Bản tin cải cách hành chính ngày 03/9/2019

15:44, Thứ Tư, 4-9-2019

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Cắt quyền lợi vật chất cán bộ nghỉ hưu bị kỷ luật

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Quảng Bình tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan

3. Dịch vụ “chat” giữa dân và chính quyền Bắc Giang hoạt động ra sao?

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Dấu ấn phong trào thi đua “4 xin - 4 luôn”

5. Giảm phí, miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp: Rẻ nhưng có dễ thực hiện?

6. BHXH: Cải cách hành chính dựa trên nền tảng công nghệ thông tin

7. Năm 2020, hàng hải “chuẩn hóa” toàn bộ thủ tục hành chính lên mức độ 4

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

8. Sẽ có kỳ sát hạch tập trung cho công chức trước khi tuyển dụng

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

9. Cán bộ nghỉ hưu “nhúng chàm” mất quyền vật chất: Răn đe!

TIN THẾ GIỚI

10. VBF và các thành viên luôn ủng hộ công cuộc chống tham nhũng

         

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Cắt quyền lợi vật chất cán bộ nghỉ hưu bị kỷ luật

Xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc nghỉ hưu là một chủ trương lớn nên cần phải nghiên cứu thận trọng.

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội vừa gửi xin ý kiến đại biểu Quốc hội về dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ công chức và Luật Viên chức.

Dự án luật này đã được Quốc hội thảo luận tại kỳ họp thứ 7, dự kiến sẽ được tiếp tục thảo luận và thông qua tại kỳ họp thứ 8 cuối năm nay.

Liên quan đến xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu, dự thảo báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho biết, thảo luận tại kỳ họp thứ 7, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành bổ sung quy định về xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu. Nhưng, đề nghị quy định rõ trong luật hình thức kỷ luật phải đi kèm theo hệ quả pháp lý nhất định về vật chất, tinh thần mà người bị xử lý phải chịu.

Một số ý kiến đề nghị trong luật chỉ quy định nguyên tắc và giao Chính phủ quy định cụ thể.

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc nghỉ hưu là một chủ trương lớn nên cần phải nghiên cứu thận trọng, có quy định hợp lý bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong quá trình thực hiện.

Do đó, quan điểm của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội là quy định trong luật nguyên tắc chung trong xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu; quy định cụ thể về hình thức xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, xóa tư cách chức vụ đã đảm nhiệm) và giao Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục, hệ quả của hình thức xử lý kỷ luật bảo đảm tính khả thi, linh hoạt trong quá trình triển khai thực hiện.

Cán bộ, công chức bị xử lý kỷ luật phải chịu kèm theo hệ quả nào đó, như cắt một số quyền lợi về vật chất mà người đó được hưởng.

Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, trong dự thảo luật cũng đã bổ sung nguyên tắc gắn hình thức xử lý kỷ luật với hệ quả pháp lý tương ứng để làm cơ sở cho Chính phủ quy định chi tiết đối với từng hình thức xử lý kỷ luật "cảnh cáo", "kỷ luật", "xóa tư cách" thì cán bộ, công chức còn phải chịu kèm theo hệ quả nào đó (ví dụ như cắt một số quyền lợi về vật chất mà người đó được hưởng).

Về một số ý kiến đại biểu cho rằng cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu không còn là cán bộ, công chức nên không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, trong thực tiễn, một số luật hiện hành cũng có những quy định điều chỉnh đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu.

Theo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đối với dự thảo luật này, tuy là cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu nhưng hành vi vi phạm bị xử lý là hành vi xảy ra trong thời gian người đó đang còn công tác (đang là cán bộ, công chức) và vẫn nằm trong thời hiệu xử lý.

Do đó, việc quy định về vấn đề này trong luật theo hướng áp dụng quy định của luật đối với đối tượng khác (cán bộ, công chức đã nghỉ việc, nghỉ hưu) là phù hợp. (Đất Việt 2/9, Minh Thái) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Quảng Bình tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan

Thủ tục hải quan trên địa bàn tỉnh Quảng Bình được thực hiện bằng phương thức điện tử thông qua Hệ thống VNACCS/VCIS với sự tham gia của 100% doanh nghiệp làm thủ tục hải quan. 100% thủ tục hành chính tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình được thực hiện thông qua dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 3, cấp độ 4…

Chia sẻ với báo chí, ông Nguyễn Anh Tình – Phó Cục trưởng Cục Hải quan Quảng Bình cho biết, “Điểm nổi bật trong công tác của Hải quan tỉnh Quảng Bình thời gian qua, đó là thực hiện thành công hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS) từ năm 2014. Đến nay, hệ thống được vận hành thông suốt, hiệu quả, với tỷ lệ trên 99% tờ khai được thông quan trên hệ thống. Song song với việc áp dụng hệ thống thông quan tự động, Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình cũng đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động xuất nhập khẩu (XNK), thực hiện cơ chế Một cửa quốc gia, dịch vụ công trực tuyến đã rút ngắn thời gian làm thủ tục hải quan cho doanh nghiệp, giảm thiểu giấy tờ và đơn giản hóa hồ sơ hải quan”.

Cũng theo ông Nguyễn Anh Tình, thủ tục hải quan được thực hiện bằng phương thức điện tử thông qua Hệ thống VNACCS/VCIS trên địa bàn có sự tham gia của 100% doanh nghiệp làm thủ tục hải quan.

Thời gian thông quan hàng liên tục được rút ngắn qua từng năm. Từ năm 2018, tờ khai luồng xanh được hệ thống thông quan trong vòng 3 giây. Đối với tờ khai luồng vàng, luồng đỏ, thời gian kiểm tra chi tiết hồ sơ trung bình là 5 phút; thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa trung bình 55 phút. Kết quả này tương đương năm 2017.

Tuy nhiên, tổng thời gian tính từ khi tiếp nhận tờ khai đến khi thông quan/giải phóng hàng được rút ngắn rất lớn: 20h đối với hàng nhập khẩu, 13h đối với hàng xuất khẩu thông quan tại cửa khẩu/cảng. Rút ngắn 214 giờ đối với hàng nhập khẩu đưa về bảo quản, đảm bảo các cam kết theo Tuyên ngôn phục vụ khách hàng của ngành Hải quan.

Thêm nữa, công tác thu nộp thuế, lệ phí chủ yếu được thực hiện bằng phương thức điện tử với khoảng 90% tổng số thuế, lệ phí hải quan thực hiện thu nộp qua các ngân hàng thương mại; đã đưa vào áp dụng hình thức nộp thuế điện tử và thông quan 24/7, tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước “mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện”.

Đối với việc thực hiện Cơ chế Một cửa quốc gia, một cửa ASEAN, cho đến nay, tỷ lệ tờ khai kiểm tra chuyên ngành thực hiện qua cổng thông tin một cửa quốc gia đạt 92% (12.058/13.072 trường hợp). Cơ chế Một cửa quốc gia đối với đường hàng không và đường biển cũng đã được triển khai thực hiện thông suốt. Đơn vị cũng đã kết nối và sẵn sàng áp dụng Cơ chế một cửa ASEAN khi có hồ sơ phát sinh.

Không những vậy, 100% thủ tục hành chính tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình được thực hiện thông qua dịch vụ công trực tuyến ở cấp độ 3, cấp độ 4.

Trước những kết quả đạt được, theo Phó Cục trưởng Cục Hải quan Quảng Bình, đó là nhờ sự nỗ lực của tập thể công chức, người lao động của Cục Hải quan Quảng Bình. Thực hiện đúng phương châm hành động của ngành “Chuyên nghiệp – Minh bạch – Hiệu quả”, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển và hội nhập. Tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt động XNK như: kịp thời hỗ trợ, giải quyết những khó khăn vướng măc phát sinh thông qua đường dây nóng, thành lập Tổ tư vấn Hải quan – Doanh nghiệp, tích cực tuyên truyền chế độ chính sách mới cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động XNK, xuất nhập cảnh (XNC)…

Thêm vào đó, công tác cải cách, hiện đại hóa được thực hiện trên cơ sở gắn với thực hiện tốt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng lực lượng hải quan trong sạch, vững mạnh. Hàng năm, đơn vị thực hiện điều động, chuyển đổi vị trí công tác đối với công chức, sắp xếp, bố trí lại nguồn nhân lực theo yêu cầu vị trí việc làm; tổ chức đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu công tác cải cách, hiện đại hóa; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ; trong đó chú trọng kiểm tra việc thực hiện quy trình thủ tục hải quan, Tuyên ngôn phục vụ khách hàng, Quy chế hoạt động công vụ và các quy định về kỷ luật, kỷ cương của ngành, đơn vị.

Chia sẻ về kế hoạch cải cách hành chính trong thời gian tới, ông Nguyễn Anh Tình nhấn mạnh, “Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các Chương trình, Kế hoạch cải cách thủ tục hành chính; trong đó tập trung thực hiện và hoàn thành tốt Kế hoạch cải cách, phát triển, hiện đại hóa ngành Hải quan và Cục Hải quan tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2016-2020 theo đúng lộ trình đề ra”. (Pháp Luật Việt Nam 3/9, Bùi Mến) Về đầu trang

Dịch vụ “chat” giữa dân và chính quyền Bắc Giang hoạt động ra sao?

Khi bấm nút "Quan tâm", người thực hiện thủ tục hành chính sẽ nhận được tin nhắn xác nhận việc tiếp nhận hồ sơ có đính kèm số biên nhận và mã QR.

Chỉ trong 2 tuần kể từ khi khai thác tính năng của ứng dụng Zalo, hơn 1.000 người đã bấm nút “Quan tâm” tài khoản “Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang”. Đây là cổng thông tin và tương tác trên Zalo của Trung tâm Phục vụ hành chính công - đầu mối hướng dẫn, tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

“Tôi cảm thấy rất tiện lợi khi được hỏi đáp, giải quyết các giấy tờ hành chính và thủ tục liên quan đến quyền lợi qua mạng Zalo”, anh Đàm Văn Hiếu, thôn An Bá, huyện Sơn Động (Bắc Giang) nói.

Khi bấm nút “Quan tâm” “Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang” trên Zalo, người thực hiện thủ tục hành chính sẽ nhận được tin nhắn xác nhận việc tiếp nhận hồ sơ có đính kèm số biên nhận và mã QR. Tình trạng giải quyết hồ sơ, ngày trả kết quả sẽ hiển thị trên điện thoại khi quét mã này.

Mỗi khi có sự thay đổi tình trạng giải quyết hồ sơ, người dân cũng sẽ nhận được tin nhắn thông báo.

Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang cho biết gần 900 người đã tra cứu tình trạng giải quyết hồ sơ qua “Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang” trên Zalo. Song song với việc thao tác theo video clip hướng dẫn, người làm thủ tục còn có thể mang về nhà một tờ rơi chỉ dẫn cách thức tra cứu để thực hiện mọi lúc, mọi nơi. Hơn 1.000 tờ rơi hướng dẫn đặt tại Trung tâm Phục vụ hành chính công đã được trao đến tận tay người có nhu cầu.

Trong tháng 9/2019, Trung tâm sẽ thành lập tổ tư vấn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp sử dụng Zalo tại tầng 1 của tòa nhà. Qua đó, cung cấp trải nghiệm tốt hơn và từng bước thay đổi thói quen thực hiện thủ tục hành chính hiện nay.

Bên cạnh tra cứu tình trạng giải quyết hồ sơ, tính năng “chat” giữa người dân và chính quyền trên ứng dụng Zalo là dịch vụ nhận được sự quan tâm lớn. Gọi điện thoại và nhắn tin là hai cách “chat” được triển khai trong một tháng qua.

Trực tiếp gõ phím trên điện thoại, ông Bùi Huy Khánh, Phó giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Giang, cho biết, quy trình tiếp nhận được thiết kế để mọi câu hỏi đều được trả lời.

“Khi gõ trên ứng dụng Zalo, câu hỏi sẽ được chuyển đến người quản trị Trung tâm để trả lời. Khi quản trị trung tâm không trả lời được, nội dung câu hỏi đó sẽ được chuyển cho công chức của Sở ngành đang làm việc tại các quầy trong trung tâm. Các Sở ngành sẽ nhận thông tin và trả lời người dân” - ông Bùi Huy Khánh nói.

Đối với hình thức nói chuyện trực tiếp, cuộc gọi của người dân được nối máy đến bộ phận lễ tân của trung tâm. Với những câu hỏi mà bộ phận lễ tân chưa trả lời được, cuộc gọi được chuyển tiếp đến công chức của sở, ngành chuyên môn để tiếp tục tư vấn trực tiếp.

Các giải pháp tiếp nhận ý kiến của người dân được triển khai tại Bắc Giang nằm trong kế hoạch nâng cao tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 trên địa bàn tỉnh, hình thành thói quen thực hiện dịch vụ công trên mạng Internet thay vì tốn nhiều thời gian đi xe đến Trung tâm Phục vụ hành chính duy nhất tại thành phố Bắc Giang.

“Hiện, cái khó nhất của chúng tôi là hỗ trợ dịch vụ công trực tuyến. Cơ quan nhà nước đã sẵn sàng để phục vụ trực tuyến, nhưng người dân chưa sẵn sàng. Rõ ràng đó là việc của kết nối thủ tục, giao diện. Nếu đơn giản hóa giao diện đi thì chắc chắn người dân sẽ dùng nhiều hơn. Phải làm sao để các thủ tục đơn giản nhất, để bà con thực hiện trực tuyến, không cần phải đến Trung tâm Phục vụ hành chính” - ông Lại Thanh Sơn, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bắc Giang, chia sẻ. (News.zing.vn 3/9, An Bình) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Dấu ấn phong trào thi đua “4 xin - 4 luôn”

Phong trào “4 xin - 4 luôn” tạo ra sự lan tỏa lớn và góp phần gây dựng hình ảnh người lao động ngành Giao thông đẹp hơn, nhân văn hơn…

Với những cống hiến vào sự nghiệp phát triển tổ chức công đoàn, cán bộ, lãnh đạo Bộ GTVT và Công đoàn GTVT VN được Tổng liên đoàn LĐVN trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp xây dựng tổ chức công đoàn” nhân dịp kỷ niệm 90 năm Công đoàn VN (28/7/1929 - 28/7/2019)

Nét đẹp người lao động ngành Giao thông qua phong trào “4 xin, 4 luôn”

Một trong những đổi thay tích cực của ngành GTVT thời gian qua được người dân ghi nhận là hình ảnh CBCNV lịch sự, thân thiện, nhiệt tình hơn khi giao tiếp, phục vụ nhân dân, khách hàng. Đó là kết quả của phong trào thực hiện văn hóa ứng xử giao tiếp “4 xin”: “Xin chào, xin lỗi, xin cảm ơn, xin phép” và “4 luôn”: “Luôn mỉm cười, luôn nhẹ nhàng, luôn thấu hiểu, luôn giúp đỡ” mà Công đoàn GTVT Việt Nam phát động đến các cơ quan, đơn vị, DN trong ngành GTVT từ tháng 5/2014.

Chia sẻ với Báo Giao thông, ông Đỗ Nga Việt, Chủ tịch Công đoàn GTVT VN cho biết, để phong trào đạt hiệu quả thiết thực, tạo sự lan tỏa, Công đoàn đã tranh thủ được sự lãnh đạo của Đảng, phối hợp chặt chẽ với chuyên môn khi triển khai. Vì vậy, phong trào đã trở thành nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị. Việc triển khai thực hiện được xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị, từng chức danh, vị trí công việc.

“Phương châm “4 xin - 4 luôn” được đặt ở các vị trí dễ thấy nhất như để nhắc nhở CBCNV thực hiện, đồng thời người dân, DN thấy để giám sát”, ông Việt nói.

Đến nay, sau 5 năm, phong trào này vẫn được duy trì thường xuyên; tạo sức lan tỏa trong toàn thể CBCNV, hình thành nên nét đẹp văn hóa người giao thông. Điều dễ thấy nhất là tại những nơi trước kia “có tiếng” về sự lộn xộn, hách dịch như: Bến tàu, bến xe, thì nay đã nhiều hơn những lời thưa gửi mềm mỏng, lịch sự, những sự chỉ dẫn, giúp đỡ nhiệt tình, chu đáo của nhân viên bán vé, nhân viên phục vụ… Tại các cơ quan hành chính thường xuyên tiếp xúc với người dân, DN, đã có nhiều cải cách, đổi mới thủ tục hành chính, công khai, minh bạch, giảm bớt các thủ tục phiền hà hay thái độ cửa quyền, sách nhiễu…

Cùng với phong trào “4 xin - 4 luôn”, việc thành lập và duy trì hoạt động Quỹ Xã hội - Từ thiện Công đoàn GTVT VN ổn định, bền vững trong 5 năm qua đã góp phần xây dựng hình ảnh người lao động ngành Giao thông nhân văn hơn, đẹp hơn.

Ông Lê Ngọc Minh, Phó chủ tịch Công đoàn GTVT VN cho hay, đặc thù của người lao động ngành giao thông làm việc trong điều kiện phân tán, nặng nhọc, thu nhập thấp. Hơn nữa, với những thế hệ đi trước như cựu TNXP còn rất thiệt thòi. Điều này đặt ngành giao thông trước trăn trở làm gì để chia sẻ với lực lượng cựu TNXP và CBCNV ngành giao thông có hoàn cảnh khó khăn. Từ sự quan tâm chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng Bộ GTVT, Công đoàn GTVT VN đã xây dựng Quỹ Xã hội - Từ thiện để thực hiện mục tiêu này một cách ổn định, bền vững. Quỹ Chính thức đi vào hoạt động từ tháng 2/2014.

Tính đến hết 31/12/2018, Quỹ đã hỗ trợ xây dựng 89 nhà “Mái ấm công đoàn”; thăm, hỗ trợ, tặng quà 4.169 lượt CNVC-LĐ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, thăm CNLĐ bị tai nạn lao động, TNGT. Hỗ trợ xây dựng 465 “Nhà tình nghĩa”, tặng 4.483 sổ tiết kiệm; thăm, hỗ trợ, tặng quà 4.358 cựu TNXP và cựu chiến sĩ Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh Việt Nam có hoàn cảnh khó khăn, và nhiều hoạt động xã hội - từ thiện khác với tổng số tiền lên đến hơn 70 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm đến nay, Quỹ đã tặng quà cho 882 CNLĐ, 19 tập thể khó khăn; hỗ trợ xây dựng 3 nhà “Mái ấm Công đoàn”; tặng 250 suất quà, hỗ trợ xây dựng 13 “Nhà tình nghĩa” cho cựu TNXP, cựu chiến sĩ Trường Sơn… với tổng số tiền hơn 3,7 tỷ đồng.

“Thời gian tới Công đoàn GTVT VN sẽ tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp duy trì, phát triển quỹ để tiếp tục chia sẻ với người lao động, với những hoàn cảnh khó khăn một cách kịp thời, chu đáo”, ông Minh nói. (Giao Thông Online 2/9, Kỳ Nam)  Về đầu trang

Giảm phí, miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp: Rẻ nhưng có dễ thực hiện?

Thông tư Bộ Tài chính quy định về lệ phí đăng ký doanh nghiệp, được đánh giá là tiện lợi hơn, rẻ hơn. Tuy nhiên, nhiều ý kiến lại cho rằng “rẻ” nhưng có dễ thực hiện hay không lại là một chuyện khác.

Theo Thông tư số 47/2019/TT-BTC, ngày 05/8/2019 của Bộ Tài chính ban hành về việc quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp thì: “Mức thu lệ phí cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 50.000 đồng/lần (hiện hành là 100.000 đồng/lần). Trường hợp doanh nghiệp thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử sẽ được “miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp”. Các mức thu phí cung cấp thông tin doanh nghiệp vẫn được giữ nguyên như quy định hiện hành, trừ phí công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp giảm còn 100.000 đồng/lần (giảm 200.000 đồng so với hiện hành).

“Mức thu lệ phí cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 50.000 đồng/lần (hiện hành là 100.000 đồng/lần). Theo Thông tư số 47/2019/TT-BTC, ngày 05/8/2019: “Mức thu lệ phí cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 50.000 đồng/lần (hiện hành là 100.000 đồng/lần)

Như vậy, theo quy định tại thông tư nêu trên, có thể nói, đây là bước cải cách thủ tục hành chính có nhiều điểm tích cực, giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp khi tiến hành thực hiện các thủ tục hành chính. Tuy nhiên, một số ý kiến lại cho rằng “rẻ” nhưng có dễ thực hiện hay không sẽ là một vấn đề khác.

Ông Nguyễn Hữu Vinh – Giám đốc Công ty TNHH Vận tải Nhật Quang, cho rằng: Về mặt tích cực của thông tư theo quy định về biểu phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp, cụ thể, “lệ phí đăng ký doanh nghiệp, bao gồm: cấp mới, cấp lại, thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là 50.000 đồng/lần; Phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, bao gồm: Cung cấp thông tin Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Giấy chứng nhận hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh chỉ còn là 20.000 đồng/bản… ở thời điểm hiện nay là phù hợp với thực tiễn. 

"Tuy nhiên, hiện nay, việc thành lập doanh nghiệp vẫn còn có rất nhiều bất cập. Cụ thể, thủ tục xét duyệt cho các đối tượng được hưởng ưu đãi còn quá phức tạp, quá rườm rà khiến các doanh nghiệp không hào hứng tham gia. Rất nhiều doanh nghiệp phàn nàn về các thủ tục hành chính chưa gọn lẹ, gây phiền toái và mất thời gian của doanh nghiệp. Thời gian thực hiện các trình tự thủ tục đầu tư còn kéo dài và quản lý tài chính khá phức tạp là một trong những cản trở đối với việc triển khai nhanh các dự án cũng như mở rộng quy mô của nó cho phù hợp với sự chuyển biến năng động và liên tục của thị trường và của doanh nghiệp" – ông Vinh nói.

Việc giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp là ưu điểm của thông tư lần này, tuy nhiên, phải dựa trên cơ sở dễ thực hiện, khâu hướng dẫn phải gọn lẹ, dễp/dàng để kích thích doanh nghiệp tham gia thực hiện. Nếu không, sẽ rơi vào tình trạng “rẻ nhưng không có mà mua”, “rẻ, miễn phí mà không dễ thực hiện”… sẽ là điểm hạn chế và phản tác dụng của thông tư.

Ông Nguyễn Hữu Vinh: việc giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp là ưu điểm của thông tư lần này, tuy nhiên, phải dựa trên cơ sở dễ thực hiện, khâu hướng dẫn phải gọn lẹ, dễ dàng. Nếu không, sẽ rơi vào tình trạng “rẻ nhưng không có mà mua”, “rẻ, miễn phí mà không dễ thực hiện”

Cũng theo ông Vinh, nếu theo báo cáo  khảo sát của Cục Thống kê TP. HCM, hiện có trên 1.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh và khu vực kinh doanh phi chính thức đang là thành phần kinh doanh lớn ở Việt Nam.

Tuy nhiên, các đối tượng này thiếu động cơ thành lập doanh nghiệp vì ngại phiền phức về các vấn đề pháp lý, thủ tục thuế, thiếu am hiểu quản lý vận hành doanh nghiệp. Trong số đó có tới 73% cơ sở sản xuất không có ý định chuyển mô hình hoạt động lên doanh nghiệp.

Ngoài ra, các khó khăn doanh nghiệp gặp phải như thiếu vốn (chiếm đến 60%), thủ tục hành chính, cạnh tranh kém, thiếu nhân lực, mặt bằng sản xuất, giá thành cao… dẫn đến sự bế tắc trên con đường khởi nghiệp.

"Vì vậy, việc giảm chi phí, thời gian cho doanh nghiệp là ưu điểm của thông tư lần này, tuy nhiên, phải dựa trên cơ sở dễ thực hiện, khâu hướng dẫn phải gọn lẹ, dễ  dàng để kích thích doanh nghiệp tham gia thực hiện. Nếu không, sẽ rơi vào tình trạng rẻ nhưng không có mà mua, rẻ, miễn phí mà không dễ thực hiện… sẽ là điểm hạn chế và phản tác dụng của thông tư" – ông Vinh nhấn mạnh.

Tương tự, ông Nguyễn Văn Thuấn – Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phương Quang, chia sẻ: Việc Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 47/2019/TT-BTC, ngày 05/8/2019 của Bộ Tài chính ban hành về việc quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp ở thời điểm hiện nay là tương đối kịp thời.

Tuy nhiên, trên cơ sở phải dễ thực hiện để các doanh nghiệp có thể áp dụng. Song song đó, cũng cần phải xử lý những bất cập đang là rào cản khiến các doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà trong việc chủ động thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh.

Cụ thể, hiện tại các điều kiện đầu tư kinh doanh mà nhà đầu tư phải đáp ứng khi thành lập doanh nghiệp trong các lĩnh vực chuyên ngành còn chưa rõ ràng. Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư thì điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới các hình thức: Giấy phép, Giấy chứng nhận đủ điều kiện, Chứng chỉ hành nghề, Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, Văn bản xác nhận…

Nếu căn cứ theo quy định trên thì một số điều kiện như “văn bản xác nhận, các hình thức văn bản khác, các yêu cầu, tiêu chuẩn, điều kiện cá nhân, tổ chức kinh tế phải đáp ứng để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới các hình thức văn bản”, vẫn còn quá chung chung và mập mờ.

Điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện.

ông Nguyễn Văn Thuấn – Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phương Quang, chia sẻ: Việc Bộ Tài chính ban hành Thông số 47/2019/TT-BTC, ngày 05/8/2019 của Bộ Tài chính ban hành về việc quy định về mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí cung cấp thông tin doanh nghiệp, lệ phí đăng ký doanh nghiệp ở thời điểm hiện nay là tương đối kịp thời. Tuy nhiên, trên cơ sở phải dễ thực hiện để các doanh nghiệp có thể áp dụng. Song song đó, cũng cần phải xử lý những bất cập đang là rào cản khiến các doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà trong việc chủ động thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh.

Ông Nguyễn Văn Thuấn – Giám đốc Công ty TNHH Dịch vụ Vận tải Phương Quang: cần phải xử lý những bất cập đang là rào cản khiến các doanh nghiệp chưa thực sự mặn mà trong việc chủ động thực hiện các thủ tục đăng ký kinh doanh.

Như vậy, có thể thấy, các quy định về điều kiện kinh doanh thiếu rõ ràng có thể dẫn đến nhiều hậu quả. Trước hết, nó làm tăng đáng kể chi phí “gia nhập” vào thị trường kinh doanh các ngành, nghề đòi hỏi phải có giấy phép, và cả các chi phí kinh doanh nói chung đối với doanh nghiệp.

Mặt khác nó gây rủi ro trong kinh doanh và giảm mức độ tuân thủ pháp luật. Nhà đầu tư và doanh nghiệp không hiểu và biết được phải làm và làm thể nào để “đúng”, “đủ” và “phù hợp” với quy định của pháp luật. Do đó, doanh nghiệp không thể tiên liệu được là việc xin phép có thể đạt được kết quả như dự tính hay không.

"Có thể thấy chính hệ thống các quy định về không rõ ràng về điều kiện kinh doanh đã và đang trở thành rào cản lớn, ngăn chặn tiến trình gia nhập thị trường của nhà đầu tư" – ông Thuấn nói.

Nhận định về góc độ pháp lý và một số bất cập, hạn chế về thủ tục đăng ký kinh doanh, Luật sư Nguyễn Hải Vân – Giám đốc Công ty Luật hợp danh Đông Á, cho rằng:

Thứ nhất, hạn chế trong thủ tục đăng ký doanh nghiệp và cụ thể là Luật Doanh nghiệp năm 2005 và hiện tại là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đều có quy định ngoại trừ áp dụng đối với lĩnh vực chuyên ngành.

Theo Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì “Trường hợp luật chuyên ngành có quy định đặc thù về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp thì áp dụng quy định của luật đó”.

Theo đó Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn chỉ áp dụng đối với chủ thể kinh doanh như công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân… hoạt động theo Luật Doanh nghiệp mà không phục vụ đăng ký các loại hình kinh doanh khác trong các lĩnh vực đặc thù như: ngân hàng liên doanh, tổ chức kinh doanh chứng khoán, các công ty bảo hiểm...

Vì vậy, việc cải thiện thủ tục thành lập doanh nghiệp, giúp nhà đầu tư giảm chi phí, thời gian gia nhập thị trường cũng như những đột phá trong cải cách thủ tục hành chính tại Luật Doanh nghiệp năm 2014, Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp (Nghị định 78/2015/NĐ-CP) không phải doanh nghiệp nào cũng được hưởng.

Đối với doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành thì trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập doanh nghiệp vẫn chịu sự chi phối có tính quyết định bởi pháp luật chuyên ngành. Doanh nghiệp trong các lĩnh vực này không cần phải tiến hành thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư tại các tỉnh, thành phố, mà đăng ký tại cơ quan quản lý chuyên ngành theo quy định của Luật chuyên ngành. Hệ quả của nó là các quy định thông thoáng về thủ tục đăng ký kinh doanh tại luật doanh nghiệp bị vô hiệu hóa bởi pháp luật chuyên ngành.

Thứ hai, các quy định về đặt tên doanh nghiệp còn cản trở quyền tự do thành lập doanh nghiệp của nhà đầu tư, cụ thể: Việc quy định về tên doanh nghiệp đã được luật hóa tại Điều 38, 39 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Và tại Chương III Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, cụ thể, cấm đặt tên doanh nghiệp trong các trường hợp: “Đặt tên trùng hoặc tên gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký quy định tại Điều 42 của Luật Doanh nghiệp năm 2014; Sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp để làm toàn bộ hoặc một phần tên riêng của doanh nghiệp, trừ trường hợp có sự chấp thuận của cơ quan, đơn vị hoặc tổ chức đó; Sử dụng từ ngữ, ký hiệu vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc”.

Tuy nhiên, việc xác định cụ thể các nhân vật là danh nhân, nhân vật trong lịch sử bị coi là phản chính nghĩa, kìm hãm sự tiến bộ, thì không có căn cứ rõ ràng. Những quy định chung chung như trên đã gây ra nhiều lúng túng cho nhà đầu tư lẫn cơ quan quản lý, dẫn đến sự từ chối “tùy tiện” của cơ quan quản lý trong cấp đăng ký doanh nghiệp, chưa đảm bảo quyền tự do thành lập doanh nghiệp, trong đó có quyền đặt tên cho doanh nghiệp của nhà đầu tư.

Thứ ba, bất cập trong quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp: Đối với từng loại hình doanh nghiệp, khi đăng ký thành lập sẽ được yêu cầu chi tiết thành phần hồ sơ, từ Điều 20 đến Điều 23 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tại khoản 2 Điều 9 của Nghị định 78/2015/NĐ-CP có quy định: “Cơ quan đăng ký kinh doanh không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp nộp thêm hồ sơ hoặc giấy tờ khác ngoài các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định”.

Tuy nhiên vẫn còn có quy định đối với một số ngành nghề kinh doanh, khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thì cần có giấy phép “cho phép thành lập trước của các bộ chuyên ngành”. Đơn cử, ở lĩnh vực sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cấp; lĩnh vực thuốc chữa bệnh cho người do Bộ Y tế cấp …

Vậy Sở Kế hoạch Đầu tư có được quyền yêu cầu nhà đầu tư cung cấp các giấy phép này ngoài thành phần hồ sơ đã ấn định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 không? Rõ ràng, nếu yêu cầu nộp thêm, Sở Kế hoạch Đầu tư đã vi phạm quy định của khoản 2 Điều 9 Nghị định 78/2015/NĐ-CP. Song nếu không yêu cầu thì Sở Kế hoạch Đầu tư lại vi phạm các quy định của luật chuyên ngành khác.

"Do đó, Thông tư số 47/2019/TT-BTC của Bộ Tài chính, khi về tới các địa phương cần phải được cụ thể hóa theo tính chất dễ hiểu, dễ làm để tạo hiệu ứng cho doanh nghiệp, kích thích doanh nghiệp hưởng ứng tham gia để thông tư đi vào cuộc sống, thực tiễn" – Luật sư Vân nói. (Diễn đàn Doanh nghiệp Online 2/9, Hương Giang) Về đầu trang

BHXH: Cải cách hành chính dựa trên nền tảng công nghệ thông tin

Những nỗ lực triển khai ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động bảo hiểm xã hội (BHXH) đã nhận được đánh giá cao từ các bên liên quan. Điều này thể hiện rõ nét nhất ở báo cáo xếp hạng môi trường kinh doanh Doing Business 2018 của Ngân hàng Thế giới (WB), chỉ số nộp thuế và BHXH của Việt Nam đã tăng 81 bậc, đạt vị trí 86/190.

Kết quả một cuộc khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng cho thấy, đối với BHXH, 91% doanh nghiệp đánh giá vướng mắc đã và đang được giải quyết; 87% doanh nghiệp đánh giá thời gian giải quyết nhanh và vừa phải. Ðây là sự ghi nhận những kết quả của BHXH Việt Nam trong việc cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong nhiều năm qua.

 Ông Ðào Việt Ánh, Phó tổng giám đốc BHXH Việt Nam cho biết, BHXH đã tập trung tối đa nguồn lực, quyết liệt triển khai cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực BHXH, bảo hiểm y tế một cách đồng bộ.

Nhờ ứng dụng công nghệ thông tin, việc cải cách thủ tục hành chính đã có nhiều hiệu quả đáng chú ý. Từ năm 2009 đến nay, ngành BHXH đã thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa khoảng 90% số lượng các thủ tục hành chính, từ 263 thủ tục xuống còn 28 thủ tục.

Theo đánh giá của WB, thời gian thực hiện thủ tục hành chính giảm khoảng 60%, từ 335 giờ xuống còn 147 giờ. Giao dịch điện tử với các đơn vị tham gia BHXH đạt trên 90%; thực hiện kết nối với gần 13.000 cơ sở khám chữa bệnh, đạt tỷ lệ gần 100%. Hiện có 19/28 thủ tục hành chính được thực hiện trực tuyến cấp độ 3, 4 cho 19/28 thủ tục hành chính.

Theo ông Ánh, thời gian tới, BHXH Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thông qua việc tiếp tục nghiên cứu rà soát, đơn giản hóa các hồ sơ, quy trình thủ tục hành chính gắn liền với việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và kết nối, khai thác các cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành.

Mục tiêu đặt ra là cắt giảm tối thiểu 25% số thủ tục hành chính đối với lĩnh vực chính sách bảo hiểm y tế và lĩnh vực chi trả BHXH so với năm 2018, cắt giảm tối thiểu 20% thành phần hồ sơ; 35,47% số tiêu thức; 20,83% số biểu mẫu; rút ngắn thời gian thực hiện thủ tục hành chính lĩnh vực chính sách BHXH so với năm 2018.

BHXH Việt Nam sẽ đẩy mạnh thanh toán điện tử và đảm bảo các điều kiện để thực hiện dịch vụ công trực tuyến cấp độ 4. Trong đó, xây dựng hệ thống thu nộp, chi trả BHXH điện tử trên nền tảng áp dụng phương thức thanh toán điện tử trực tuyến công nghệ tiên tiến, hiện đại theo hướng tự động hóa để tăng tốc độ xử lý giao dịch, nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ công trực tuyến.

Hiện, cổng thông tin điện tử của BHXH Việt Nam đang được hoàn thiện để cung cấp thêm các công cụ, tiện ích hỗ trợ đơn vị sử dụng lao động.

Các bên tham gia giao dịch điện tử với cơ quan BHXH được thuận tiện, cung cấp dịch vụ công điện tử, hỗ trợ truy cập cho thiết bị di động. Các ứng dụng trên điện thoại di động sẽ cho phép truy cập, tra cứu và khai thác thông tin một cách tiện lợi và đa dạng cho các cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch với cơ quan BHXH.

Năm 2019, BHXH tiếp tục cập nhật mã số và đồng bộ thông tin định danh người tham gia BHXH; quản lý dữ liệu quá trình thu nộp, chi trả BHXH, thông tin đơn vị tham gia BHXH…. Trên cơ sở đó, BHXH Việt Nam sẽ đề xuất các “hành lang” pháp lý cần thiết và tiến hành liên thông, cung cấp thông tin, dữ liệu với các bộ ngành, địa phương và doanh nghiệp.

Ông Nguyễn Hoàng Phương, Phó giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin (BHXH Việt Nam) lưu ý, đối với người dân, dữ liệu bảo hiểm chứa thông tin BHYT, xã hội, thất nghiệp của công dân, vì vậy, công dân cần theo dõi các thông tin của mình nhằm đảm bảo các quyền lợi hợp pháp đồng thời cũng làm cơ sở để theo dõi, định hướng về y tế, an sinh xã hội.

Ðược biết, BHXH Việt Nam phấn đấu đến năm 2020 hoàn thành việc xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu điện tử về quản lý BHXH liên thông, hiện đại với công nghệ mới nhất. Ðiều này hứa hẹn mang lại diện mạo mới cho ngành BHXH trong việc quản lý, cung cấp dịch vụ theo hướng tập trung, nhanh chóng, chính xác; hướng tới sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. (Tinnhanhchungkhoan.vn 3/9, Nguyễn Duy) Về đầu trang

Năm 2020, hàng hải “chuẩn hóa” toàn bộ thủ tục hành chính lên mức độ 4

Cục Hàng hải VN đặt mục tiêu nâng cấp mức độ 4 đối với toàn bộ TTHC thông quan cổng thông tin một cửa quốc gia vào năm 2020.

Cục Hàng hải VN vừa có kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 36 về “Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” giai đoạn 2019 - 2025.

Tại kế hoạch này, công tác cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính (TTHC), xây dựng hệ thống TTHC hiệu quả, minh bạch, tạo thuận lợi và giảm tối đa chi phí cho cá nhân, tổ chức liên quan là 1 trong 9 nội dung quan trọng được Cục Hàng hải xác định phải thực hiện mạnh mẽ trong thời gian tới.

Cụ thể, giai đoạn 2019 - 2020, Cục Hàng hải sẽ tiếp tục thực hiện rà soát các TTHC và đề xuất hướng cắt giảm TTHC cho phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến quản lý hoạt động đầu tư, xây dựng cảng biển; Rà soát, đơn giản hóa TTHC, giảm thời gian bãi bỏ hoặc thay thế các loại giấy tờ phải nộp trong hồ sơ, hạn chế việc nộp hoặc xuất trình bản chính trong khi làm thủ tục.

"Đặc biệt, Cục Hàng hải sẽ phối hợp với Trung tâm CNTT (Bộ GTVT) các cơ quan liên quan nâng cấp 3 TTHC cho tàu, thuyền xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh tham gia cơ chế một cửa quốc gia lên mức độ 4 (có thu phí điện tử) trong giai đoạn 2019 - 2020. Đến năm 2020 sẽ thực hiện nâng cấp mức độ 4 đối với toàn bộ TTHC thông qua cổng thông tin một cửa quốc gia”, văn bản do Cục trưởng Cục Hàng hải Nguyễn Xuân Sang ký nêu rõ.

Cùng với việc cắt giảm, đơn giản hóa TTHC, Cục Hàng hải cũng xây dựng kế hoạch tiếp tục phối hợp với cơ quan liên quan nghiên cứu tăng cường ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ TTHC, đẩy mạnh công tác phối hợp, chia sẻ cơ sở dữ liệu điện tử để việc giải quyết TTHC giữa Bộ GTVT, Cục Hàng hải VN, các cảng vụ hàng hải và các bộ, ngành, địa phương liên quan được đồng bộ, hiệu quả.

Trước đó, trao đổi với Báo Giao thông, ông Trần Công Sáng, Trưởng phòng Pháp chế (Cục Hàng hải VN) cho biết, sau khi Bộ luật Hàng hải năm 2015 được Quốc hội thông qua, Cục Hàng hải đã thực hiện quyết liệt công tác cải cách TTHC.

“Tính đến thời điểm hiện tại, tổng số TTHC trong lĩnh vực hàng hải được công bố là 101 thủ tục, trong đó có 21 thủ tục được đề xuất cắt giảm, đạt 21,7%.

Về dịch vụ công trực tuyến, Cục Hàng hải VN là cơ quan đi đầu trong việc tham gia thực hiện cơ chế một cửa quốc gia ngay từ giai đoạn 1 (năm 2014). Hiện, Cục Hàng hải đã xây dựng lộ trình, triển khai 58 TTHC mức độ 2; 39 thủ tục cung cấp trực tuyến mức độ 3; 9 thủ tục về quản lý thuyền viên cung cấp trực tuyến mức độ 4”, ông Sáng thông tin.

Cũng theo ông Sáng, để nâng cao sự minh bạch trong quản lý nhà nước, đem lại lợi ích về thời gian, chi phí cho doanh nghiệp, từ năm 2018, Cục Hàng hải đã triển khai mở rộng cơ chế một cửa quốc gia đối với thực hiện cung cấp 11 TTHC lĩnh vực hàng hải trên cổng thông tin một cửa quốc gia tại toàn bộ 25 cảng vụ hàng hải. Theo thống kê, tổng số hồ sơ điện tử được 25 cảng vụ hàng hải tiếp nhận, phê duyệt từ ngày 1/1/2019 - 15/6/2019 là hơn 41.100 hồ sơ, đạt tỷ lệ 92%. (Giao Thông 3/9, Nam Khánh) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Sẽ có kỳ sát hạch tập trung cho công chức trước khi tuyển dụng

Phần thi kiến thức chung, tin học, ngoại ngữ sẽ được tách riêng để giao cho các trung tâm độc lập tổ chức sát hạch tập trung cho cả nước và cấp chứng chỉ cho ứng viên trước khi các cơ quan tuyển dụng thi tuyển chuyên ngành.

“Kiểm định chất lượng đầu vào” đối với công chức là một trong những chính sách mới vừa được Chính phủ bổ sung vào luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Cán bộ, công chức và luật Viên chức dự kiến sẽ thông qua tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội (QH) tới đây. Trong dự thảo luật lần đầu trình ra QH tại kỳ họp 7 vừa qua, điều 39 luật Cán bộ, công chức hiện hành đã được đổi tên từ “Cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức” thành “Tuyển dụng công chức”, đồng thời bổ sung quy định: “Việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức được thực hiện trước khi cơ quan có thẩm quyền lựa chọn, tuyển dụng công chức. Chính phủ quy định chi tiết việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức”. Trình bày tờ trình tại kỳ họp 7, đại diện Chính phủ - Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân giải thích, quy định này nhằm thể chế hóa chủ trương đã được xác định tại Nghị quyết 26 Hội nghị T.Ư 7, trong đó xác định: “Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức để các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu, nhiệm vụ”.

Tuy nhiên, 7 trong số 19 đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tham gia thảo luận về dự thảo luật tại nghị trường đã bày tỏ băn khoăn về quy định này, nhất là nội dung “giao Chính phủ quy định chi tiết” trong khi đây là quy định rất mới. ĐBQH Trần Thị Hằng, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH Bắc Ninh, đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Đề nghị phải có quy định về nguyên tắc kiểm định chất lượng đầu vào là kiểm định những gì, kiểm định như thế nào và giá trị kiểm định ra sao? Đầu ra của kiểm định là gì, có phải sau khi kiểm định cấp cho mỗi người một chứng chỉ và sau đó có thể giơ chứng chỉ đi các cơ quan đăng ký thi vào không?”. ĐB Huỳnh Cao Nhất, Phó giám đốc Sở Du lịch tỉnh Bình Định, cũng đề nghị làm rõ thế nào là “kiểm định chất lượng đầu vào” công chức và quy định chi tiết trong luật một số vấn đề nguyên tắc, hình thức tổ chức, nội dung kiểm định, cơ quan, tổ chức kiểm định; trình tự, thủ tục kiểm định...

Giải thích về những băn khoăn của các ĐBQH, trao đổi với Thanh Niên, Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân giải thích: Việc kiểm định đầu vào được tiến hành trước khi cơ quan tuyển dụng thi tuyển hoặc xét tuyển là “kiểm định” về những kiến thức chung về quản lý hành chính nhà nước; ngoại ngữ và tin học. Sau khi các ứng viên vượt qua được kỳ “kiểm định”, được cấp chứng nhận thì các cơ quan tuyển dụng sẽ tiến hành thi tuyển, xét tuyển về chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm mà các cơ quan này cần tuyển dụng. Về đơn vị được giao làm nhiệm vụ “kiểm định”, ông Tân cho hay, dự kiến sẽ hình thành một số trung tâm theo khu vực nhưng theo hướng giao cho các đơn vị sẵn có.

Các chuyên gia vẫn cho rằng còn nhiều điều cần phải làm rõ đối với quy định này. Ông Bùi Văn Xuyền, Ủy viên thường trực Ủy ban Pháp luật QH, cho biết do Chính phủ không trình dự thảo nghị định kèm theo hồ sơ dự luật nên ngay cả cơ quan thẩm tra cũng chưa biết cụ thể việc kiểm định đầu vào công chức sẽ thực hiện như thế nào. Tuy nhiên, ông Xuyền cho hay, quan điểm của cơ quan thẩm tra là cần phải quy định rõ về thời điểm kiểm định, nguyên tắc cơ bản trong kiểm định, hình thức kiểm định; giao Chính phủ quy định chi tiết và phân công cơ quan tổ chức thực hiện kiểm định, quy định trình tự, thủ tục kiểm định, hiệu lực của kết quả kiểm định. Bên cạnh đó, theo ông Xuyền, việc sử dụng khái niệm “kiểm định đầu vào” ở đây cũng chưa chính xác khi thực chất nó là việc sát hạch kiến thức chung và các kỹ năng ngoại ngữ, tin học như những điều kiện cần đối với công chức trước khi sát hạch kiến thức chuyên ngành.

Bà Nguyễn Thị Thủy, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp QH, thì băn khoăn, nếu như việc kiểm định này được tiến hành một cách thường xuyên, không gắn với các đợt tuyển dụng công chức thì sẽ có hàng ngàn thí sinh mặc dù chưa biết sẽ thi tuyển công chức vào cơ quan nào nhưng vẫn đăng ký kiểm định chất lượng để có chứng chỉ như tin học, ngoại ngữ. Ngược lại, nếu như kiểm định gắn các đợt tuyển dụng thì có thể kéo dài thời gian thi tuyển, gây tốn kém cho thí sinh vì khi đó, cơ quan có nhu cầu tuyển dụng sẽ phải thông báo việc tuyển dụng, tiếp nhận hồ sơ, sau đó nhờ cơ quan kiểm định kiểm định đầu vào cho số thí sinh đã đăng ký, sau khi có kết quả chấm kiểm định mới tổ chức thi sát hạch chuyên ngành. “Bộ Nội vụ cần phải thực hiện dự kiến cần bao nhiêu biên chế để thực hiện nhiệm vụ mới và nguồn biên chế này được lấy từ đâu, bởi công việc này vẫn đang được giao cho hơn 100 đầu mối, cơ quan thực hiện”, bà Thủy nêu. (Thanh Niên 3/9, Lê Hiệp) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Cán bộ nghỉ hưu “nhúng chàm” mất quyền vật chất: Răn đe!

Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Cán bộ, công chức và luật Viên chức gửi đến đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết, dự thảo luật đã bổ sung nguyên tắc gắn hình thức xử lý kỷ luật với hệ quả pháp lý tương ứng, để làm cơ sở cho Chính phủ quy định chi tiết.

Theo đó, đối với từng hình thức xử lý kỷ luật “cảnh cáo”, “kỷ luật”, “xóa tư cách” thì cán bộ, công chức còn phải chịu kèm theo hệ quả cụ thể nào đó (ví dụ như cắt một số quyền lợi về vật chất mà người đó được hưởng)...

Trao đổi với Đất Việt, các ý kiến đều tán thành việc gắn hình thức xử lý kỷ luật cán bộ, công chức với việc cắt một số quyền lợi vật chất mà người đó đang được hưởng.

Một chuyên gia hành chính công cho biết, từ trước tới nay, việc xử lý cán bộ, công chức sau nghỉ hưu, trong đó có việc xóa tư cách chức vụ của người đó trong thời gian đảm nhiệm chỉ là “xóa cái danh”. Và vấn đề gây tranh luận nhiều trong thời gian qua chính là các chế độ, chính sách kèm theo chức danh đó như hệ số phụ cấp, thưởng có bị xử lý hay không?

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức đã nghỉ việc nghỉ hưu là một chủ trương lớn nên cần phải nghiên cứu thận trọng, có quy định hợp lý bảo đảm tính khả thi và thống nhất trong quá trình thực hiện.

"Khi xóa tư cách chức vụ cần xử lý đầy đủ các chế độ, chính sách mà cán bộ, công chức được hưởng khi họ bị xóa tư cách chức vụ đảm nhiệm tại thời điểm vi phạm. Việc dự thảo luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Cán bộ, công chức và luật Viên chức bổ sung quy định này là hoàn toàn hợp lý và cần thiết, có tác dụng răn đe và giúp đề cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ khi đang công tác, tránh việc tư duy nhiệm kỳ", vị chuyên gia đánh giá.

Cùng quan điểm, ông Lê Như Tiến, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội cũng tán thành việc xóa bỏ tư cách chức vụ của cán bộ, công chức bị kỷ luật kèm theo xóa bỏ các điều kiện vật chất mà người đó được hưởng với tư cách chức vụ đó.

"Ví dụ, một người trước là bộ trưởng, sau khi nghỉ hưu bị kỷ luật xóa tư cách bộ trưởng thì phải xóa luôn các điều kiện quyền lợi vật chất mà người đó được hưởng với tư cách là bộ trưởng. Bởi đã bị xóa tư cách bộ trưởng rồi thì không có lý do gì để giữ lại và cũng không có quyền được hưởng các quyền lợi vật chất như việc đi lại, khám chữa bệnh... mà cán bộ cao cấp được hưởng", ông Tiến dẫn chứng.

Ông khẳng định, nếu quy định trên trở thành hiện thực thì tính cảnh báo, răn đe sẽ cao hơn, cho thấy khi cán bộ, công chức nghỉ hưu bị kỷ luật, không còn chức danh ấy thì không thể có quyền lợi đi kèm với chức danh đó.

"Cán bộ tay đã nhúng chàm thì phải xử lý mạnh mẽ, quyết liệt để răn đe, cảnh báo, cảnh tỉnh họ và cả những cán bộ khác có dấu hiệu vi phạm hay tham nhũng", nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội nhấn mạnh. (Đất Việt 3/9, Thành Luân) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

VBF và các thành viên luôn ủng hộ công cuộc chống tham nhũng

Đó là khẳng định của ông Giles T.Cooper, đồng Trưởng nhóm Quản trị và Liêm chính của Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) với Báo Thanh tra, liên quan đến việc triển khai thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) 2018.

Ông Giles T.Cooper  chia sẻ, các nguyên tắc của khu vực tư nhân đối với Luật PCTN mới là một khởi đầu và một bước quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng. Tuy nhiên, vẫn còn sớm để đưa ra khuyến nghị cụ thể về những gì có thể thay đổi hoặc cải thiện. Có lẽ điều quan trọng nhất bây giờ là xây dựng dựa trên những tiền đề tích cực để áp dụng luật PCTN mới và tiếp tục khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân dựa trên nền tảng lợi ích của họ và của toàn xã hội.

+ Ông đánh giá việc xây dựng Luật PCTN 2018 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập qua 10 năm thi hành Luật PCTN năm 2005 (đã được sửa đổi năm 2007 và 2012) như thế nào?

- Những hạn chế qua 10 năm thực hiện Luật PCTN 2005 chủ yếu đến từ cơ chế thực thi luật pháp còn yếu kém. Luật PCTN 2005 đã không tạo điều kiện hình thành các nhóm chuyên trách độc lập có quyền hạn và thẩm quyền điều tra các trường hợp tham nhũng. Luật cũng không quy định rõ ràng trong việc kiểm soát tài sản và thu nhập của các quan chức Nhà nước, hay thiết lập vai trò giám sát cụ thể cho người đứng đầu các cơ quan công quyền.

Mặt khác, Luật PCTN mới tạo ra các nhóm chuyên trách PCTN trên hầu hết mọi tỉnh, thành và bộ, ngành, có nhiệm vụ điều tra các báo cáo tham nhũng, xem xét và xác minh tài sản và kê khai thu nhập. Những lực lượng đặc nhiệm này nên hoạt động độc lập với các cơ quan công quyền đang bị điều tra. Đây hứa hẹn sẽ là một công cụ mới để Chính phủ giải quyết mọi hành vi tham nhũng.

VBF được thành lập năm 1997 tại Hội nghị Tư vấn thường niên giữa Chính phủ Việt Nam và cộng đồng các nhà tài trợ.

Diễn đàn như một kênh đối thoại chính sách hoạt động phi lợi nhuận,không mang tính chất chính trị nhằm mục đích xây dựngmột môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút đầu tư tư nhân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững tại Việt Nam.

Hoạt động của Diễn đàn chủ yếu thông qua các phiên họp cấp cao định kỳ giữa lãnh đạo cấp cao của Chính phủ Việt Nam và cộng đồng doanh nghiệp đồng thời thông quahoạt động của các nhóm công tác chuyên trách trên tất cả các lĩnh vực kinh tế.

Liên minh VBF bao gồm 15 Hiệp hội thành viên và 15 Nhóm công tác.Sau 20 năm thành lập, VBF đã ngày càng trưởng thành và lớn mạnh, là kênh đối thoại cấp cao quan trọng và hiệu quả, được cộng đồng doanh nghiệp cũng như phía các cơ quan Chính phủ đánh giá cao.

Thêm nữa, Luật PCTN mới cũng trực tiếp huy động khu vực tư nhân tham gia vào công cuộc PCTN, đặc biệt với các yêu cầu mới là các công ty tư nhân phải thực hiện các chính sách chủ động ngăn chặn tham nhũng từ nhân viên của họ.

Chúng tôi thấy đây là những yếu tố đầy hứa hẹn trong luật mới và sẽ cải thiện việc thực thi các chính sách chống tham nhũng ở Việt Nam.

+ Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật ra khu vực ngoài Nhà nước là điểm mới cơ bản của Luật PCTN 2018, theo ông, nội dung này đã có tác dụng như thế nào, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tham gia VBF?

- Còn quá sớm để đánh giá hiệu quả thực sự của những quy định mới hết sức quan trọng này. Tuy nhiên, mục đích là tốt, và các tín hiệu thì tích cực. Các quy định mới cung cấp thêm một góc độ pháp lý cho các vấn đề về nhân cách và đạo đức, yếu tố quan trọng quyết định một công dân doanh nghiệp tốt. Điều này cũng không phải là mới đối với các doanh nghiệp thành viên của VBF bởi rất nhiều trong số họ đã quen với việc tuân thủ các quy định pháp lý tương tự ở nước của họ.

Trong tương lai gần, chúng tôi kì vọng thấy được ngày một nhiều các doanh nghiệp “Việt Nam hóa” các quy định và chính sách nội bộ sao cho phù hợp và thực thi hơn tại Việt Nam. Chúng tôi hi vọng rằng, trong tương lai tới, điều này sẽ phát triển một cách tích cực và dẫn tới việc giảm thiểu các trường hợp tham nhũng hành chính quy mô nhỏ cũng như những bê bối lớn liên quan tới các doanh nghiệp khu vực tư nhân.

+ Ông có lời khuyên gì đối với các công ty đa quốc gia trong việc áp dụng và triển khai các quy tắc và giao thức tuân thủ cụ thể của Việt Nam?

- VBF và các thành viên luôn ủng hộ công cuộc chống tham nhũng và luôn là đơn vị tiên phong trong phong trào vận động này. Doanh nghiệp trong và ngoài nước đều hiểu rằng các doanh nghiệp được quản trị đúng đắn, áp dụng văn hóa liêm chính sẽ có lợi nhuận cao hơn và thành công lâu dài. Điều này tất nhiên mang lại lợi ích tương ứng cho toàn xã hội. Sự giao thoa lợi ích này có giá trị và ích lợi mà VBF đã hướng tới và hỗ trợ từ lâu.

Thách thức vẫn còn đó. Các công ty đa quốc gia có thể gặp khó khăn và thấy phức tạp trong việc áp dụng và triển khai các quy tắc và giao thức tuân thủ cụ thể của Việt Nam. Cần phải có sự trao đổi liên tục giữa các khu vực tư nhân và Nhà nước về kỳ vọng và khả năng thực hiện. Các công ty vừa và nhỏ có thể không có nguồn lực để thực hiện các thay đổi đáng kể trong thời gian ngắn.

+ Xin trân trọng cảm ơn ông! (Thanh Tra 2/9, Ban Mai - Ngọc Anh)  Về đầu trang./.

 

     Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.036.517 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này