các  cơ  quan  chức  năng  ban hành hỏa tốc nhằm giải quyết những vấn đề mới phát sinh, lại hỏa tốc thu hồi bởi những dữ liệu chưa tính toán kỹ lưỡng khi ban hành. Đơn cử, ngày 26.7.2021, Bộ Y tế đã ký thu hồi Công văn 5944 về việc tăng cường, phòng chống dịch Covid-19 bằng thuốc cổ truyền và sản phẩm từ dược liệu được ban hành vào ngày 24.7.2021 - tức là chỉ trước đó 2 ngày.

Hay, ngày 3.6.2021 khi UBND thị trấn Đông Anh (huyện Đông Anh, TP Hà Nội) ra Công văn số 178/UBND về việc khảo sát sử dụng vaccine tại địa phương này. Công văn nêu rõ tổ chức thống kê, đăng ký, cam kết tự nguyện với việc tiêm vaccine của cá nhân theo từng hộ gia đình, bảo đảm tính chính xác của số liệu bằng văn bản; đồng thời khẳng định “Kinh phí tiêm vaccine sẽ do người sử dụng tự chi trả”. Tuy nhiên, vào ngày 10.6.2021, UBND thị trấn Đông Anh đã ra Công văn số 186/UBND thu hồi công văn trên, trong đó nêu rõ “kinh phí tiêm vaccine sẽ do người sử dụng tự chi trả” là sai nội dung.

Liên quan đến việc kiến nghị, xử lý văn bản trái pháp luật, theo thống kê của Bộ Tư pháp, năm 2018, cơ quan này đã kiến nghị xử lý 84 văn bản (27 văn bản cấp bộ và 57 văn bản cấp tỉnh); năm 2019 kiến nghị xử lý 165 văn bản (13 văn bản cấp bộ và 152 văn bản cấp tỉnh); năm 2020 kiến nghị xử lý 68 văn bản (6 văn bản cấp bộ và 62 văn bản cấp tỉnh)… có nội dung không phù hợp với quy định của pháp luật.

Có thể kể đến một số nguyên nhân của tình trạng trên là nhận thức về công tác xây dựng, ban hành văn bản của cán bộ, công chức một số bộ, ngành, địa phương còn chưa đầy đủ; quy trình ban hành văn bản, nhất là đánh giá tác động, lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp trong nhiều trường hợp còn được thực hiện chưa thực chất; năng lực của một bộ phận công chức làm công tác xây dựng văn bản chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ… Đặc biệt, gần đây những vấn đề kinh tế - xã hội mới nảy sinh có chiều hướng gia tăng, trong khi các điều kiện bảo đảm cả về con người và cơ sở vật chất cho công tác xây dựng pháp luật chưa tương xứng.

Trước thực tế nhiều bộ, ngành, địa phương phải ban hành văn bản hỏa tốc để thu hồi văn bản đã ban hành, không ít ý kiến cho rằng, cần phải có chế tài cụ thể. Tuy nhiên, nếu soi chiếu vào các văn bản hiện hành liên quan đến vấn đề này như Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn thì đều quy định rõ: Cán bộ, công chức trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ lỗi, nội dung trái pháp luật của văn bản, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Vậy, vấn đề chính là việc thi hành các quy định này như thế nào? Cho đến nay thì hầu như chưa có cá nhân nào bị áp dụng những quy định nêu trên. Thực tế, việc xác định lỗi trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật là rất khó. Bởi một văn bản quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức liên quan thực hiện với nhiều khâu, đoạn (soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thông qua, ký ban hành…); việc xác định, cá biệt hóa trách nhiệm phải căn cứ vào tính chất, mức độ lỗi và nội dung trái pháp luật của văn bản.

Đây là vấn đề không hề đơn giản, nhất là khi chưa có được  thước đo chuẩn về sự thiệt hại của việc ban hành văn bản trái pháp luật. Hơn nữa, quá trình thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho thấy, hệ thống pháp luật còn đang bỏ ngỏ, chưa quy định về trình tự, thủ tục cho việc soạn thảo, ban hành, thu hồi hay xử lý văn bản cá biệt trái pháp luật. (Đại biểu nhân dân 03/8, Đình Khoa)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.012.749 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này