Chi tiết tin - Quảng Bình
Quảng Bình: Chuyện về người cụt tay đào núi dẫn nước về làng

Anh Hưng trong trang trại nhà mình
Hồi sinh một vùng đồi
Sau một vòng “thị sát” công trình dẫn nước từ khe suối trên đồi núi cao về làng của anh Hưng cụt, chúng tôi không tưởng tượng nổi bởi với dáng vóc gầy gò, ốm yếu, lại còn bị cụt một tay mà anh đã làm được điều không tưởng.
Nói về những năm tháng gian khó, anh tâm sự: “Năm lên 9 tuổi, sống trên đầu nguồn thuộc xã Yên Hoá, huyện Minh Hoá, giặc Mỹ ném bom trúng cả nhà khiến bố mẹ bị thương nặng, em gái gãy chân, tui thì đứt lìa cả cánh tay”.

Con gái anh Hưng bên kênh mương nước ở trên đồi
Cuộc sống càng gian khổ hơn khi anh và chị Đinh Thị Việt cưới nhau, sinh được sáu người con. Sống trên nguồn cực quá, anh quyết định đưa cả nhà về thôn Minh Xuân, xã Xuân Hoá lập nghiệp từ hai bàn tay trắng. Đồng không mông quạnh, gần 20 hộ có khoảng 6 - 7ha đất hoang hoá, nếu biết tận dụng cũng có thể tạo ra ruộng vườn để kiếm ăn, chứ không thể để đất không như thế này được. Sau nhiều đêm suy tính, anh Hưng vận động bà con cùng tạo dựng hệ thống ruộng đồng. Dân cho là điên rồ vì đất thì lổn nhổn toàn đá sỏi, nước thì bói đâu ra. Mà xẻ núi lấy nước từ khe ở trên cao, bên những cái đồi kia thì có mà công cóc.

Nước về vườn, ruộng thêm xanh
Năm 1998, Hưng cụt làm tờ trình với chính quyền xin nhận vùng đất này làm thủy lợi - ruộng - vườn. Chính quyền cấp cho anh được sáu ha, anh đi vận động lại bà con làm thủy lợi. Thế là 13 hộ đồng ý. Hưng cụt kể: “Thực tình, tin tưởng nhưng tui cũng lo. Vì bắt tay vào đào đồi, khe núi toàn là bị đá chặn cứng. Có lúc bản lĩnh không thể vượt qua. Nước vẫn vời xa. Họ bỏ, chỉ còn năm hộ. Tui phải bù tiền công cho họ. Lúc đó cực lắm, cơm không có ăn, khoai sắn rau cháo qua ngày. Vay mượn, bán bò và “gia sản”, tui và con cùng mọi người gắng sức. Tay bầm máu, bong gân vẫn kiên quyết cho hệ thống kênh mương độc nhất vô nhị này.
nghị lực phi thường của anh Hưng cụt
Sau hơn mười tháng trời ròng rã với hơn 2.000 ngày công, có khi thức, ngủ trong rừng, chừng ấy con người, không nhiều lắm nhưng cái chí, bản lĩnh thuần nông, dầm sương dãi nắng cũng đã làm nên chuyện.
Anh Hưng nhớ lại: “Những tảng đá không nói, nhưng qua những triền đồi, nhấp nhô, hệ thống kênh mương cũng không theo bản vẽ, thiết kế. Có chỗ sâu cả gần 5m, có chỗ chỉ 1m. Rồi có đoạn phải oằn, lách tảng đá to, nhưng có đoạn phải để thẳng vì không thể lách được nên đành phải sống chết với đá”. Công trình dài trên 2.000m, rộng 0,6 - 1m, sâu từ 1 - 5m tùy theo địa hình. Phải qua chín ha đất của bốn sườn đồi mới “moi” được nước từ hai khe ở trên cao. 35m đường ống đặt sâu khoảng 0,4m được huy động vào công trình...
Ngoài chuyện lập nhiều kỳ tích trên, anh Hưng còn là một tay có đầu óc làm kinh tế, làm giàu và đến nay trang trại của anh đạt hiệu quả rất cao.
Vùng đồi núi anh khai hoang đã có nhiều cặp uyên ương xin vào tạo lập cuộc sống mới. Hiện nay, công trình của anh càng phát huy tác dụng, nguồn nước không chỉ giúp cho bà con sản xuất mà còn để sinh hoạt, ăn uống vì mùa hè “cháy” nước.
Chia tay Hưng cụt, chúng tôi không khỏi thán phục một con người rất đỗi bình thường nhưng đã làm nên điều kỳ diệu, anh mang sự sống cho bà con nơi đây cùng sự trường tồn mà muôn đời sau mãi nhớ đến...
Nguyễn Xuân Hưng (Congan.com.vn)
- Dốc Mây ngày trở lại (01/04/2014)
- Làm cán bộ Mặt trận ''khi người ta trẻ'' (26/06/2009)
- ''Nhà báo nhân dân'' Đinh Vũ Thường (23/06/2009)
- "Lộc rừng" giữa đại ngàn Trường Sơn (27/03/2014)
- Tục chữa bệnh bằng cách thổi của người Mày (27/03/2014)
- Quảng Bình – We don’t say goodbye (12/06/2009)
- Những lão ngư vững vàng trước sóng gió (25/03/2014)
- “Gọi chữ” ở làng chài (04/05/2009)
- Chở cuộc mưu sinh (21/03/2014)
- Một giờ với GS TSKH Nguyễn Ngọc Thành (02/04/2009)







