Bản tin cải cách hành chính ngày 11/8/2022

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Từ 1/12, Hà Nội số hóa và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ thủ tục hành chính tại cấp huyện

2.        Hà Nam: Kịp thời cập nhật, sửa đổi, bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp

3.        Sóc Trăng: Điểm sáng trong cải cách hành chính ở ĐBSCL

4.        Hải Phòng: Ứng dụng công nghệ thông tin trong báo cáo án giai đoạn truy tố

5.        Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa triển khai bệnh án điện tử thay thế bệnh án giấy

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6.        Hiệu quả từ nền tảng đăng ký dự thi, đăng ký xét tuyển trực tuyến

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7.        Tin giản biên chế: Cắt giảm phải từ gốc

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

8.        Doanh nghiệp tư nhân đóng góp lớn nhưng vẫn bị “trói” bằng cả “rừng” thông tư

9.        Cần gói trợ lực phi tài chính giải vây vướng mắc “rừng thủ tục”

THẾ GIỚI

10.     Canada nỗ lực cải thiện thủ tục tiếp nhận người nhập cư

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Từ 1/12, Hà Nội số hóa và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ thủ tục hành chính tại cấp huyện

UBND TP Hà Nội yêu cầu thực hiện số hoá và tái sử dụng kết quả số hoá hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin, giấy tờ cá nhân trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận một cửa cấp huyện từ ngày 1/12/2022.

UBND TP Hà Nội vừa ban hành chỉ thị về việc tăng cường thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm triển khai Quyết định 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án "Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ việc chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030" (Đề án 06) trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Theo UBND TP Hà Nội, cần xác định việc triển khai Đề án 06 là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai trong năm 2022 và các năm tiếp theo.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội yêu cầu Giám đốc, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã tập trung quán triệt nghiêm túc tinh thần Đề án 06; phát huy cao nhất vai trò, trách nhiệm của cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, cán bộ công chức, người lao động và nhân dân Thủ đô trong việc thực hiện Đề án 06, góp phần xây dựng chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2022-2030.

Các cơ quan, đơn vị cần xác định rõ ý nghĩa, mục tiêu, tầm quan trọng của việc thực hiện Đề án 06 trong giai đoạn hiện nay; trọng tâm là việc thực hiện giải quyết thủ tục hành chính và các dịch vụ công trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia/Cổng Dịch vụ công thành phố gắn với việc thực hiện tích hợp, chia sử dữ liệu dân cư với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Đặc biệt, đối với việc thực hiện các dịch vụ thiết yếu, xác định mục tiêu "lấy sự hài lòng của người dân là thức đo" đánh giá việc giải quyết thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố...

Đề tăng cường thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm triển khai Quyết định 06/QĐ-TTg, Chủ tịch UBND TP Hà Nội giao Chủ tịch UBND các quận, huyện, thị xã triển khai các dịch vụ công thiết yếu thuộc phạm vi quản lý theo Đề án 06.

Thực hiện số hoá và tái sử dụng kết quả số hoá hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính có liên quan đến thông tin, giấy tờ cá nhân trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận một cửa cấp huyện từ ngày 1/12/2022.

Đối với dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06 phải thực hiện số hoá trong việc giải quyết thủ tục hành chính tại Bộ phận một cửa từ ngày 1/7/2022.

Ngoài ra, cần tổ chức rà soát chuẩn hoá, cập nhật dữ liệu còn chưa khớp hoặc chữa chính xác giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch, thuế, bảo hiểm xã hội... nhằm làm sạch dữ liệu một cách hiệu quả. (Anninhthudo.vn 11/8, An Nhiên)Về đầu trang

Hà Nam: Kịp thời cập nhật, sửa đổi, bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp

Chiều 10/8, tỉnh Hà Nam tổ chức hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ các tháng cuối năm 2022.

Từ đầu năm đến nay, công tác cải cách hành chính dần đi vào nề nếp và ngày càng hiệu quả, thiết thực. Ban Chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh đã tham mưu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, chuẩn hóa bộ thủ tục, kịp thời cập nhật, sửa đổi, bãi bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp. Chất lượng ban hành văn bản quy phạm pháp luật được nâng lên, thủ tục hành chính được niêm yết công khai đầy đủ phục vụ người dân, doanh nghiệp. Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước được rà soát, sắp sếp theo hướng tinh gọn.

Bên cạnh đó, công tác tuyển dụng và giải quyết các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện đúng, kịp thời. Kỷ luật, kỷ cương hành chính được nâng cao. Đội ngũ cán bộ công chức, viên chức từng bước có số lượng, cơ cấu hợp lý, trình độ chuyên môn được nâng lên. Công nghệ thông tin được ứng dụng mạnh mẽ trong công tác quản lý nhà nước được thực hiện đồng bộ từ cấp tỉnh, cấp huyện đến cấp xã, phường. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm...

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được công tác cải cách hành chính của tỉnh Hà Nam vẫn còn những tồn tại hạn chế. Theo kết quả xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2021, tỉnh Hà Nam đạt 81,51 điểm (giảm 1,94 điểm so với năm 2020), xếp thứ 60/63 tỉnh, thành phố, giảm 17 bậc so với năm 2020. Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế là do trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Thủ trưởng một số sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã chưa quan tâm đúng mức đến công tác cải cách hành chính, chỉ đạo thiếu kiên quyết và chưa đồng bộ.

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Phó trưởng Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ Nguyễn Trọng Thừa trao đổi nội dung “Trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính". Theo Thứ trưởng Bộ Nội vụ, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần thường xuyên rà soát, kiểm tra các văn bản cũng như việc thực hiện các nội dung chương trình, kế hoạch đề ra; phân công, phân quyền cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức phải rõ ràng; chú trọng đến công tác tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức… (TTXVN 10/8, Thanh Tuấn)Về đầu trang

Sóc Trăng: Điểm sáng trong cải cách hành chính ở ĐBSCL

Trong bối cảnh chịu ảnh hưởng đại dịch Covid-19, nhưng tỉnh Sóc Trăng đã nỗ lực, triển khai nhiều giải pháp, cách làm hay trong công tác cải cách hành chính (CCHC). Từ đó, giúp chỉ số CCHC của tỉnh không ngừng tăng lên, đứng đầu khu vực ĐBSCL trong năm 2021.

Xác định công tác CCHC là một nhiệm vụ trọng tâm, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng khóa XIV nhiệm kỳ 2020-2025 đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU về việc đẩy mạnh CCHC đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, với những mục tiêu, lộ trình và giải pháp cụ thể. Kế đó, UBND tỉnh Sóc Trăng cũng ban hành, thực hiện nhiều kế hoạch nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 10.

Năm 2021, tỉnh Sóc Trăng có chỉ số CCHC (PAR Index) đứng vị trí 18/63 tỉnh, thành trong cả nước (tăng 31 bậc so với năm 2016) và là địa phương có chỉ số PAR Index cao nhất khu vực ĐBSCL. Bên cạnh đó, Sóc Trăng cũng là địa phương có chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) đạt 89,51% (xếp thứ 9/63 tỉnh, thành và đứng đầu ĐBSCL), tăng 5 bậc so với năm 2020. Để đạt được kết quả trên, Sóc Trăng đã quyết liệt triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, sáng kiến trong thực hiện nhiệm vụ CCHC.

Theo đó, hàng năm, tỉnh Sóc Trăng đều tổ chức Hội thi CCHC quy mô toàn tỉnh và nhận được sự tham gia, hưởng ứng của hàng chục ngàn cán bộ, công chức, viên chức. Thông qua hội thi đã tạo điều kiện và cơ hội cho cán bộ, công chức, viên chức tiếp cận, cập nhật thông tin, tìm hiểu kiến thức về CCHC, các quy định pháp luật có liên quan. Đồng thời tạo hiệu ứng và sức lan tỏa đáng kể công tác CCHC của tỉnh đến với người dân, doanh nghiệp (DN).

Nhằm nâng cao trình độ, năng lực và khả năng ứng dụng CNTT, Sở Nội vụ tỉnh Sóc Trăng thường xuyên tổ chức kiểm tra kỹ năng tin học đối với chức danh lãnh đạo UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh. Các nội dung kiểm tra được thực hiện sát với thực tế yêu cầu công tác như: ký số văn bản đúng quy định, xử lý văn bản trên phần mềm, công tác chuyển - trả văn thư… Qua đó, nâng cao trình độ, kỹ năng sử dụng CNTT trong quản lý, điều hành, giải quyết công việc của lãnh đạo UBND cấp xã, tiến tới xây dựng chính quyền điện tử.

Đáng chú ý, năm 2021, tỉnh Sóc Trăng đã triển khai và thực hiện có hiệu quả 7 sáng kiến trong hoạt động CCHC. Tiêu biểu như việc vận hành Trung tâm xử lý, điều hành thông tin tập trung, đa nhiệm phục vụ chính quyền điện tử và đô thị thông minh. Trung tâm này giúp lãnh đạo tỉnh, cơ quan chức năng thu thập, đánh giá và phân tích thông tin bằng công nghệ một cách chính xác, trực quan dựa trên dữ liệu số của hạ tầng kỹ thuật. Từ đó, lãnh đạo đưa ra quyết định kịp thời chính xác, đồng bộ, hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.

Ngoài ra, tỉnh Sóc Trăng cũng đã triển khai cung cấp dịch vụ công trên ứng dụng (app) “Công dân Sóc Trăng” trên phạm vi toàn quốc. Người dân, DN có thể sử dụng điện thoại thông minh qua app “Công dân Sóc Trăng” để thực hiện nộp hồ sơ, tra cứu hồ sơ và các thủ tục trực tuyến khác. Đồng thời có thể chuyển hướng đến ứng dụng VNPT Pay, Viettel Pay, Momo để thanh toán các dịch vụ.

Hiện nay, tỉnh đã xây dựng và triển khai Cổng thông tin doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng (https://doanhnghiep.soctrang.gov.vn/). Cổng thông tin là cơ sở dữ liệu DN và hệ thống thông tin hỗ trợ DN; số hóa công tác quản lý, phối hợp trong thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra DN, nhằm hạn chế tối đa việc kiểm tra, thanh tra DN không quá 1 lần/năm theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Cổng thông tin doanh nghiệp còn là nơi để DN kết nối, tương tác, phản ánh, kiến nghị đến chính quyền tỉnh Sóc Trăng một cách dễ dàng, thuận tiện.

Mã Quick Response (QR) đang được tỉnh Sóc Trăng ứng dụng rộng khắp trên nhiều lĩnh vực tại 100% sở, ban ngành và UBND cấp huyện. Theo đó, mã QR được niêm yết công khai tại Trung tâm phục vụ hành chính công và Trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị, địa phương. Mỗi thủ tục hành chính sẽ có 1 mã QR được thiết lập, người dân, DN có nhu cầu giải quyết thủ tục nào chỉ cần dùng điện thoại thông minh quét mã. Qua đó, giúp người dân, DN dễ tiếp cận với thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian và công sức. (Sggp.org.vn 11/8, Tuấn Quang)Về đầu trang

Hải Phòng: Ứng dụng công nghệ thông tin trong báo cáo án giai đoạn truy tố

VKSND huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng) vừa áp dụng báo cáo án bằng hình ảnh trong giai đoạn truy tố, đã giúp cho việc quyết định truy tố của Lãnh đạo đơn vị nhanh chóng, đầy đủ, chính xác.

Đa số các ý kiến nhận xét, VKSND huyện Vĩnh Bảo là đơn vị sớm thực hiện việc báo cáo án trong giai đoạn truy tố bằng hình ảnh. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong báo cáo án trong giai đoạn truy tố bằng hình ảnh đã đúng tiêu chí lựa chọn, cách thức tổ chức, thực hiện, giúp cho việc quyết định truy tố của Lãnh đạo đơn vị nhanh chóng, đầy đủ, chính xác.

Đồng chí Lưu Xuân Sang, Phó Viện trưởng VKSND TP Hải Phòng đề nghị đơn vị trong thời gian tới cần tiếp tục phát huy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ, đáp ứng tốt yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu của ngành Kiểm sát nhân dân.

Đồng chí Vũ Văn Tiến, Viện trưởng VKSND huyện Vĩnh Bảo tiếp thu ý kiến nhận xét, chỉ đạo của lãnh đạo VKSND TP Hải Phòng. Sắp tới, đơn vị tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình thức sớm lựa chọn, đăng ký tổ chức một số phiên tòa hình sự trực tuyến. (Baovephapluat.vn 11/8, Khánh An - Trúc Quyên)Về đầu trang

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa triển khai bệnh án điện tử thay thế bệnh án giấy

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa là cơ sở y tế thứ 34 và là bệnh viện thứ 25 trong cả nước công bố triển khai bệnh án điện tử (BAĐT).

Thời gian qua, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa đã triển khai mạnh mẽ hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong khám chữa bệnh và đã được Cục Công nghệ thông tin – Bộ Y tế công bố triển khai BAĐT thay thế bệnh án giấy vào ngày 25/7/2022, là một trong 34 cơ sở khám chữa bệnh trên toàn quốc công bố triển khai bệnh án điện tử.

Để phấn đấu đưa mức ứng dụng CNTT tại bệnh viện đạt mức 6, tiệm cận mức 7, hoàn thành BAĐT chậm nhất vào năm 2022 và đến năm 2025 đạt các tiêu chí bệnh viện thông minh, bệnh viện không giấy tờ, bệnh viện đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các khoa, phòng, trung tâm thực hiện nhiều giải pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng ứng dụng công nghệ thông tin trong khám bệnh, chữa bệnh, cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian chờ đợi của người bệnh.

Bệnh viện đã đầu tư mua sắm nâng cấp hạ tầng CNTT, lắp đặt thêm các máy tính trạm tại các Khoa, Phòng, Trung tâm, bổ sung các thiết bị lưu trữ đảm bảo thời gian lưu trữ theo quy định của Bộ Y tế; triển khai và nâng cấp Hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện HIS, đã cơ bản đáp ứng các yêu cầu về quản lý bệnh viện, chia sẻ dữ liệu và thanh quyết toán với cơ quan BHXH; hệ thống PACS đã được đưa vào sử dụng từ tháng 3/2020, đảm bảo việc lưu trữ hình ảnh y tế không in phim; hệ thống xét nghiệm kết nối hai chiều LIS-HIS tại khoa xét nghiệm bảo đảm việc liên thông dữ liệu cận lâm sàng.

Bệnh viện bắt đầu triển khai Hệ thống xét nghiệm thông minh từ tháng 4/2022 nhằm tiết kiệm thời gian vận chuyển mẫu, quản lý mẫu bằng barcode; giảm các thao tác thủ công, đồng bộ hóa với phần mềm HIS, đảm bảo chất lượng mẫu đầu vào, kết quả xét nghiệm chính xác, 90% kết quả xét nghiệm được trả dưới 60 phút.

Bên cạnh đó, Bệnh viện đã phối hợp với đơn vị cung cấp phần mềm, hoàn thiện các tính năng BAĐT, sử dụng đồng bộ chữ ký số, chữ ký điện tử cho toàn bộ nhân viên y tế trong bệnh viện, các Bác sĩ, điều dưỡng có thể thao tác ra y lệnh trên máy tính bảng hoặc điện thoại smartphone có kết nối phần mềm. Bệnh viện đã ban hành các quy định, quy chế nội bộ về sử dụng, khai thác hồ sơ BAĐT, quy chế sử dụng chữ ký số, chữ ký điện tử, quy định về bảo mật thông tin và an toàn anh ninh mạng....đảm bảo an toàn dữ liệu trên hồ sơ BAĐT. Đến tháng 6/2022, mức ứng dụng CNTT chung của Bệnh viện đạt mức 6 tiệm cận mức 7, đủ các điều kiện triển khai BAĐT.

Thầy thuốc Nhân dân, BSCKII Lê Văn Sỹ, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa cho biết: "Việc triển khai BAĐT là bước chuyển đổi số hóa của ngành y tế, có ý nghĩa không chỉ cho bệnh viện trong quản lý, điều hành, cải cách quy trình KCB công khai, minh bạch thông tin, giảm phiền hà cho người bệnh, theo dõi thông tin bệnh nhân chính xác hơn và phục vụ hiệu quả cho cơ quan quản lý trong việc xây dựng chính sách, kế hoạch, mà còn mang lại lợi ích thiết thực, giúp người dân tiếp cận các dịch vụ y tế nhanh hơn, theo dõi quy trình KCB thuận tiện, chính xác... (Suckhoedoisong.vn 10/8, Ngọc Hưng)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Hiệu quả từ nền tảng đăng ký dự thi, đăng ký xét tuyển trực tuyến

Việc nâng cấp, mở rộng nền tảng đăng ký dự thi, đăng ký xét tuyển trực tuyến theo hướng ngày càng thuận lợi, chính xác, tin cậy hơn đã nhận được sự ủng hộ của người dân, góp phần không nhỏ vào thành công của kỳ thi tốt nghiệp và đợt tuyển sinh có quy mô triệu thí sinh tham gia.

Phát triển nền tảng đăng ký dự thi, đăng ký xét tuyển trực tuyến là một trong số nhiệm vụ trọng tâm của ngành giáo dục khi tham gia vào Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Đề án 06).

Năm 2022, hệ thống đăng ký dự thi, đăng ký xét tuyển trực tuyến hướng tới việc toàn bộ khai báo thông tin của thí sinh lớp 12 và thí sinh tự do đăng ký dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông và xét tuyển đại học được thực hiện bằng hình thức trực tuyến. Thông tin của hơn 1 triệu thí sinh phải kết nối với cơ sở dữ liệu ngành để thí sinh không phải khai lại thông tin cá nhân đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu ngành và chỉ bổ sung thông tin cần thiết.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, cho đến nay, toàn bộ hệ thống phần mềm đã hoàn thành. Hạ tầng công nghệ, đường truyền đã được nâng cấp, chức năng an toàn bảo mật bảo đảm kết nối và thực hiện. Tại Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông vừa qua, trên 93% thí sinh đã đăng ký theo hình thức trực tuyến.

Hiện trong đợt tuyển sinh năm 2022 có hơn 900.000 thí sinh tương tác, hơn 300 trường đại học, cao đẳng tham gia với 20 phương thức xét tuyển với hơn 400.000 lượt mã ngành.

Bên cạnh các yêu cầu về bảo đảm xử lý số lượng nguyện vọng rất lớn, hệ thống đăng ký xét tuyển còn đảm nhận việc loại bỏ được lượng thí sinh ảo, kết nối dữ liệu học tập của học sinh ở phổ thông, kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông, quản lý thanh toán lệ phí trực tuyến…

Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn, quá trình xây dựng hệ thống đã phải giải quyết những bài toán như làm thế nào để khi hàng triệu thí sinh truy cập cùng một lúc trong thời gian ngắn vẫn bảo đảm sự thuận tiện, độ chính xác. Những khó khăn khác là thời gian để triển khai thực hiện nhiệm vụ rất ngắn, trong khi nguồn lực hạn hẹp, hạ tầng công nghệ của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn yếu, khả năng tiếp cận internet không đồng đều giữa các địa phương,..

Đến thời điểm này, đã có hơn 50% thí sinh cùng 2 triệu nguyện vọng đã đăng ký với tất cả các phương thức xét tuyển khác nhau. Cơ sở dữ liệu về điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, học bạ và các dữ liệu khác đã đã được kết nối liên thông, nhất quán theo mã định danh điện tử ở tất cả các cấp học sẵn sàng cho các trường xét tuyển.

Phần mềm cũng đã chuẩn bị sẵn sàng nền tảng thanh toán lệ phí sơ tuyển qua 15 kênh khác nhau bằng các phương thức khác nhau ở các vùng, tạo điều kiện thuận lợi cho các thí sinh.

Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn cho biết, công tác triển khai nói trên được các địa phương đánh giá cao. “Bên cạnh thuận tiện, giảm công sức và chi phí, giảm sai sót trong quá trình đăng ký dự thi, đăng ký xét tuyển, còn là sự thay đổi nhận thức và tạo ra niềm tin, từng bước nâng cao năng lực số cho học sinh, giáo viên”. (Nhandan.vn 11/8, Thanh Hà)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Tin giản biên chế: Cắt giảm phải từ gốc

Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 40-KL/TW về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022 - 2026 yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Mục tiêu đặt ra là từ nay đến năm 2026, toàn hệ thống chính trị tinh giản ít nhất 5% biên chế cán bộ, công chức và ít nhất 10% biên chế viên chức hưởng lương ngân sách.

Những cơ quan, tổ chức, địa phương, đơn vị chưa giảm đủ 10% biên chế giai đoạn 2016 – 2021 sẽ vừa phải thực hiện mục tiêu tinh giản giai đoạn 2022 - 2026, vừa phải thực hiện chỉ tiêu giai đoạn 2016 - 2021. Nơi nào thực hiện vượt chỉ tiêu giai đoạn 2016 - 2021 thì phần vượt được tính vào kết quả thực hiện giai đoạn 2022 - 2026.

Tiếp tục tinh giản biên chế là chủ trương rất đáng hoan nghênh bởi việc này không chỉ giảm bớt gánh nặng chi tiêu cho ngân sách mà còn ý nghĩa lớn hơn ở chỗ giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị quốc gia. Tuy nhiên, để đến được đích đó, công cuộc cắt giảm biên chế buộc phải đi đúng đường.

Tính đến cuối tháng 6/2021, tổng biên chế toàn hệ thống giảm 20% so với biên chế được giao năm 2015, vượt mục tiêu đề ra. Bên cạnh thành tích đó, tiến trình cắt giảm biên chế đặt ra nhiều vấn đề về khía cạnh chất lượng.

Chẳng hạn, một số nơi dù đã tinh giản đủ 10% nhưng xuất hiện tình trạng cào bằng giữa các đơn vị. Điều này dẫn đến một số đơn vị khối lượng công việc lớn cần ít nhất là giữ nguyên chỉ tiêu biên chế hiện có, chưa nói đến cần tăng chỉ tiêu biên chế để đáp ứng yêu cầu công tác, thì lại vẫn phải cắt giảm biên chế theo tỷ lệ chung.

Nơi khác - như TP Hồ Chí Minh - dù dôi dư hàng nghìn công chức, viên chức do với số lượng biên chế Trung ương giao nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phục vụ người dân.

Cán bộ của thành phố luôn trong tình trạng quá tải do dân số quá đông. Nếu tính luôn cả số biên chế phường, xã, thị trấn thì trung bình, một công chức của thành phố phải phục vụ 346 người, hơn gấp 2 lần so với cả nước (152 người).

Hoặc ngay trong ngành Giáo dục, nhiều địa phương loay hoay với bài toán thiếu giáo viên nhưng vẫn phải lo cắt giảm 10% theo lộ trình.

Thực chất, biên chế chỉ là hệ quả của bộ máy. Do đó, chỉ khi xác định đúng chức năng của từng khu vực (hành chính, sự nghiệp công, đoàn thể) và tổ chức bộ máy hợp lý chúng ta mới có được vị trí con người - tức là có số lượng biên chế hợp lý. Điều này có nghĩa là giải pháp từ gốc cho vấn đề tinh giản biên chế chính là cải cách bộ máy.

Như vậy, muốn đạt được kết quả thực chất hơn, tinh giản biên chế trong trong giai đoạn tới phải gắn chặt hơn nữa với việc ẩy mạnh cải cách bộ máy theo hướng: Việc gì thị trường, khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội làm được thì giao cho các nhóm này, còn Nhà nước chỉ tập trung vào những chức năng cốt lõi của mình và chỉ làm những gì các nhóm trên không làm được. Nếu việc gì Nhà nước cũng “ôm” thì rất khó giảm biên chế, hoặc giảm được về số lượng cũng chưa chắc đã chất lượng tốt.

Quá trình tinh giản cũng cần lưu ý rằng, có những chỗ cần tăng biên chế chứ không phải là cắt giảm và có chỗ đã giảm rồi vẫn có thể giảm thêm – tùy theo yêu cầu của chức năng, nhiệm vụ và các điều kiện khác - miễn là tổng thể biên chế bộ máy sẽ giảm xuống.

Cùng với đó, phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo trong từng khâu, từng việc để giảm bớt nhu cầu nhân sự, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước và phục vụ nhân dân. (Giaoducthoidai.vn 10/8, Tuệ Lâm)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

Doanh nghiệp tư nhân đóng góp lớn nhưng vẫn bị “trói” bằng cả “rừng” thông tư

10/8 Bình quân trong giai đoạn 2016 - 2019, top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam chỉ chiếm 0,089% tổng số doanh nghiệp cả nước nhưng chiếm tới 13% tổng tài sản và tạo ra 15,8% doanh thu thuần.

Thông tin trên được đưa ra trong báo cáo “Đánh giá 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam - VPE500” do Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội quốc gia (NCIF, Bộ KH-ĐT) phối hợp với Viện Konrad Adenauer-Stiftung (KAS, CHLB Đức) phối hợp nghiên cứu và công bố.

Theo báo cáo, năm 2019 Việt Nam có 668.500 doanh nghiệp. Trong đó doanh nghiệp tư nhân trong nước là 647.600 doanh nghiệp, chiếm 96,88% tổng số.

Khối doanh nghiệp tư nhân đóng góp 15,12 triệu tỷ đồng, tương đương 57% tổng doanh thu thuần, thu hút 9.075.000 lao động, chiếm 59,9% tổng lao động trong khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam.

Nhờ quy mô và kết quả hoạt động vượt trội nên VPE500 chiếm tỷ lệ nhỏ về số lượng nhưng đóng góp lớn vào hoạt động của doanh nghiệp tư nhân trong nước. Bình quân giai đoạn 2016 - 2019, VPE500 chỉ chiếm 0,089% tổng số doanh nghiệp nhưng tạo việc làm cho 10,4% lao động, chiếm 13% tổng tài sản và tạo ra 15,8% doanh thu thuần.

Đặc biệt, doanh thu thuần của top 500 doanh nghiệp này cũng cao gấp khoảng 123 lần với 58% doanh nghiệp có xuất khẩu, trong khi đó, các doanh nghiệp tư nhân còn lại chỉ chiếm 7,73%.

TS Lương Văn Khôi, Phó Giám đốc NCIF cho rằng, VPE500 được coi như lực lượng dẫn dắt và tạo ảnh hưởng trên thị trường. Khu vực kinh tế tư nhân nói chung đang ngày càng trở thành khu vực quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Năm 2018, khu vực này chiếm 97% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp hơn 40% GDP, 38% đóng góp ngân sách Nhà nước và tạo việc làm cho 80% lao động.

Đồng quan điểm, ông Florian Constantin Feyerabend, Trưởng đại diện Viện KAS Việt Nam cũng đánh giá vai trò của top 500 doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đối với nền kinh tế. Theo ông Florian Constantin Feyerabend, VPE500 đang đóng vai trò dẫn dắt thị trường, có ảnh hưởng đến nền kinh tế, giúp định hình kinh doanh và đóng góp quan trọng tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu. Do vậy, “sức khoẻ” của top 500 doanh nghiệp này đóng góp quan trọng vào khu vực kinh tế tư nhân, cũng như tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, sự lớn mạnh của doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam chính là nền tảng để Việt Nam có thể xây dựng một nền kinh tế hoàn toàn độc lập, tự chủ. “Một quốc gia không thể có nền kinh tế tự chủ nếu như không có lực lượng doanh nghiệp tư nhân đủ khỏe”, bà Lan nhấn mạnh.

Tuy nhiên, theo bà Phạm Chi Lan, những chính sách dành cho khối doanh nghiệp tư nhân trong nước hiện nay vẫn chưa phù hợp, chưa tạo được động lực để doanh nghiệp tư nhân phát triển. “Nếu so sánh các doanh nghiệp lớn với nhau, phải so sánh với cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Nhà nước để thấy sự vênh nhau. Trong cùng nền kinh tế mà 'không chơi' được với nhau, sẽ dẫn đến hậu quả xấu”, bà Lan nói.

Đánh giá về môi trường kinh doanh hiện nay, bà Phạm Chi Lan chỉ ra, nếu nhìn vào văn bản pháp lý thì không có sự phân biệt đối xử, nhưng thực tế sự phân biệt đối xử vẫn nặng nề, nhất là trong phân bổ nguồn lực. Nguồn lực lớn đang ở trong tay doanh nghiệp Nhà nước, do có yếu tố lịch sử. Ngoài ra, doanh nghiệp FDI dường như dễ tiếp cận nguồn lực đất đai hơn doanh nghiệp Việt Nam.

“Nếu chỉ nhìn trên văn bản pháp quy sẽ không thấy được thực tế này. Nhưng thực tế, văn bản, thông tư nhiều gấp 5 - 6 lần số nghị định, gấp hàng chục lần luật. Tuy luật là văn bản pháp quy cao nhất, nhưng nhiều quy định lại cài cắm ở thông tư. Do đó, về tố chất cần thiết phải công khai, minh bạch, công bằng, tính nhất quán, tính khả thi của chính sách… Nhiều khi những quyết sách hay, chính sách tốt đưa ra trên văn bản lại bị rơi rụng trong thực thi'”, bà Phạm Chi Lan nêu dẫn chứng.

Theo bà Lan, để giải quyết vấn đề này cần đẩy mạnh cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó tập trung vào giảm chi phí gia nhập, cải cách hành chính công, cắt bỏ các thủ tục không cần thiết. (Vov.vn 11/8, Lưu Thủy)Về đầu trang

Cần gói trợ lực phi tài chính giải vây vướng mắc “rừng thủ tục”

Tình trạng "rừng" quy định vẫn vây doanh nghiệp cho thấy mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách nhưng thực tế một số nhóm giải pháp chưa được quan tâm đúng mức; trong một số lĩnh vực, rào cản thủ tục hành chính còn nặng nề hơn.

Từ năm 2020, dịch COVID-19 đã tác động toàn diện đến nền kinh tế. Để góp phần đưa nền kinh tế sớm vượt qua khó khăn, không lỡ nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 11 và triển khai nghị quyết số 43/2022 của Quốc hội.

Một trong những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm là cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.

Sáu tháng đầu năm nay, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường lần đầu tiên đạt 116.900 doanh nghiệp, tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước, gấp 1,4 lần số doanh nghiệp rút khỏi thị trường.

Một số quy định cũng được cải thiện tích cực. Tuy vậy, niềm tin và sự kỳ vọng của doanh nghiệp còn mong manh bởi những thay đổi và tác động khó đoán định trên thế giới. Trong khi đó, các nhóm giải pháp hỗ trợ phục hồi doanh nghiệp dường như chưa tạo được sức bật, thậm chí nhiều nơi tin rằng đó chỉ là "hỗ trợ trên văn bản". 

Với bối cảnh đó, doanh nghiệp càng trông chờ hơn vào "gói trợ lực phi tài chính" mang tên cải cách môi trường kinh doanh.

Qua nghiên cứu thực tiễn và tham khảo các báo cáo của các bộ, ngành, địa phương về cải cách môi trường kinh doanh cho thấy mức độ quan tâm của lãnh đạo các địa phương đối với cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh rõ nét và quyết liệt hơn, nhưng vẫn chủ yếu thể hiện trong chỉ đạo và văn bản, chưa thực sự triển khai trên thực tế.

Một số rào cản kinh doanh đã bị bãi bỏ đang có xu hướng khôi phục, một số điều kiện kinh doanh mới được bổ sung.

Đáng lo ngại rằng nhiều văn bản pháp luật hiện hành chưa đảm bảo tính thống nhất, phù hợp và khả thi (nhất là trong lĩnh vực đầu tư, đất đai, môi trường, tài nguyên…).

Mặt khác, tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán thường xuyên, liên tục cũng dẫn tới tâm lý lo ngại làm sai ở các cấp thực thi. Nhiều nơi, cán bộ, công chức e ngại trách nhiệm cá nhân nên giải quyết thủ tục quá chặt chẽ, mất thời gian hoặc thậm chí cố tình gây khó.

Doanh nghiệp đang chịu rất nhiều gánh nặng chi phí, trong đó có cả… chi phí tuân thủ. Các địa phương đều định kỳ tổ chức các hoạt động đối thoại với doanh nghiệp, nhưng theo phản ảnh của doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ), đó chỉ là sự kiện để lãnh đạo địa phương tiếp nhận vấn đề, chứ chưa phải là giải quyết vấn đề.

Về cơ bản, ít vấn đề được giải quyết đến tận cùng. Vì vậy không ít doanh nghiệp ngày càng mất niềm tin vào sự đồng hành của chính quyền.

Để đạt mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế sau dịch, Chính phủ cần yêu cầu các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nhiệm vụ được giao trong các nghị quyết có liên quan của Chính phủ về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính phủ cần chỉ đạo sát sao, liên tục để tạo áp lực và động lực cải cách.

Chính phủ cũng cần tạo lập ngay cơ chế để đảm bảo an toàn cho cán bộ thực thi khi giải quyết thủ tục hành chính liên quan nhiều lĩnh vực mà văn bản có sự mâu thuẫn, chồng chéo, khác biệt.

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm toán cần dựa trên nguyên tắc quản lý rủi ro, hướng tới giúp cho việc thực thi và tuân thủ pháp luật tốt hơn chứ không phải dưới hình thức "bới lông tìm vết". Đồng thời, cần khẩn trương triển khai thực chất các thủ tục hành chính điện tử, thuận lợi cho doanh nghiệp.

Cải cách môi trường kinh doanh là không giới hạn. Nền kinh tế muốn phục hồi và phát triển đòi hỏi gia tăng tốc độ cải cách. Điều này cần sự chung tay, hiệp lực của tất cả các bên. (Tuoitre.vn 10/8)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Canada nỗ lực cải thiện thủ tục tiếp nhận người nhập cư

Theo phóng viên TTXVN tại Ottawa, trong bối cảnh thiếu hụt lao động, Canada đã bắt đầu các quy trình để chào đón một số lượng kỷ lục người nhập cư nộp đơn xin thường trú nhân.

Tuy nhiên, một số công ty và tổ chức giáo dục phàn nàn rằng sự chậm trễ trong thời gian xử lý thị thực của Bộ Nhập cư, Tị nạn và Quốc tịch Canada (IRCC) đang ảnh hưởng tiêu cực đến họ.

Một cuộc khảo sát gần đây của Hội đồng tái bố trí lao động Canada (CERC) đã lưu ý rằng từ tháng 6 đến tháng 7/2022, tổng số lượng đơn tồn đọng tại IRCC đã tăng từ 2,4 triệu lên 2,7 triệu, tăng 12%.

Trong số các nhà tuyển dụng, 97% thuê lao động quốc tế thông qua các chương trình cấp giấy phép lao động và 53% tiếp cận thông qua nhập cư kinh tế.

Cuộc khảo sát của CERC cho biết nhu cầu tiếp cận nhân tài quốc tế một cách nhanh chóng của các nhà tuyển dụng Canada sẽ đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc xây dựng lại nền kinh tế Canada sau đại dịch COVID-19. Các chuyên gia cũng đồng ý rằng nhập cư sẽ là một chiến lược quan trọng để tồn tại trong bối cảnh một cuộc suy thoái có thể xảy ra.

Bộ trưởng IRCC, Sean Fraser cho biết thời gian xử lý dự kiến sẽ trở lại bình thường vào cuối năm nay. IRCC đã nỗ lực cải thiện thời gian chờ đợi của người nộp đơn bằng cách bổ sung thêm khoảng 500 nhân viên vào đội ngũ nhân lực 11.000 người, cũng như hiện đại hóa hệ thống nhập cư.

Ngoài ra, bộ này cũng dành ngân sách 827 triệu CAD để số hóa hệ thống nhập cư hiện tại và thêm 85 triệu CAD để tăng tốc độ xử lý một số mảng như giấy phép học tập, giấy phép lao động và gia hạn thẻ thường trú nhân (PR). (TTXVN/VietnamPlus.vn 10/8, Viết Tuân) Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 11.998.846 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này