Chi tiết tin - Quảng Bình
Đường 20 - của lứa tuổi 20 - Quyết thắng (kỳ 1)
(Website Quảng Bình) - Khi mọi sự chuẩn bị mở đường Trường Sơn cơ bản xong, thì Tết Bính Ngọ đến. Thay mặt Bộ Tư lệnh Đoàn 559, đồng chí Nguyễn Tường Lân, Phó Tư lệnh vào kiểm tra lần cuối về các phương án, kỹ thuật thi công và mọi mặt chuẩn bị của công trường. Thấy được tất cả đều chu đáo và có tính khả thi, đúng 17 giờ, ngày 20 tháng 01 năm 1966 (ngày 30 Tết âm lịch), mặc dù trong tiết Đại hàn, lạnh buốt, nhưng thay mặt Bộ Tư lệnh, đồng chí Phó Tư lệnh đã ra lệnh nổ đợt bộc phá đầu tiên để đón Xuân và hưởng ứng Chiến dịch “Chọc thủng Trường Sơn, mở đường thắng lợi” do Bộ Tư lệnh Đoàn 559 phát động. Tiếng bộc phá nổ rền vang trên toàn tuyến.
Núi rừng Trường Sơn ngàn năm im lặng, vắng dấu chân người, như một con Rồng khổng lồ nằm phục lạnh lẽo, bỗng ấm bừng, lồng lên, chuyển mình, cùng con hồng cháu lạc, gánh vác việc trọng trách của nước. Cán bộ chiến sĩ trong toàn công trường hân hoan đón một cái Tết chiến dịch giữa bạt ngàn núi rừng hùng vĩ và nguyện sẵn sàng đem hết tinh thần trách nhiệm, sức lực, trí tuệ sớm khai thông tuyến đường, chi viện cho chiến trường nhanh chóng đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng Miền Nam thân yêu, thống nhất Tổ quốc.
Ngàn đời yên tĩnh, giờ đây suốt ngày đêm cả dãy Trường Sơn liên tục vang lên tiếng cuốc, xẻng, tiếng mìn nổ, xe ủi, xe vận chuyển, hoà lẫn tiếng cười, tiếng hát rất hồn nhiên và rất vô tư của gần một vạn người con gái, con trai vừa đến tuổi công dân từ khắp các tỉnh: Hoà Bình, Thái Bình, Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... ngày càng được bổ sung, đem cả "Tuổi xuân em phơi phới" sẵn sàng dâng hết cả sức mình xẻ núi, lấp suối sâu vực thẳm, với tinh thần "đường chưa thông không tiếc máu xương" mở Đường 20.
Đêm đêm, trong căn hầm chữ A, dưới mặt đất, dù cách xa gần chục cây số, áp tai vào đất, bên tiếng rì rầm của những đoàn xe nối nhau ra trận, người dân quê tôi vẫn nghe cả tiếng nổ của mìn, tiếng rào rào đá lở, tiếng lụp cụp của cuốc chim mổ đất đá, tiếng xoèn xoẹt của xẻng quét san... Mỗi tiếng động từ tuyến Đường 20 dội về, kỷ niệm một thời cứ ập đến. Thực tình thì cha mẹ tôi cũng khó mà tưởng tượng nổi. Ngày ấy, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt. Gần như, giặc Pháp dồn tất cả lực lượng vào tấn công, quyết biến "Làng chiến đấu Cự Nẫm" thành bãi tha ma. Trên hai chiếc thúng, hai vai và hai bàn chân đất, cha mẹ tôi đã cùng dân làng, gánh anh chị tôi, trèo đèo, lội suối, xuyên rừng, vượt qua vách đá tai mèo, qua lèn cao của dãy núi đá vôi Kẻ Bàng, qua Cồn Chay, Khương Hà, Sơn Trạch, Đèo Đá Đẻo đi tản cư tận trên các xã Thượng Hoá, Tân Hoá, Trung Hoá... huyện Minh Hoá. Chỉ đi bộ thôi đã mất gần chục ngày. Đôi vai sưng tấy lên, rồi chai lỳ theo thời gian. Đôi bàn chân mất dần cả lớp da chết, rớm máu. Khát, có nước của khe suối, của cây Sót, cây Giang. Đói, có khoai rú, củ nâu, các loại quả của rừng, tuy nhiên vẫn không đủ chất cho người hấp thụ, còn bị sên vắt bám sát hút máu. Ngày nay, đi như thế, người ta gọi là du lịch sinh thái, còn thời ấy quả như bị đi đày. Tôi chẳng biết gì đâu. Lúc đó tôi còn là một phần trong dòng máu và cơ thể của cha mẹ tôi. Sau nghe kể lại là phong ngay danh hiệu anh hùng cho cha mẹ. Các anh chị của tôi cũng chỉ ngủ li bì trên thúng mà thôi. Ăn uống, đi đường đã cực, nhưng nạn cọp Trộ Rớ (đầu nguồn Ngọn Rào) còn sợ hơn nhiều. Cha tôi từng kể rằng: Sau khi bị Nhật đảo chính ngày 09 tháng 3 năm 1945, giặc Pháp hoảng sợ chạy vào núi, không dám vào làng. Nhiều tên đã trở thành mồi ngon cho cọp. Ăn nhiều thành nghiện, thành "cọp ràng". Quân ta cũng không ít thiệt hại vì cọp Tộ Rớ. Một lần, chị Cẩm cùng chị Lạc là vợ anh Liêu, Công an huyện Bố Trạch vào rừng lấy củi. Mới cách nhà chừng 30 mét, chị Cẩm đã bị cọp vồ, chị Lạc một mạch tăng tốc độ chạy về đến nhà mà nói không thành tiếng. Đại đội 4, bộ đội địa phương Bố Trạch đang hành quân đến Trộ Rớ thì Chính trị viên Châu bị tụt dép. Anh dừng lại bên đường, chưa kịp xỏ quai dép lại, liền bị một cú bạt tai của chú cọp khổng lồ, chết ngay tại chỗ. Còn Trưởng phòng Thông tin tuyên tuyền huyện Bố Trạch Nguyễn Văn Lộc, quê ở Cảnh Dương, cùng liên lạc viên của phòng là Trần Hy, quê ở Đồng Phú, trên đường đi, mỗi người đã cầm sẵn một chiếc gậy to vẫn bị một con cọp ra đứng chặn đường. Hai anh giơ gậy lên xua đuổi, nhưng nó cứ lừ lừ tiến lên. Cả hai người mặt đối diện với cọp trong tư thế phòng vệ, vừa đi thụt lùi. Anh Hy vấp đá, ngã xuống. Con cọp nhảy xổ vào, ôm chặt lấy người anh chạy lên núi. Được tin báo, đồn cảnh vệ bắn súng đi tìm suốt đêm, nhưng anh Hy chỉ còn lại bộ xương nằm trên sườn dốc... Nghe nói ta đang mở Đường 20 - Quyết thắng, dân làng tôi khó tin và thán phục.
Vậy mà con đường vẫn tiếp tục mở. Con đường từ cửa động Phong Nha, dài 130 cây số, xuyên qua vùng núi đá vôi, sang Lùm Bùm thuộc huyện Bu - La - Pha của Nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Đối với ta là con đường chiến lược quan trọng. Giặc Mỹ thấy như là một mũi tên nhọn hoắt đang chọc thẳng vào mình. Chúng chọn tuyến đường làm trọng điểm phải tập trung đánh phá. Cả quá trình thi công, ta gọi Đường 20 - Quyết thắng là "hàng rào lửa". Giặc Mỹ đã huy động một khối lượng lớn đủ các loại máy bay, cả trinh thám, do thám, không người lái, có người lái, có cả cánh cụp, cánh xoè, cả "Con ma" (F4H), "Thần sấm" (F105), AD6, B52 rãi thảm, F111... kèm theo nhiều toán gián điệp biệt kích được tung xuống, hàng trăm "cây nhiệt đới" theo dõi những đoàn người, đoàn xe; với đủ các loại vũ khí, bom nổ, bom cháy, bom lân tinh, bom từ trường, bom lá, bom tạ, bom tấn, bom sát thương và chất độc hóa học... đánh liên tục trên tuyến đường này. Có thể nói, không có giờ nào vắng tiếng đạn bom phá hoại của giặc Mỹ. Cả vùng rừng núi đá vôi Kẻ Bàng mênh mông, bạt ngàn dưới chân Trường Sơn hùng vĩ đã bị bom đạn và lửa na-pan của kẻ thù truốt sạch lá. Lèn đá tan nát. Mỗi mét Đường 20 - Quyết thắng, không chỉ thấm đẫm mồ hôi, mà còn thấm đẫm cả máu và nước mắt của tuổi 20, của những chiến sĩ trên đường hành quân ra mặt trận. Cất cao tiếng hát át cả tiếng bom, "Em đi lên rừng cây xanh mở lối. Em đi lên núi, núi phải cúi đầu. Em đi bắc những nhịp cầu, nối những con đường Tổ Quốc yêu thương, cho xe thẳng tới chiến trường…”. Hơn hai vạn thanh niên không ngại hy sinh và gian khổ. Phải nói là cái thời ấy - cái thời chiến tranh, khi mà tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và tinh thần “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” luôn bùng lên trong từng tế bào của con người Việt Nam, thì cái chết và cái khổ cực đối với mọi người chẳng còn ý nghĩa gì. “Tất cả để đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược”, “Tất cả vì Miền Nam thân yêu, vì Trị - Thiên Huế ruột thịt”, khẩu hiệu là như thế và được dán khắp trên các tuyến đường, các bức tường và trong mọi gia đình. Họ đều lao vào hành động, sẵn sàng “Đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi Đảng và Tổ quốc cần”. Thiếu ăn, thiếu mặc đừng nói đến một đồng xu dính túi mà sinh ra trộm cắp của đồng đội, như một nhà biên kịch nào đó đã đưa vào kịch bản. Họ dồn tất cả tình thương yêu vào nhau, đùm bọc nhau như ruột thịt và khát khao hạnh phúc, nhưng yêu nhau lộ liễu và sinh hoạt tình dục bậy bạ thì hiếm có. Là nhà báo, đi nhiều và viết nhiều về chiến tranh, tôi đã được nghe và từng chứng kiến rất nhiều đơn vị thanh niên xung phong, mỗi nữ đội viên độc nhất chỉ một bộ áo quần, ghẻ lở đầy thân, mỗi lần tắm phải dầm mình dưới khe suối, chờ áo quần khô mới chạy lên bụi rậm mặc lại. Khó khăn, gian khổ và cơ cực bao quanh, sự sống trong mưa bom, bão đạn, nhưng họ vẫn luôn lạc quan, yêu đời, ngày đêm vẫn “Bám mặt trời, không rời mặt trăng”, lợi dụng pháo sáng địch, vui mở đường. Toàn công trường hừng hực khí thế lao động, với tốc độ thông đường bình quân mỗi tháng gần 30 cây số. Sau 127 ngày đêm không nghỉ, ngày 07 tháng 4 năm 1966 ta đã chọc thủng hàng trăm triệu khối đất đá, xuyên qua dãy núi đá vôi khổng lồ Phong Nha - Kẻ Bàng, thành một tuyến đường vận tải bằng ôtô, theo phương án và kế hoạch đã vạch ra.
Rừng núi trùng điệp Miền Tây Quảng Bình bừng dậy khi con đường 20 xuất hiện. Từ đây, trên tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn có thêm một tuyến đường mới - tuyến đường chiến lược hết sức quan trọng được đặt tên “Đường Quyết thắng” bởi trước mắt, dân tộc Việt Nam chỉ có con đường duy nhất: Đường đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ. Thực ra, trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đã có con đường chạy dọc Trường Sơn vượt đỉnh U Bò vào Nam, ra Bắc. Dưới chân nó là rừng và bến Bồng Lai thơ mộng. Năm 1948, đồng chí Lê Đức Thọ và đoàn cán bộ của Trung ương tăng cường cho Nam Bộ qua đây, đã có bài thơ “Em bé liên lạc” viết ngay trên dốc Ba Rền, tặng các em liên lạc. Con đường xông thẳng vào chiến trường, đi vào “Nước non ngàn dặm”, cắm chân trên mảnh đất lịch sử, nơi mà cách đó gần 200 năm người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ dừng chân, bổ sung quân, hành quân ra Bắc đại phá quân Thanh, mảnh đất anh hùng của dân tộc Việt Nam, tựa như dòng máu anh hùng chảy về phía Nam và những ai đã đi qua, đã chiến đấu trên con đường ấy đều được dòng máu anh hùng tiếp sức.
(Còn nữa)
Kim Cương (Hội Văn học nghệ thuật Quảng Bình)
- Nghĩa tình miền Thượng (21/07/2014)
- Người Minh Hóa làm du lịch thám hiểm (16/07/2014)
- Ban Tôn giáo tỉnh - 10 năm một chặng đường! (14/07/2014)
- (14/07/2014)
- Bảo Ninh, vùng đất mặn mòi "bên sông, bên biển" (14/07/2014)
- Lấy thước đo công việc của bản thân để vận động mọi người làm theo (07/07/2014)
- Quảng Ninh với phong trào đền ơn đáp nghĩa (07/07/2014)
- Nỗ lực làm giàu của phụ nữ Hải Ninh (03/07/2014)
- Làng gần 500 năm đóng tàu ra biển Hoàng Sa (03/07/2014)
- Bảo đảm tính bền vững của các hoạt động phòng, chống HIV/AIDS (01/07/2014)







