Chi tiết tin - Quảng Bình
Dãy núi Lệ Đệ - Tiềm năng văn hóa du lịch Quảng Bình
Dãy núi Lệ Đệ không chỉ là một danh thắng đẹp mà còn là một di tích lịch sử gắn với nhiều truyền thuyết, nhiều kỳ tích và danh nhân nổi tiếng trong lịch sử đất nước. Theo Lê Quý Đôn viết trong “Phủ biên tạp lục” thì “Khi mới dựng nước, quân Trịnh vào lấn, nguyên soái Tôn Thất Hiệp đem quân đánh phá, đuổi đến núi Lệ Đệ. Tương truyền: Xưa kia, nơi đây rừng núi rậm rạp, cây cối nhiều tầng nhiều lớp. Trong rừng có nhiều muông thú, nhiều khe suối uốn lượn lờ qua những cồn cát trong vắt rồi hòa vào biển cả. Trong cảnh sơn thủy hữu tình, hàng năm, các nàng tiên trên trời thường xuống đây quần tụ. “Chuyện kể rằng, xưa kia khi đánh chiếm được Nam Chiếu, được vua Đường cử làm Tiết độ sứ quận Giao Châu (nước Việt xưa) Cao Biền đã cưỡi diều bay đến nhiều nơi để yểm bùa những vùng đất có sinh khí. Vừa yểm bùa, Cao Biền vừa thu vét vàng bạc, sản vật quý ở các địa phương gửi về thượng quốc. Vì vậy, diều Cao Biền đi đến đâu Nhân dân trong vùng căm ghét thường đuổi đánh. Lần đó, bay từ Bắc vào Nam, Cao Biền đã thu được nhiều vàng bạc châu báu. Qua dãy Hoành Sơn, địa đầu vùng đất Nhật Nam, vàng bạc, châu báu thu vén đã nặng, Cao Biền muốn hạ cánh cất giấu số vàng bạc đã cướp được nhưng núi non hiểm trở lại bị dân các làng bắn tên nỏ tới tấp làm cho y không thể nào đáp xuống được. Vượt qua dòng Linh Giang, ở phía hạ nguồn, Cao Biền thấy trước mắt là một vùng núi điệp trùng, tuy không cao, hiểm trở nhưng nhiều suối khe rừng rậm có thể cất giấu được số vàng bạc châu báu và đó chính là vùng núi Lệ Đệ với những dãy núi giăng dày thành dãy lan ra tận biển. Cánh diều Cao Biền hạ xuống cất giấu số của cải cướp được vào trong dãy núi hiểm trở. Theo truyền thuyết dân gian kể lại, Cao Biền đựng vàng bạc, châu báu trong những cái hũ bằng sứ, rồi phù phép đẩy sâu vào lòng núi lấy đá lấp kín lại”.
Lại có chuyện kể rằng: Lý Thái Tông năm Minh Đạo thứ 2 đích thân đi đánh Chiêm Thành, đi đến núi Ma Cô có đám mây tía đỡ mặt trời, khi qua vụng Hà Não có mây đẹp che thuyền ngự, theo thuyền đi và dừng. Nhìn lên đỉnh Lệ Đệ, thấy có nhiều tiên nữ từ thượng giới bay về cõi trần hướng ra biển Đông, vui đùa múa hát. Biết có điềm lành, vua vội lập đàn khấn vái. Sau khi đại thắng trở về nhớ lại chuyện cũ bèn cho lập Chùa Hang dưới chân núi Đệ Thê để nhớ ngày Ma Cô tiên giáng, Thuyền ngự quần tụ mây lành.
Cũng tại nơi đây có pho tình sử mà duyên phận đôi lứa gắn liền với lịch sử phân tranh giữa hai họ Nguyễn - Trịnh ở thế kỷ XVII. Người địa phương kể rằng: Mái núi Đá Mài khi đổ xuống phía Tây Nam gặp một cái khe gọi là Khe Ngọc. Núi ấy cũng gọi là núi Ngọc. Ở gần đó có một giếng nước, cũng gọi là Giếng Ngọc. Những nơi đó ghi lại chuyện nàng công chúa Ngọc Hoa, con gái của chúa Nguyễn yêu một viên tướng trẻ. Vị tướng này vừa có tài võ vừa giỏi văn, ăn nói, đối đáp lưu loát, thông minh nên được chúa Nguyễn cử cầm đầu một phái đoàn ra Bắc tâu trình công việc với vua Lê và thương lượng với chúa Trịnh về việc nước. Nhưng vì lý do nào không rõ mà bị chúa Trịnh bắt giữ lại không cho về. Ngọc Hoa thương nhớ người yêu, ra tận sông Gianh chờ đợi. Hàng ngày, Ngọc Hoa lên ngọn núi Đá Mài trông ra Thăng Long như hình ảnh Vọng Phu trông chồng thuở nào! Những lúc đói, lúc khát, nàng lại tìm xuống khe, đến giếng nước vục tay múc nước uống, rồi lên đồi tìm sim, tìm ổi... Ngày ngày, công chúa Ngọc Hoa lên sườn núi Đá Mài trong dãy Lệ Đệ ngóng về phương Bắc gửi theo gió nỗi lòng cô đơn, buồn tủi. Nước mắt nàng chảy thành suối dưới chân núi Đá Mài không bao giờ cạn như mối tình chung thủy sắt son sống mãi cùng năm tháng. Cuối cùng Ngọc Hoa đã chết khô trên sườn núi. Người đời thương tiếc đã đặt tên cho những nơi nàng đã sống trong những ngày đau khổ bằng một danh từ đẹp nhất: Mái Ngọc, Khe Ngọc, Giếng Ngọc. Những cồn, lòi hiện nay mang tên Cồn Sim, Lòi Ổi tuy không phải lắm sim, nhiều ổi nhưng nó cũng được đưa vào dân ca, bởi lẽ nơi đó Ngọc Hoa đã từng “đói lòng ăn nửa trấy (trái) sim – Uống lưng hụm (búng) nác (nước) đi tìm người thương...”.
Từ trên dãy Lệ Đệ, nhiều ngọn gài nhau lô xô chạy ra biển. Những tảng núi đá cuối cùng dừng lại bên chân sóng trong vịnh Hà Não (nay gọi là Đá Nhảy). Nguyễn Khuyến cũng từng qua đèo Lý Hòa và đã có thơ:
“Núi non chững lại dứt đầm ao
Vời vợi trong xanh ngát một màu
Trên dưới nước liền trời biếc biếc
Đêm ngày bờ gọi sóng xôn xao
Non như mảnh lá con thuyền đó
Trông dứt làn da xứ sở nào
Có ai đấy cũng như ta vậy
Cũng mỗi phương trời mỗi bãi lau”
Đứng trên bất kỳ một điểm nào của dãy Lệ Đệ, trước mắt mọi người là một thắng cảnh tuyệt vời, với biển cả mênh mông, tung sóng bạc màu lên đầu của một bãi đá nhiều hình thù như một vườn thú đủ loại con vật đang phơi mình trên bờ biển. Có hòn tựa mâm xôi, có hòn như đôi gà trống đang chọi nhau, có hòn cao thẳng đứng như cây trụ chống trời... Dưới chân những hòn núi đá là vô vàn hòn đá nhỏ nhẵn thín tựa những quả trứng xếp chồng lên nhau và bãi cát vàng thoai thoải ra biển, tạo nên một bãi tắm Đá Nhảy và là nơi du lịch sinh thái tuyệt vời, thu hút hàng vạn khách muôn nơi đến thưởng thức. Sát với bờ biển là đường Thiên Lý Bắc Nam chạy qua. Thuở thiếu thời, khi theo cha vào Huế, Bác Hồ đã đi qua, tận mắt nhìn thấy thắng cảnh Đá Nhảy, nên mãi sau này, vào thăm Quảng Bình (16/6/1957), Người còn nhắc lại vế đối của một cụ đồ ngày xưa: “Bò - đi - Đá - Nhảy”. Bãi tắm Đá Nhảy từ lâu đã trở thành thơ:
“... Những phiến đá trần truồng trẻ nhỏ
Như giỡn đùa với sóng, như là không
Hình đá giống con thuyền cưỡi sóng
Giống con người kéo lưới lên bờ
Giống con chim vút lên trời rộng
Lại giống như ai đứng đợi chờ...
Sóng cứ vỗ, đá thì cứ nhảy
Trăm năm sau hỏi đá có còn đây
Còn Đá Nhảy đời còn mơ mộng
Còn trời xanh, còn biển rộng còn say”
(Đá Nhảy - Thơ Hồng Thế)
Đá ở đây nằm rải rác trên bờ, suốt bốn mùa nô đùa cùng sóng bạc. Từ trên cao nhìn xuống, bãi Đá Nhảy giống như một bức tranh thiên nhiên độc đáo với muôn vàn núi đá hình thù kỳ thú. Đá Nhảy là một bãi tắm đầy quyến rũ khách muôn phương.
Bước xuống đèo là làng Lý Hòa mà ngày nay gọi là xã Hải Trạch. Một vùng quê mà như Lê Quí Đôn viết trong Phủ biên tạp lục: “Đất ấy là dư khí của núi Lệ Đệ rũ xuống thành một bãi cát bằng, nổi cao mở rộng, dân cư ở ngang bãi trông về hướng Nam, đuôi bãi từ bên tả ôm lấy sông Thuận Cô từ bên hữu chảy lại làm tiền đường, một dải cồn cát thôn Thuận Cô làm án, cho nên nhân đinh thịnh vượng đến hơn nghìn người. Tục quen buôn bán, bình thời vào Gia Định đóng thuyền nan lớn đến trăm chiếc, mỗi chiếc giá đến hơn nghìn quan, đem về bán lại... làng Lý Hòa là làng đông dân cư và giàu có vào hạng nhất, nhì trong tỉnh Quảng Bình. Làng ấy là làng văn vật...”. Xưa và nay địa danh Lý Hòa vẫn chưa thay đổi. Vị trí và sự phồn vinh của cư dân Lý Hòa vẫn như nguyên trong cảnh sống ngày càng văn minh, hưng thịnh, phát triển, đầy chất thị thành với nhà cửa san sát, tầng tầng, lớp lớp, tường vôi, ngói đỏ, nhà cao tầng chọc trời, từ xa hàng cây số đã nhìn thấy như phố phường nguy nga, tráng lệ. Lý Hòa còn mang cả vẻ đẹp thơ mộng của núi sông, trời biển ôm ấp, nhất là độ dày lịch sử cần phải được nghiên cứu. Theo “Đại Việt Sử Ký toàn thư” thì “Đời Trần Dụ Tông, năm Đại Trị thứ tư, Tân Sửu (1361), người Chiêm Thành vượt biển đến cướp, dân ở cửa biển Di Lý (Lý Hòa ngày nay) và quân của phủ ấy đánh tan bọn chúng. Đến thời Cần Vương, làng có ông Hoàng Phúc là một quan tướng trấn giữ phía Nam Quảng Bình. Đến nay, tại nhà thờ của họ Hoàng ở Lý Hòa còn lưu giữ một bản mật lệnh của Tôn Thất Thuyết, lãnh tụ Cần Vương dưới triều Hàm Nghi chống Pháp xâm lược, gửi cho ông Hoàng Phúc có ghi: “Đến đầu địa giới Lý Hòa, lập căn cứ thủy binh theo kế hoạch hai mặt Bắc - Nam của vua Trần Dụ Tông... cùng phối hợp với quan lục lộ Hoàng Phúc mà làm. Mong tướng quân lo liệu”, cùng với di vật là một ống đựng bút bằng đá, phía bên phải của ống khắc hai chữ "Tôn Thất", phía trái khắc hai chữ "Tướng công", mặt dưới của ống khắc một bản đồ quân sự. Trên mặt bản đồ có ghi rõ địa giới Lý Hòa và dòng chữ: “Mật kế đồ Triều Nguyễn, Hoàng Phúc kế lập”.
Điều hiếm có là mảnh đất này đã sản sinh ra một gia đình mà từ ông nội đến cháu nội, có bao nhiêu người con trai đều là những gương sáng về học hành, đỗ đạt cao trong một nền khoa giáp, đáng để cho nơi nơi học tập. Người mở đầu thi cử đỗ đạt hiển vinh cho dòng họ là cụ Nguyễn Duy Cần đậu cử nhân năm Tân Sửu (1841). Bước sang năm Nhâm Dần (1842) cụ lại đỗ tiến sĩ, dưới thời vua Thiệu Trị năm thứ hai và liền được triều đình chọn vào chức giáo tập Tôn Học Đường, là một trường học chuyên dạy con vua, có trách nhiệm đào tạo ra những ông Hoàng, bà Chúa biết cách thương dân, yêu nước, biết cách quản lý Nhà nước theo hướng Khổng - Mạnh: Lấy dân làm gốc. Sau đó, cụ lại được cử sung cả chức tế tửu Quốc Tử Giám, chủ trì về giáo dục, văn lễ, là Trường Đại học cao nhất ở các thời phong kiến chuyên đào tạo nhân tài cho đất nước. Con trai của cụ Nguyễn Duy Cần là cụ Nguyễn Duy Miễn, đậu cử nhân năm Mậu Dần (1878) đời vua Tự Đức thứ 31 và cũng được cử làm tế tữu trường Quốc Tử Giám. Cụ sinh 05 con trai thì một người đổ Hoàng Giáp năm Đinh Mùi (1907) khi mới 23 tuổi là Nguyễn Duy Phiên, từng giữ chức Tri phủ Triệu Phong, tri phủ Ninh Thuận, tá lý Bộ Lại, Bộ Học và Thị Lang. Hai người đậu Phó Bảng là ông Nguyễn Duy Thắng làm quan đến chức Tả Trực Kỳ và Nguyễn Duy Thiệu, từng làm Tri huyện Tuyên Hoá, rồi được thăng hàm Thị Lang. Nguyễn Duy Tính là người con thứ ba của cụ Nguyễn Duy Miễn, đậu Cử nhân năm Canh Tý (1900), năm sau Tân Sửu (1901) lại đỗ Tiến sĩ khi mới 23 tuổi, từng làm Tri phủ Triệu Phong, Án sát rồi Bố Chánh tỉnh Thanh Hóa, Bố Chánh Thủ hiến (đầu tỉnh) tỉnh Bình Thuận, quan Tham Tri bộ binh và được truy tặng hàm Thượng Thư lúc 40 tuổi. Còn người con thứ hai là Nguyễn Duy Đồng thì đậu cử nhân năm Đinh Dậu (1897) nhưng không đi thi hội mà tình nguyện ở nhà phụng dưỡng bố mẹ, nhưng văn chương, học vấn không kém gì Tiến sĩ và Hoàng Giáp. Trong thời kỳ nhà Nguyễn, kể từ năm Minh Mạng thứ 10 mở đại khoa đầu tiên, đến khoa thi cuối cùng là năm 1919 cả huyện Bố Trạch có 08 người đỗ đại khoa, thì dòng họ Nguyễn Duy ở làng Lý Hòa đã đóng góp 05 vị. Đó là trường hợp một không hai trong lịch sử khoa cử Việt Nam thời phong kiến.
Từ bãi tắm Đá Nhảy tuyệt đẹp, theo dãy Lệ Đệ du hành về hướng Tây chừng vài cây số, du khách đến với Ba Trại - một vùng đất sơn thủy hữu tình, với đủ loại hình sinh thái. Trên núi thì muôn vàn loài cây, loài vật xanh tốt bốn mùa, với nhiều lâm sản quí giá. Dưới chân núi là những làng quê nổi tiếng trong đánh giặc giữ nước và xây dựng đất nước như: Cao Lao (Hạ Trạch), Ba Đề (Bắc Trạch), Thanh Khê, Lý Hòa, Cự Nẫm, Thọ Lộc, Khương Hà... đang ngày càng giàu mạnh thêm và có nhiều khởi sắc trong công cuộc đổi mới đất nước.
Ở thế kỷ XX, vùng đất Ba Trại trên dãy núi Lệ Đệ là một vùng rừng thông dày đặc. Cây to cao. Nhiều cây một người ôm không hết. Trong chiến tranh, vùng Ba Trại bị hủy diệt nhiều lần nhưng sau chiến tranh, thông lại phát triển rất nhanh. Du hành dọc đường Ba Trại chẳng thua gì đi trên những con đường của Đà Lạt. Khác chăng chỉ là nhiệt độ. Vẫn là bạt ngàn thông dày đặc, ngày ngày vừa dạo nhạc trong không gian mênh mông, rắc phấn vàng phủ cả mặt đường quyện với hương của hoa sim, hoa mua, hoa chắt chiu, hoa dẻ, hoa dạ hương và muôn vàn loài hoa khác bên núi thơm ngây ngất. Vẫn có hàng chục thung lũng lãng mạn dưới màu xanh của cây, của mây trời, chìm trong những bản nhạc du dương của rừng, của các loài chim, bên những con suối róc rách chảy chẳng thua gì thung lũng Tình Yêu, quyến rũ khách lãng du. Vẫn có hồ Vực Sanh, Vực Nồi, Bàu Trạng... mênh mông, in bóng ngàn thông, khách có thể vừa du lịch bằng thuyền trên hồ, hoặc ra bến Mòn xuống thuyền ngược dòng sông Son qua bao địa danh nổi tiếng từng rạng ngời trong các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, dưới trời xanh và hai bờ đầy hoa thơm quả ngọt, cho đến tận hang cùng ngõ hẻm của động Phong Nha, vừa ngắm cảnh, vừa câu cá, bắt tôm thưởng thức những hương vị đồng quê mặn mà, nhớ mãi không quên...
Du hành dọc theo dãy núi Lệ Đệ, ta sẽ được nghe kể lại chuyện tướng Trần Nguyên Hãn - nghĩa quân của Lê Lợi đã mang 07 voi và 50 con ngựa bí mật len lõi qua con đường mòn này vào lấy Rú Nguốn (Cự Nẫm) dựng lán trại, làm điểm phục kích, dụ quân Minh từ Hoàn Lão lên, đánh cho chúng thất bại thảm hại, giải phóng Tân Bình, rồi tiến thẳng vào Thuận Hóa thời kháng chiến chống quân Minh (1425). Đến vùng đất đẹp này, ta có thể biết được bao kỳ tích huyền thoại về những con người đã “sống bám đường, chết kiên cường dũng cảm”. Theo bút ký “Trở lại Trường Sơn nhớ về Ba Trại” của nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì số người bị thương vong để làm nên Di tích lịch sử Quốc gia này “nhiều đến mức mãi đến nay chưa có con số chính xác”. Nếu như cuối năm 1966, theo lối mòn xưa, khi quyết định mở đường Ba Trại, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Dương Bạch Liên nói “đây là con đường lý tưởng” thì từ năm 1967 đến hết năm 1972 giặc Mỹ đã tập trung đủ các loại không lực hiện đại và tối tân, đủ các loại bom đạn đổ xuống con đường cũng như cả vùng đất này. Chúng nghĩ rằng đánh tan đường Ba Trại là chặt đứt cả tuyến giao thông vận tải theo đường Hồ Chí Minh vào Nam. Không một ngày đêm nào đường Ba Trại không bị đánh phá. Mặt đường luôn rung lên và bị xáo trộn. Cả khu rừng hai bên đường bị thiêu cháy trụi. Dưới mưa bom bão đạn của quân thù, bất chấp hiểm nguy, quên cả tính mạng của mình vì sự sống của con đường, các lực lượng của Công trường 152 và các đại đội thành niên xung phong C759, C751, C752 vẫn kiên cường bám chắc trụ vững, với tinh thần “Đường chưa thông không tiếc máu xương” đảm bảo mạch máu giao thông thông suốt, bảo vệ cho hàng vạn chuyến hàng, hàng trăm đoàn quân vào Nam, ra Bắc đánh giặc. Sự khốc liệt và tinh thần cảm tử cho cuộc kháng chiến toàn thắng ấy đã được Hoàng Thị Minh Thú đã viết trong bức thư gửi cho bố mẹ: “Ở đây, bom tọa độ ngày nào cũng xối xuống, cái chết và cái sống nó gần nhau lắm. Nhưng bố mẹ ạ, chỉ có những người làm cách mạng mới mang tất cả những trái tim dũng cảm để đem lại những kết quả cho Đảng, cho Nhân dân. Dù có đổ máu, các con cũng không tiếc tuổi xuân, hy sinh đến giọt máu cuối cùng, vì Tổ quốc, vì Nhân dân...”. Và các anh, các chị đã thề với Tổ quốc, với Nhân dân và làm trọn lời thề danh dự của mình. Dù giờ đây đất nước đã thanh bình, với cuộc sống ấm no và tràn trề vui vẻ, hạnh phúc, dù thời gian có lùi xa bao nhiêu, nhưng sự hy sinh oanh liệt của Nguyễn Bá Chưng - người chiến sĩ Cảnh sát Nhân dân quên mình cứu sống 40 em K8 trong đêm 30 Tết Mậu Thân, của các anh các chị thanh niên xung phong Hoàng Thị Minh Thú, Trần Thị Minh Thế, Nguyễn Thị Mỹ Tình, Trần Đức Hè, Hồ Văn Niệm... vẫn in đậm trong tâm trí bao người, vẫn luôn chói ngời trên trang sử dân tộc và Di tích lịch sử Quốc gia Ba Trại. Các anh, các chị đã làm nên bao kỳ tích huyền thoại, làm rạng danh cho quê hương.
Thắp nén hương kính viếng cho gần 600 hương hồn liệt sĩ thanh niên xung phong ở Nghĩa trang Thọ Lộc, bên đường Ba Trại, du khách lại thoải mái theo con đường như một kỳ quan đầy kỳ tích này đến với rất nhiều điều thú vị và bổ ích. Ra Bắc, dưới chân đường là làng Cao Lao, nổi tiếng là đất Kỳ Phong, có Cữu Khúc Long Khê sản sinh ra nhiều giai nhân, nhiều nhà khoa giáp lừng danh như ông Lưu Lượng đỗ Hương tiến từ năm Minh Mạng thứ 16 (1835), lĩnh quan huyện An Lạc, rồi Tri phủ Thuận An, Án sát sứ tỉnh Thanh Hóa, biện lý Bộ hình, Phó sứ sang Yên Kinh, Hộ Bộ tả thị lang, tuần phủ tỉnh Hưng Yên... ở địa vị nào và nơi nào cũng được vua dân kính trọng. Tìm hiểu các danh nhân của làng này còn có hai vị Phó bảng Đặng Văn Thái và Lưu Văn Bình thời Tự Đức năm thứ sáu (1853) đã cùng con trai của ông Lưu Đức Bình là cử nhân Lưu Đức Xướng viết nên bộ “ Đại Nam nhất thống chí” và “ Đại Nam hội điển sử lệ”. Hậu duệ của Lưu Văn Bình là nhà thơ Lưu Trọng Lư - một nghệ sĩ đa tài, vừa sáng tác thơ, văn xuôi, vừa viết nghị luận, phê bình, lại vừa làm báo, làm sân khấu liên tục từ đầu năm 30 đến khi qua đời. Trước sau, Lưu Trọng Lư vẫn nổi tiếng là một thi sĩ - một người có công đầu góp phần khởi phát phong trào thơ mới (1932 - 1945), cuộc cách tân lớn trong tiến trình văn học dân tộc ở thế kỷ XX. Làng Cao Lao đã sinh ra những văn nhân lớn còn sinh ra tướng tài Lê Mộ Khởi, người đã có công rất lớn trong phong trào Cần Vương, vừa chỉ huy, vừa xông pha trận mạc, đánh cho giặc tan tác nhiều phen... Hai bên chân đường là những làng quê chưa giàu nhưng đầy ắp chiến công đánh Pháp, đánh Mỹ như Bắc Trạch, Thanh Trạch, với Cảng cá sông Gianh - điểm xuất phát của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển, Cảng Gianh - Chiến dịch vận tải 5 và Phà Gianh đã in đậm trong lịch sử hào hùng.
Đi ngược vào phía Nam là ngã ba Thọ Lộc, quê hương Cự Nẫm oai hùng trong thời kỳ đánh Pháp xâm lược và hai lần được Nhà nước phong tặng Danh hiệu Đơn vị Anh hùng trong thời chống Mỹ cứu nước, đến xã Hưng Trạch - nơi có ngã ba Khương Hà với Trạm Cảnh sát Giao thông số 64 anh hùng, rồi lên với Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, các Di tích lịch sử Quốc gia như: Phà Xuân Sơn, Đường 20 - Quyết thắng, với Hang Tám Thanh niên xung phong, Miếu Cô y tá, Phà Nguyễn Văn Trỗi... đều là những địa danh nổi tiếng suốt cả thời kỳ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước - Mà lòng phơi phới dậy tương lai” trên tuyến đường Hồ Chí Minh.
Đường đưa ta đi khắp chốn, muôn nơi. Đến với đường Ba Trại và từ con đường ta yêu ta quý vắt qua trên dãy núi Lệ Đệ này, du khách không chỉ được hiểu biết nhiều những tên đất, tên làng và danh nhân nổi tiếng mà còn được biết nhiều hơn những giá trị văn hóa như: Truyền thuyết “Hận Long Giang”, lễ hội rước thuyền Long Châu ở Hạ Trạch, lễ hội rước Thần Hoàng và đua thuyền ở làng Lý Hòa, chèo cạn ở Thanh Trạch, hát tuồng ở Khương Hà...
Đến với dãy núi Lệ Đệ như đến với những kỳ tích huyền thoại, vùng đất dày đặc di sản vật thể, di sản thiên nhiên và di sản phi vật thể, đến với những danh lam thắng cảnh tuyệt vời, điểm đến mà lòng mong đợi. Dãy núi Lệ Đệ và vùng đất quanh đường Ba Trại là tiềm năng lớn về du lịch, sự nối kết với hàng chục điểm tham quan trong các tour du lịch, nghiên cứu quý giá đang cần được tập trung đầu tư và khai thác để du khách hưởng thụ.
Kim Cương (Hội Văn học nghệ thuật tỉnh)
- Tiếp tục đẩy mạnh phổ biến kiến thức quốc phòng - an ninh cho toàn dân (29/11/2018)
- Có một Tú Làn bí ẩn trong "Người bất tử" (29/11/2018)
- 100% thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban Quản lý Khu kinh tế được thực hiện qua Trung tâm Hành chính công tỉnh (29/11/2018)
- Ưu tiên đầu tư phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng tại Cửa khẩu phụ Cà Roòng (28/11/2018)
- Huyện Lệ Thủy: Tiếp tục chú trọng phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững (27/11/2018)
- Trong 03 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 41/NQ-CP của Chính phủ, các lực lượng chức năng trên địa bàn tỉnh đã xử lý 7.701 vụ vi phạm về buôn lậu, gian lận thương mại (27/11/2018)
- Thành phố Đồng Hới đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, góp phần xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp (27/11/2018)
- Quảng Bình thực hiện có hiệu quả pháp luật bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan (23/11/2018)
- Đổi mới công tác dân vận nhằm đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước (23/11/2018)
- Những kết quả đạt được trong triển khai thực hiện Công ước SAR 79 về tìm kiếm cứu nạn trên biển giai đoạn 2013-2018 trên địa bàn tỉnh (23/11/2018)







