Bản tin cải cách hành chính ngày 21/11/2022

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Hà Nội: Phê duyệt Đề án Mô hình Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính hiện đại

2.        Quảng Nam đặt mục tiêu 90% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện vào năm 2025

3.        Tập trung xây dựng Cần Thơ thành đô thị thông minh

4.        Bắc Giang: Không còn giao dịch bằng tiền mặt tại kho bạc

5.        Đồng Nai: Bổ sung 513 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6.        Hải quan đổi mới phương thức quản lý sau mỗi kỳ đối thoại với doanh nghiệp

7.        BHXH nhận và giải quyết gần 100 triệu hồ sơ điện tử mỗi năm

8.        Quét vân tay khám bệnh Bảo hiểm y tế mang lợi ích lớn

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9.        Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm phải đi kèm cơ chế bảo vệ

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

10.     Hiếm thấy “đầy tớ của dân” nở nụ cười khi giải quyết công vụ

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Phê duyệt Đề án Mô hình Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính hiện đại

Mới đây, Chủ tịch UBND TP Hà Nội Trần Sỹ Thanh đã ký quyết định phê duyệt Đề án Mô hình Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính hiện đại các cấp trên địa bàn TP Hà Nội. 

Theo đó, thời gian qua, TP Hà Nội đã triển khai tích cực và có nhiều kết quả đáng ghi nhận trong công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính. Năm 2021, điểm Chỉ số cải cách hành chính của TP đạt 88,54 điểm, mặc dù bị giảm 2 bậc nhưng điểm tổng thể tăng 2,47 điểm so với năm 2020. 

TP Hà Nội nằm trong tốp 10 tỉnh, thành phố có điểm chỉ số cao và cao hơn so với giá trị trung bình của cả nước là 2,17%. Chỉ số SIPAS năm 2021 của TP Hà Nội đạt 87,111%, tăng 1,96% tỷ lệ hài lòng chung và tăng 3 bậc so với năm 2020, xếp thứ 30/63 tỉnh, thành phố. 

Tuy nhiên, thủ tục hành chính trên nhiều lĩnh vực như đất đai, quản lý tài chính, đầu tư công, nội vụ, lao động, việc làm, y tế, giáo dục, hộ tịch, hộ khẩu, kiểm tra chuyên ngành, xuất nhập khẩu… còn nhiều rào cản. 

Cơ sở vật chất, trang thiết bị, hạ tầng bộ phận "Một cửa" các cấp trên địa bàn TP cơ bản dừng ở mức đáp ứng yêu cầu tối thiểu, chưa đạt đến mức độ tiêu chuẩn hiện đại như diện tích và không gian giao tiếp một số nơi hạn chế; trang thiết bị nhiều nơi thiếu, hỏng. 

Vì vậy, để khắc phục và xây dựng một quy chuẩn chung, đồng bộ cho Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính các cấp trên địa bàn TP hiện đại với bản sắc, thương hiệu, các yêu cầu thiết kế nội, ngoại thất, biển hiệu, trang phục, biển tên, tài liệt truyền thông, giao diện… gắn với ứng dụng công nghệ thông tin là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, được TP xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về chuyển đổi số, cải cách hành chính, đổi mới việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong các năm tiếp theo. 

Đề án triển khai sẽ góp phần tạo lập thương hiệu Bộ phận một cửa hiện đại đồng bộ trên toàn TP, hình thành một môi trường làm việc thống nhất, thuận lợi, văn minh, hiện đại. 

Bên cạnh đó, làm thay đổi thái độ, trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong thực thi công vụ, nhiệm vụ hướng tới nền hành chính phục vụ; việc giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cho công dân, tổ chức được thực hiện theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa và hướng tới mục tiêu hài lòng ở chất lượng phục vụ dịch vụ cho người dân, doanh nghiệp. 

Đề án giúp các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn TP xác định yêu cầu, từ đó có sự quan tâm, đầu tư đồng bộ, nâng cao chất lượng tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính tại đơn vị. Thay đổi về thói quen, cách nhìn của cá nhân, tổ chức trong mối liên hệ với cơ quan hành chính nhà nước khi có nhu cầu giải quyết các thủ tục hành chính. (Toquoc.vn 20/11)Về đầu trang

Quảng Nam đặt mục tiêu 90% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện vào năm 2025

Từ kết quả chuyển đổi số ở Quảng Nam mang lại sẽ tạo tiền đề cho việc xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, hiệu quả quản lý Nhà nước và cải cách hành chính, làm cho hoạt động của cơ quan Nhà nước được công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho tổ chức và công dân. 

Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 12/4/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Nam về “Chuyển đổi số của tỉnh đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định mục tiêu cơ bản đến năm 2025, phát triển chính quyền số, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động. 90% dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 được cung cấp trên nhiều phương tiện truy cập khác nhau, bao gồm cả thiết bị di động; 90% hồ sơ công việc tại cấp tỉnh, 70% hồ sơ công việc tại cấp huyện và 50% hồ sơ công việc tại cấp xã được xử lý trên môi trường mạng. 

Ông Hồ Quang Bửu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, cho biết để triển khai Nghị quyết 04-NQ/TU của Tỉnh ủy, các sở, ban ngành của tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp để tập trung nguồn lực đầu tư, xây dựng sớm đưa vào vận hành các ứng dụng dùng chung tạo nền tảng để hình thành Chính quyền điện tử trên địa bàn của tỉnh. Qua đó góp phần phục vụ đắc lực cho công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo, nâng cao hiệu quả quản lý của các cơ quan nhà nước, chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. 

Cùng với đó, Quảng Nam đã triển khai thống nhất, đồng bộ các ứng dụng dùng chung cơ bản của Chính quyền điện tử như: Hệ thống quản lý văn bản và điều hành tác nghiệp Qoffice, hệ thống một cửa điện tử, dịch vụ công trực tuyến, chữ ký số… kết nối liên thông dữ liệu giữa các cấp, thúc đẩy trao đổi, sử dụng văn bản điện tử và hình thành môi trường làm việc qua mạng, góp phần nâng cao hiệu quả công việc và cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh.  

Theo ông Bửu, đến nay, toàn tỉnh Quảng Nam đã cung cấp được gần 1.300 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 chiếm tỷ lệ 80% bộ thủ tục hành chính; tỷ lệ hồ sơ trực tuyến cấp tỉnh đạt 47,75%; các dịch vụ công trực tuyến ngày càng được cải tiến và thuận tiện giúp giảm thời gian, chi phí giải quyết thủ tục hành chính, đem lại sự hài lòng cho người dân, doanh nghiệp. 

“Quảng Nam tập trung xây dựng và phát triển nền tảng Chính quyền điện tử hướng tới chính quyền số; phát triển thương mại điện tử tạo tiền đề cho hình thành kinh tế số trong tương lai. Cơ sở hạ tầng viễn thông được xây dựng và phát triển hiện đại, an toàn, dung lượng lớn, tốc độ cao, vùng phủ dịch vụ rộng trên phạm vi toàn tỉnh, trong đó tập trung đẩy mạnh phát triển mạng thông tin di động thế hệ thứ 4 (4G), thứ 5 (5G)”, ông Hồ Quảng Bửu thông tin thêm. 

Trước đó, từ năm 2020, Quảng Nam đã triển khai thực hiện hệ thống trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (IOC), nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu cấp tỉnh (LGSP), hệ thống thông tin báo cáo cấp tỉnh, góp phần hoàn thiện nền tảng Chính quyền điện tử. Trong năm 2021, tỉnh triển khai ứng dụng Smart Quang Nam kết nối người dân với chính quyền, đưa vào sử dụng tổng đài Thông tin dịch vụ công (1022) tiếp nhận, xử lý và trả lời thông tin của người dân, doanh nghiệp. Đối với lĩnh vực giáo dục, hầu hết các trường phổ thông đã sử dụng hệ thống thông tin quản lý trường học. Ngành du lịch đã triển khai thí điểm hệ thống du lịch thông minh gồm các phân hệ: Cổng thông tin du lịch; Bản đồ số du lịch; Ứng dụng du lịch thông minh trên thiết bị di động. 

Tỉnh Quảng Nam cũng đã đặt ra mục tiêu từ nay đến năm 2025, có tối thiểu 1.000 lượt doanh nghiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh được tham gia các hội thảo, khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao nhận thức về chuyển đổi số; phấn đấu 40% doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh ứng dụng các hình thức thương mại điện tử; 50% doanh nghiệp có website riêng để quảng bá thương hiệu, sản phẩm; hỗ trợ tối thiểu 100 doanh nghiệp thử nghiệm các nền tảng số để chuyển đổi số.  

Ông Mai Văn Mười, Giám đốc Sở Y tế tỉnh Quảng Nam, cho biết hiện nay, ngành Y tế đang đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số. Đến nay tất cả các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa, trung tâm y tế đã sử dụng phần mềm quản lý bệnh viện HIS trong việc quản lý, điều hành và ứng dụng trong công tác khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế; 100% các cơ sở khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế (BHYT) trên địa bàn thực hiện kết nối liên thông dữ liệu khám chữa bệnh và thanh toán BHYT với cơ quan Bảo hiểm xã hội qua hệ thống giám định điện tử. 

Để tạo môi trường khởi nghiệp sáng tạo, chủ động tiếp cận và tận dụng các cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), phát triển kinh tế số, ông Hồ Quảng Bửu cho biết, hiện nay tỉnh Quảng Nam đang xây dựng Đề án triển khai bản đồ GIS phục vụ xúc tiến đầu tư, phục vụ cơ quan nhà nước và người dân tiếp cận cơ sở dữ liệu GIS các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế và các dự án đầu tư ngoài ngân sách. 

Theo kết quả đánh giá chỉ số chuyển đổi số (DTI) do Bộ Thông tin và Truyền thông mới công bố, tỉnh Quảng Nam đứng thứ thứ 24/63 tỉnh, thành phố và nằm trong nhóm 2, tương đương mức khá, với chỉ số DTI là 0,3264, so với trung bình cả nước là 0,3026. 

Với những kết quả đạt được nhờ chuyển đổi số mang lại sẽ tạo tiền đề cho việc xây dựng chính quyền điện tử, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, hiệu quả quản lý Nhà nước và cải cách hành chính, làm cho hoạt động của cơ quan Nhà nước được công khai, minh bạch, tiết kiệm thời gian, chi phí cho công dân và tổ chức trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. (Vneconomy.vn 21/11, Ngô Anh Văn)Về đầu trang

Tập trung xây dựng Cần Thơ thành đô thị thông minh

Triển khai xây dựng TP Cần Thơ trở thành đô thị thông minh, trong giai đoạn 2021-2022, thành phố đạt được kết quả nhất định trên nhiều lĩnh vực. Các cấp, các ngành đang tập trung triển khai thực hiện giai đoạn tiếp theo, phấn đấu đến năm 2030 đưa Cần Thơ trở thành thành phố thông minh trên các lĩnh vực ưu tiên, tham gia vào chuỗi liên kết thành phố thông minh, là hạt nhân đầu tàu của vùng ÐBSCL trong chuỗi liên kết đô thị thông minh cấp quốc gia, khu vực và quốc tế. 

Ông Dương Tấn Hiển, Phó Chủ tịch Thường trực UBND TP Cần Thơ, cho rằng: TP Cần Thơ với vị thế là trung tâm vùng ÐBSCL, phải đi nhanh, đi trước trong khai thác tiềm năng thế mạnh để tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chuyển đổi số của vùng. Ðến nay, TP Cần Thơ đã cơ bản xây dựng đầy đủ khung pháp lý về chuyển đổi số, đảm bảo trên 3 trụ cột: chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Thành phố đang hoàn thiện khung pháp lý về phát triển đô thị thông minh, phê duyệt Ðề án xây dựng TP Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh giai đoạn 2021-2025, tầm nhìn đến năm 2030. Trên cơ sở Ðề án, các ngành, các cấp xác định nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý để triển khai thực hiện theo lộ trình đề ra. 

Lộ trình thực hiện Ðề án Xây dựng TP Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh chia thành 3 giai đoạn chính. Giai đoạn 1 (2021-2022) xây dựng Trung tâm Ðiều hành đô thị thông minh (IOC) và triển khai một số lĩnh vực ưu tiên như giao thông thông minh, giám sát môi trường, an ninh trật tự, du lịch thông minh, y tế thông minh, giáo dục thông minh, nông nghiệp thông minh... Giai đoạn 2 (2023-2025) mở rộng triển khai đô thị thông minh trên các lĩnh vực ưu tiên, thu hút xã hội hóa đầu tư phát triển đô thị thông minh. Giai đoạn 3 với tầm nhìn đến năm 2030, TP Cần Thơ trở thành thành phố thông minh trên các lĩnh vực ưu tiên, tham gia vào chuỗi liên kết thành phố thông minh, là hạt nhân đầu tàu của vùng ÐBSCL trong chuỗi liên kết đô thị thông minh cấp quốc gia, khu vực và quốc tế. 

Trung tâm IOC đã vận hành từ năm 2021, với chức năng tổng hợp các nguồn thông tin, dữ liệu thành phố trên các lĩnh vực, cung cấp cái nhìn tổng thể theo thời gian thực đối với các dịch vụ thông minh, giúp lãnh đạo thành phố giám sát, điều hành; mang đến cơ hội phát triển các ngành, lĩnh vực và kinh tế - xã hội. IOC còn tạo phương tiện để người dân được cung cấp và phục vụ các dịch vụ đô thị thông minh tiện ích nhất… 

Ðề án xây dựng TP Cần Thơ phát triển thành đô thị thông minh đã đạt được một số kết quả nổi bật ở các lĩnh vực trọng tâm. Ðó là TP Cần Thơ đã xây dựng hạ tầng ICT - nền tảng dữ liệu cho đô thị thông minh; ICT dùng chung cơ bản được hoàn thiện, các nền tảng phát triển chính quyền số đã được triển khai, trong đó trọng tâm là xây dựng nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu dùng chung. Về chính quyền số trong đô thị thông minh, cơ bản hoàn thiện các hệ thống dùng chung như hệ thống quản lý văn bản, điều hành được triển khai đến 100% các cơ quan, đơn vị kể cả phiên bản di động tích hợp ký số; hệ thống phần mềm quản lý cán bộ, công chức, viên chức đến tất cả các cơ quan, đơn vị thuộc UBND thành phố. Ngoài ra, triển khai cổng dịch vụ công trực tuyến TP Cần Thơ và nâng cấp đồng bộ cho tất cả các cơ quan hành chính nhà nước từ thành phố đến cấp huyện, xã; hệ thống hội nghị truyền hình được triển khai cho 100% quận, huyện, xã, phường, thị trấn phục vụ nhanh chóng, kịp thời cho công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo thành phố, lãnh đạo quận, huyện đến chính quyền cấp cơ sở. 

Về quy hoạch đô thị thông minh, xây dựng hệ thống thông tin quản lý rủi ro ngập cho TP Cần Thơ, nền tảng quy hoạch không gian. Lĩnh vực giao thông thông minh, ngành giao thông vận tải đang lập dự án đầu tư xây dựng Trung tâm điều hành giao thông thông minh tại TP Cần Thơ đảm bảo khả năng thu thập, xử lý và chia sẻ dữ liệu về tình trạng hoạt động giao thông theo thời gian thực, cung cấp thông tin về tình trạng giao thông trên địa bàn thành phố và hướng dẫn người dân đi lại thông qua cổng thông tin trực tuyến. Ngành Tài nguyên và Môi trường thành phố cũng đã thực hiện xây dựng các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lớn như cơ sở dữ liệu đất đai tại các quận, huyện; cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường, chất thải rắn hiện ngành đang triển khai xây dựng. Về an ninh an toàn trong đô thị thông minh, triển khai các hệ thống camera giám sát an ninh trật tự trên địa bàn; có 4/9 quận, huyện với tổng số 552 đầu camera; 80/83 xã, phường, thị trấn triển khai mô hình “camera phòng chống tội phạm”, với trên 3.500 đầu camera… 

Lĩnh vực nông nghiệp thông minh thực hiện các mô hình hỗ trợ đưa hộ sản xuất nông nghiệp tham gia sàn thương mại điện tử, thúc đẩy phát triển kinh tế số nông nghiệp TP Cần Thơ; đẩy mạnh mô hình ứng dụng IoT, truy xuất nguồn gốc nông sản, nông nghiệp; ứng dụng IoT trong phòng, chống thiên tai… Lĩnh vực du lịch thông minh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố đã xây dựng cổng du lịch thông minh; đang xúc tiến xây dựng Trung tâm Phát triển du lịch TP Cần Thơ, trang bị hệ thống phần mềm ứng dụng du lịch thông minh. Lĩnh vực y tế thông minh, ngành Y tế đã triển khai thực hiện Ðề án y tế thông minh, trọng tâm là y tế cộng đồng giai đoạn 2021-2030 trên địa bàn thành phố; hệ thống phần mềm hồ sơ sức khỏe cá nhân, quản lý tiêm chủng, xét nghiệm, quản lý trạm y tế xã; 100% các cơ sở khám chữa bệnh triển khai sử dụng phần mềm khám, chữa bệnh, đảm bảo kết nối liên thông; triển khai phương án thanh toán không dùng tiền mặt; thực hiện đặt lịch hẹn khám, chữa bệnh qua điện thoại, website, mạng xã hội. (Baocantho.com.vn 20/11, Anh Khoa)Về đầu trang

Bắc Giang: Không còn giao dịch bằng tiền mặt tại kho bạc

Kho bạc Nhà nước Bắc Giang đã tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện hiệu quả Đề án thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống Kho bạc Nhà nước. Việc làm này vừa giúp đẩy nhanh quá trình xây dựng kho bạc số nói riêng và chuyển đổi số, phát triển nền kinh tế số trên địa bàn tỉnh nói chung vừa góp phần cùng cả nước xây dựng chính phủ điện tử. 

Ông Nguyễn Quang Tuấn - Giám đốc Kho bạc Nhà nước (KBNN) Bắc Giang cho biết, bám sát chủ trương về chuyển đổi số, tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và Đề án của KBNN về phát triển TTKDTM trong hệ thống KBNN đến năm 2025, KBNN Bắc Giang đã tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện Đề án TTKDTM tại đơn vị. 

Theo đó, KBNN Bắc Giang đã chủ động phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn để thiết lập, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân, doanh nghiệp, đối tượng thụ hưởng ngân sách nhà nước (NSNN) trong TTKDTM, cũng như giao dịch bằng tiền mặt tại các NHTM đối với thu chi NSNN và các giao dịch thanh toán khác… 

Nhờ quyết liệt chỉ đạo và làm tốt công tác tuyên truyền, khối lượng tiền mặt tại trụ sở KBNN Bắc Giang đã giảm nhiều so với năm 2021 (hơn 10 tháng năm 2022 giảm được 82% lượng tiền mặt, tương đương giảm 681 tỷ đồng). Số thu NSNN bằng tiền mặt tại các đơn vị KBNN trực thuộc KBNN Bắc Giang là 28 tỷ đồng, giảm 103 tỷ đồng so với năm 2021. Đáng chú ý, cho đến thời điểm này, tại KBNN Bắc Giang và một số KBNN huyện trực thuộc đã không còn giao dịch tiền mặt. 

Ông Nguyễn Quang Tuấn cho biết, bằng việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong toàn hệ thống KBNN nói chung và KBNN Bắc Giang nói riêng đã giúp cho đơn vị sử dụng ngân sách, chủ đầu tư, ban quản lý dự án, người dân, doanh nghiệp giảm bớt thời gian đến giao dịch tại KBNN. 

Đồng thời, việc thực hiện TTKDTM đã giúp giảm các chi phí lao động liên quan đến quy trình quản lý, xử lý tiền mặt; tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển đổi, phân công lại lao động và tăng cường hơn nữa công tác cải cách hành chính. 

Đây chính là bước khởi đầu để KBNN Bắc Giang sớm hoàn thành kho bạc số với mục tiêu “3 không” theo đúng nội dung Chiến lược phát triển hệ thống KBNN đến 2030 đặt ra là: Không tiền mặt, không khách hàng giao dịch trực tiếp, không chứng từ giấy. Đồng thời, TTKDTM cũng giúp cho doanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó tạo điều kiện để thúc đẩy các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 20/11, An Nhi)Về đầu trang

Đồng Nai: Bổ sung 513 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4

UBND tỉnh Đồng Nai vừa có văn bản chấp thuận bổ sung tích hợp 513 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện, xã trong tỉnh. 

UBND tỉnh giao Sở TT-TT chủ trì, phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh và các đơn vị liên quan triển khai cấu hình các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 nói trên lên Cổng dịch vụ công quốc gia nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình tra cứu, thực hiện hồ sơ, thủ tục hành chính dịch vụ công trực tuyến.  

Đồng thời, yêu cầu, các sở, ban, ngành của tỉnh, UBND các huyện, TP.Biên Hòa và TP.Long Khánh và UBND cấp xã tổ chức, triển khai các hình thức thông tin, tuyên truyền đến người dân và doanh nghiệp biết, thực hiện các dịch vụ công trực tuyến đạt hiệu quả. (Baodongnai.com.vn 20/11, Thảo Lâm)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Hải quan đổi mới phương thức quản lý sau mỗi kỳ đối thoại với doanh nghiệp

Theo Vụ Pháp chế (Tổng cục Hải quan), sau mỗi kỳ hội nghị đối thoại với doanh nghiệp hàng năm, Tổng cục Hải quan tiếp tục đổi mới toàn diện về phương thức quản lý và chính sách thuế xuất nhập khẩu (XNK) phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế theo hướng ổn định, công khai, minh bạch; phù hợp với các Điều ước quốc tế và Hiệp định thương mại tự do, Luật Hải quan, Luật Thuế XK, thuế NK và các Luật khác có liên quan. 

Thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ và kế hoạch hành động của Bộ Tài chính, thời gian qua, ngành Hải quan đã thực hiện đồng bộ các giải pháp về cải cách thủ tục hành chính (TTHC); công khai TTHC thường xuyên, kịp thời để bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin về TTHC của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp; tăng cường công tác kiểm soát TTHC trong toàn Ngành. 

Song song đó, cơ quan Hải quan đã xây dựng và vận hành hiệu quả một số hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) quan trọng để phục vụ thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan tự động. 

Đặc biệt, trong thời điểm COVID-19 bùng phát ảnh hưởng trên diện rộng, ngành Hải quan đã linh hoạt triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp. Với những giải pháp tích cực mang lại hiệu quả đã được cộng đồng doanh nghiệp ghi nhận, đánh giá cao tầm nhìn và mục tiêu hướng tới mô hình Hải quan số, Hải quan thông minh của ngành Hải quan. 

Bên cạnh việc hoàn thiện hành lang pháp lý về pháp luật hải quan, ngành Hải quan đã tăng cường ứng dụng CNTT trong hoạt động nghiệp vụ hải quan. Đây chính là “đòn bẩy” góp phần tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh, đạt sự tăng trưởng, lấy lại đà phục hồi trong hoạt động sản xuất kinh doanh sau ảnh hưởng của COVID-19. 

Để nắm bắt và xử lý nhanh các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghệp, Tổng cục Hải quan và các cục hải quan tỉnh, thành phố thường xuyên tổ chức các hội nghị đối thoại để doanh nghiệp có điều kiện phản ánh những vướng mắc về cơ chế, chính sách quản lý XNK, thủ tục hải quan, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ công chức Hải quan khi thi hành công vụ. 

Bằng biện pháp này, Tổng cục Hải quan và các cục hải quan tỉnh, thành phố đã kịp thời tháo gỡ nhiều vướng mắc của các doanh nghiệp và nắm thêm được những thông tin bổ ích phục vụ công tác CCHC về hải quan, đồng thời kịp thời chấn chỉnh, xử lý những biểu hiện tiêu cực của CBCC các cấp. 

Kết quả được thể hiện bằng việc Tổng cục Hải quan đã tích cực đẩy mạnh công tác hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật hải quan. Theo đó, trong 2 năm 2020 và 2021, Tổng cục Hải quan đã nghiên cứu, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 5% số quy định và 5% chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ; đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 19/29 điều kiện kinh doanh, cắt giảm 22/52 thành phần hồ sơ của các thủ tục công nhận kho, bãi, cảng, cửa hàng miễn thuế. 

Đến nay, các thủ tục hải quan cốt lõi được thực hiện hoàn toàn bằng phương thức tự động thông qua Hệ thống thông quan hàng hóa tự động của Việt Nam (VNACCS/VCIS) với 100% đơn vị Hải quan trên toàn quốc thực hiện, hơn 99% doanh nghiệp tham gia, xử lý hơn 99,8% tờ khai hải quan và thời gian thông quan đối với hàng luồng xanh chỉ từ 1 đến 3 giây. (TTXVN/Baotintuc.vn 20/11, Huy Cường)Về đầu trang

BHXH nhận và giải quyết gần 100 triệu hồ sơ điện tử mỗi năm

BHXH Việt Nam cho hay, từ khi áp dụng hệ thống dịch vụ công điện tử, tới nay toàn ngành đã tiếp nhận và xử lý gần 100 triệu lượt hồ sơ điện tử/năm (không bao gồm 170 triệu hồ sơ giám định BHYT hàng năm). 

Trong năm nay, tính tới ngày 17/10, ngành BHXH đã tiếp nhận và xử lý trên 74,7 triệu hồ sơ giao dịch điện tử (chiếm khoảng 85% tổng số hồ sơ). Hiện, BHXH Việt Nam đã hoàn thành việc cung cấp tất cả dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cho tất cả thủ tục hành chính của ngành; tích hợp, cung cấp 20 dịch vụ công thuộc 14 thủ tục hành chính của BHXH Việt Nam trên Cổng dịch vụ công quốc gia; cung cấp 7 dịch vụ công trên ứng dụng “VssID - BHXH số”. 

Việc giải quyết thủ tục hành chính qua hình thức điện tử của BHXH Việt Nam giúp giảm tải tối đa thời gian đi lại, chi phí cho người dân, doanh nghiệp khi giao dịch với cơ quan BHXH. (Tienphong.vn 20/11, Khánh Chi)Về đầu trang

Quét vân tay khám bệnh Bảo hiểm y tế mang lợi ích lớn

Ứng dụng công nghệ sinh trắc xác thực vân tay trên thẻ căn cước công dân (CCCD) gắn chip trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế (BHYT) đã giúp đơn giản, tiết kiệm thời gian cho người bệnh 3-4 lần so với trước. 

Chị Đỗ Thị Mai (trú tại quận Đống Đa, Hà Nội chia sẻ, từ tháng 3/2022, chị đã dùng CCCD để khám bệnh BHYT. Trước đây, khi đi khám bệnh chị luôn phải mang theo thẻ BHYT, sổ khám bệnh và xuất trình CMND để bệnh viện kiểm tra lại thông tin và nhận diện ảnh. Tuy nhiên đến nay, việc khám, chữa bệnh BHYT của chị đều sử dụng CCCD. Điều này đã đã giúp giảm thời gian và đỡ mang theo nhiều giấy tờ. 

Đi khám bệnh, người dân chỉ việc "ấn ngón tay" là có thể được nhận diện  Bác Nguyễn Thị Thanh nhà ở huyện Hoài Đức, Hà Nội tới khám bệnh tại Bệnh viện Xanh Pôn. Sau khi được thực hiện một số y lệnh của bác sĩ về việc kiểm tra các chỉ số máu, chụp XQ…, bác Nguyễn Thị Thanh theo hướng dẫn đến bộ phận làm hồ sơ, thủ tục nhập viện. Chỉ sau vài phút, bộ phận đón tiếp của bệnh viện đã hoàn tất thủ tục nhập viện cho bác Thanh. Cả một quá trình từ khi vào thăm khám cho đến lúc nhận hồ sơ nhập viện, bác Thanh không phải xuất trình bất cứ giấy tờ gì ngoài việc sử dụng CCCD. 

Ngoài việc triển khai khám chữa bệnh BHYT bằng CCCD, nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, minh bạch thông tin, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân hơn nữa, mới đây, BHXH Việt Nam tiếp tục thêm bước tiến mới đó là ứng dụng công nghệ sinh trắc xác thực vân tay trên thẻ CCCD gắn chip trong khám chữa bệnh BHYT. 

Hiện công tác thí điểm cho người tham gia BHYT làm thủ tục khám chữa bệnh BHYT bằng công nghệ quét dấu vân tay, xác thực sinh trắc trên CCCD gắn chíp đang được triển khai tại 5 cơ sở khám chữa bệnh BHYT của TP Hà Nội và tỉnh Quảng Bình. 

Là một trong những đơn vị được triển khai thí điểm, Bệnh viện Đa khoa An Việt (Hà Nội) hiện đang tích cực thực hiện tiếp đón, quản lý người bệnh BHYT đến khám chữa bệnh với thủ tục đăng ký theo công nghệ sinh trắc xác thực vân tay trên thẻ gắn chíp. 

Đánh giá cao các ưu điểm của ứng dụng này đem lại khi mà hầu hết người dân đều đã sử dụng thẻ CCCD gắn chíp, PGS.TS Nguyễn Thị Hoài An, Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Đa khoa An Việt, cho biết việc triển khai ứng dụng công nghệ sinh trắc xác thực vân tay trên thẻ CCCD gắn chíp trong khám chữa bệnh BHYT đem đến nhiều thuận lợi cho người bệnh, nhân viên y tế và cán bộ giám định BHYT tại Bệnh viện. 

“Trước đây, khi người dân chỉ sử dụng thẻ BHYT giấy trong khám chữa bệnh, nhân viên y tế gặp nhiều khó khăn nhất là đối với các trường hợp thẻ bị cũ, mờ thông tin nên mất rất nhiều thời gian cho việc so sánh, đối chiếu với thông tin, hình ảnh trong chứng minh thư nhân dân của người bệnh. Thủ tục khám chữa bệnh trước gồm nhiều bước, nay nhờ có việc ứng dụng công nghệ này vào khám chữa bệnh BHYT đã giúp đơn giản, tiết kiệm thời gian 3-4 lần so với trước”, PGS.TS Nguyễn Thị Hoài An chia sẻ. 

Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ trên còn giúp nhân viên y tế xác thực chính xác bệnh nhân thông qua nhận diện vân tay của người bệnh; người bệnh không thể mượn thẻ của người khác để đi khám chữa bệnh, nhờ đó quỹ BHYT được quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn. 

Với việc tích hợp xác thực sinh trắc vân tay vào khâu tiếp nhận hồ sơ sẽ giúp viên chức phụ trách khâu tiếp nhận hồ sơ có thể xác định chính xác thông tin người nộp hồ sơ một cách nhanh chóng, đảm bảo khâu giải quyết các quyền lợi liên quan đúng - đủ theo quy định, không làm ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng và hợp pháp của người tham gia BHXH, BHYT, hạn chế tình trạng lạm dụng, trục lợi quỹ BHXH, quỹ BHYT. 

Đặc biệt, trong thời gian qua, đã có trường hợp làm giả giấy tờ tùy thân một cách tinh vi để lạm dụng, trục lợi các chế độ BHXH, BHYT. Viên chức cơ quan BHXH gặp nhiều khó khăn trong việc kiểm tra, đối chiếu thông tin người nộp hồ sơ hưởng các chế độ BHXH, BHYT và giải quyết chính sách cho người tham gia. 

Theo Bộ Công an, tính đến ngày 20/10/2022, cả nước đã phê duyệt cấp gần 11,3 triệu tài khoản định danh điện tử (VNeID), duyệt tích hợp thông tin BHYT hơn 1 triệu tài khoản. Việc ứng dụng thẻ CCCD gắn chip điện tử được đẩy mạnh. 11.667 trong số 13.063 cơ sở y tế khám, chữa bệnh BHYT đã sử dụng thẻ CCCD trong khám, chữa bệnh, đạt tỷ lệ gần 90%. Cùng với đó, gần 4 triệu công dân sử dụng CCCD đi khám, chữa bệnh trên toàn quốc. 

BHXH Việt Nam cho biết, sau thời gian triển khai thí điểm ứng dụng công nghệ xác thực sinh trắc trong khám chữa bệnh BHYT, ngành BHXH Việt Nam sẽ tổng hợp các ý kiến đánh giá, góp ý để hoàn thiện bổ sung các tính năng liên quan để hoàn thiện nhằm đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho người tham gia BHXH, BHYT. (Kinhtedothi.vn 20/11, Trần Nguyễn)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm phải đi kèm cơ chế bảo vệ

Theo các chuyên gia, bên cạnh việc khuyến khích cần có cơ chế, chính sách để cán bộ, công chức, viên chức, người lao động năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. 

ối thoại trong chương trình trên VOV1 với nội dung tìm ra nguyên nhân để có giải pháp hạn chế tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, có cơ chế hiệu quả và thực chất bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, ông Lưu Bình Nhưỡng - Phó trưởng Ban Dân nguyện, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đánh giá cao sự đi đầu trong việc chấp hành và triển khai Kết luận 14 của Bộ Chính trị về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Cấp ủy TP.HCM đã ban hành Kế hoạch 124 nhằm hiện thực hóa chủ trương trên. 

Tại hội nghị quán triệt triển khai Kế hoạch 124 của Ban Thường vụ Thành uỷ về triển khai thực hiện Kết luận 14 của Bộ Chính trị được tổ chức ngày 4/6, Bí thư Thành uỷ TP.HCM Nguyễn Văn Nên nhấn mạnh: “Khuyến khích và bảo vệ, đây là muốn nói nhóm mà luôn luôn trăn trở với cuộc đời này, tìm cách để đóng góp công sức của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển nhưng gặp khó khăn. Nếu chỉ có khuyến khích không mà không bảo vệ sẽ khó khăn. Và có một bộ phận cũng bắt đầu lo lắng không biết phải làm gì, nóng lòng với công việc, tập trung dồn sức để làm nhưng không khéo rơi vào tình huống là làm không đúng quy định, làm trái”. 

Bình luận về phát biểu của Bí thư Thành ủy TP.HCM, ông Nhưỡng cho rằng, ông Nguyễn Văn Nên đã nói lên được hồn cốt của việc triển khai Kết luận 14 ngày 22/9/2021 của Bộ Chính trị, đồng thời cũng thể hiện rõ sự quan tâm của một cá nhân, người lãnh đạo đối với công tác bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo. 

“Đồng chí Nguyễn Văn Nên cũng nói rất rõ đúng theo tinh thần là có khuyến khích mà không bảo vệ thì vẫn chỉ là nửa vời, cho nên phải làm đúng cái quy định của Kết luận 14 là chúng ta phải khuyến khích và bảo vệ”, ông Nhưỡng nói. 

Phó trưởng Ban Dân nguyện nêu rõ, trong nội hàm của Kết luận 14 chỉ rõ phải khuyến khích những người thực sự năng động, sáng tạo và dám nghĩ, dám làm, dám xả thân nhưng không được trái hiến pháp. Ông hoàn toàn nhất trí với quan điểm này, tuy nhiên cần phải tạo ra cơ chế và có sự hướng dẫn, ủng hộ, động viên, ở bên cạnh. 

“Đồng thời phải kiểm soát được sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của cán bộ. Nếu bung ra mà không kiểm soát được thì có nghĩa là tập thể cũng sai”, ông Nhưỡng nhận định. 

Cùng quan điểm với ông Lưu Bình Nhưỡng, ông Đinh Duy Hòa - nguyên Vụ trưởng Vụ Cải cách Hành chính (Bộ Nội vụ), cũng rất hoan nghênh và đánh giá cao tinh thần của TP.HCM đã xây dựng, ban hành kế hoạch triển khai kết luận của Bộ Chính trị. 

Tuy nhiên, ông Hoà cho rằng, địa phương ra kế hoạch triển khai vẫn chỉ là những bước đi cụ thể, còn dưới góc độ pháp lý thì chưa có. 

“Khi cán bộ ở một tổ chức nào đó, họ vì lợi ích chung, dám nghĩ, dám làm, sáng tạo nhưng vượt làn danh vi phạm pháp luật, thế thì bằng kế hoạch này có bảo vệ được người ta hay không? Tôi nghĩ là chưa đủ”, ông Hoà đặt vấn đề. 

Nguyên Vụ trưởng Vụ Cải cách hành chính (Bộ Nội vụ) cho hay, Kết luận 14 của Bộ Chính trị là văn bản quan trọng nhưng là văn bản của Đảng, muốn đưa vào cuộc sống phải được thể chế hóa, truyền tải thành văn bản pháp luật của Nhà nước mới triển khai được. 

“Tôi nghĩ chưa phải ra một luật riêng của Quốc hội hay nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội mà đơn giản bây giờ là ra Nghị định của Chính phủ”, ông Hoà kiến nghị. 

Theo ông, việc ban hành nghị định của Chính phủ dựa trên Kết luận 14 Bộ Chính trị sẽ làm rõ trách nhiệm thực thi công vụ, bao gồm cả trách nhiệm khi gặp khó khăn, vướng mắc phải vươn lên đương đầu, giải quyết, phải dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung. 

Ông Hoà dẫn ví dụ, bệnh viện công lập nếu thiếu trang thiết bị y tế, thiếu thuốc, phải căn cứ quy định của pháp luật để tổ chức đấu thầu, tránh tình trạng khó khăn là đùn đẩy, trì trệ, tránh việc lấy lý do khó phải đợi nghiên cứu. Trách nhiệm của lãnh đạo quản lý cơ quan, đơn vị là phải để cơ quan, đơn vị hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao. 

“Nói như mấy đồng chí TP.HCM rằng anh có tâm trong sáng chính là cái khiên tốt nhất, không sợ câu chuyện dị nghị. Anh có tâm trong sáng, không lợi dụng, vụ lợi gì cả”, ông Hoà nói. 

Kết luận 14 của Bộ Chính trị nêu: “Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt được một phần mục tiêu đề ra hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại,cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan, đánh giá công tâm để xem xét, xử lý phù hợp, nếu thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm”. Theo ông Hoà, điều này phải đưa thành văn bản thì cán bộ mới được bảo vệ, không còn e ngại, sợ làm sẽ sai dù có tâm trong sáng. 

Đồng thời, những người làm tốt trong câu chuyện dám nghĩ, dám làm phải được khen thưởng xứng đáng. 

“Trước kia, chúng ta thường nói câu chuyện những vị lãnh đạo về hưu rồi không thể kỷ luật nhưng cuối cùng vẫn có văn bản đưa những cá nhân sai phạm ra truy tố. Ví dụ, nguyên bộ trưởng, nếu bị kỷ luật, thì xoá tư cách đó đi… Tôi nghĩ với cố gắng của các luật gia, nhà chính trị, hoạch định chính sách, có thể thể chế hóa được kết luận của Bộ Chính trị”, ông Hoà nói thêm. 

Ông Lưu Bình Nhưỡng cũng cho rằng, nước ta chưa có luật nào về khuyến khích và bảo vệ cán bộ, vậy nên trên cơ sở Kết luận 14 của Bộ Chính trị, phải có một luật riêng hoặc ít nhất là nghị định. 

“Rõ ràng là mới ban hành nghị quyết và hiện nay trong kết luận cũng không giao cho Đảng đoàn Quốc hội, cũng không giao cho Ban cán sự Đảng Chính phủ để xem xét, để chúng ta thiết kế một chính sách. Chính sách và luật hóa sẽ tốt hơn rất nhiều so với việc chúng ta chỉ áp dụng quy định riêng của Bộ Chính trị, mà đây mới là quy định của Bộ Chính trị chứ chưa phải quyết định của Trung ương”, ông Nhưỡng nói. 

Cũng theo ông Nhưỡng, kết luận trên của Bộ Chính trị có những điểm rất hay nhưng đáng tiếc lại không đề cập việc chính sách hóa, pháp luật hóa, cơ chế hóa những điều đó bằng cách nào. Nếu đưa kết luận của Bộ Chính trị vào nghị quyết của Quốc hội trong kỳ họp thứ tư vừa qua, hoặc lồng vào trong nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội, cách khác nữa là Bộ Chính trị giao cho Đảng đoàn Quốc hội để Ủy ban Thường vụ Quốc hội phối hợp Ban cán sự Đảng Chính phủ và các cơ quan có liên quan, ra một văn bản tổ chức thí điểm thực hiện. 

Sau đó tổng kết, xây dựng thành một chính sách là có thể là sửa vào trong luật cán bộ, công chức hoặc luật chung thì rất thuận lợi. (VTC.vn 21/11, Anh Văn)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

Hiếm thấy “đầy tớ của dân” nở nụ cười khi giải quyết công vụ

Từ khi thực hiện nền văn hóa công vụ thì thái độ tiếp dân của người thực thi nhiệm vụ đã cải thiện hơn rất nhiều. Tuy nhiên, ở các cơ quan công quyền, không hiếm gặp những “đầy tớ của dân” vẫn mang nặng tính cửa quyền, trịch thượng và hách dịch đối với người dân. 

Người nhà tôi bị ốm phải điều trị trong một bệnh viện tại Hà Nội. Đến chăm sóc bệnh nhân, tôi tuân thủ đúng giờ giấc quy định. Thế nhưng, được vào thăm, vừa ngồi xuống cái ghế dành cho người nhà cạnh giường bệnh nhân, cô hộ lý trạc tuổi con tôi nhìn tôi với ánh mắt khó chịu: “Vào chăm bệnh nhân mà ngồi thế à, không dọn bàn rửa cốc à?”. Tôi hơi giật mình nhưng cũng đành làm theo yêu cầu của cô hộ lý với mong muốn không tạo căng thẳng để khi không có tôi, người nhà không bị làm khó. 

Khi chuẩn bị mang cốc ra khỏi phòng, tôi lại thấy cô hộ lý mắng xa xả một chị khác, nhìn hơn tuổi tôi khá nhiều: “Không đọc quy chế à, đã mua đủ đồ chưa, bảo mua 2 cốc sao chỉ có 1?”. Đến lúc này, tôi cảm thấy không chịu được nữa bèn “cảnh cáo” nhẹ nhàng: “Cháu ơi, cháu xem lại cả cô và bác đây có lẽ đều hơn tuổi mẹ cháu. Cháu ăn nói thế có ổn không, nếu cháu tiếp tục cô sẽ phản ánh lên lãnh đạo bệnh viện đấy!”.  Cô hộ lý có vẻ bẽn lẽn, bèn thay đổi thái độ, giao tiếp với người bệnh và mọi người nhẹ nhàng hơn và có chủ ngữ khác hẳn lúc ban đầu. 

Thực ra, đây chỉ là một tình huống rất nhỏ mà bất cứ ai đều không khó bắt gặp ở đâu đó trong các cơ quan công sở, nhất là ở các cơ quan hành chính cấp phường/xã, ở các bệnh viện… nơi giải quyết thủ tục hành chính. Những gương mặt lạnh lùng, câu nói trống không, chỏng lỏn là chuyện thường gặp ở những nơi này. 

Mới hồi đầu năm năm nay, một phụ nữ có kết quả xét nghiệm dương tính với SARS-CoV-2 đến trạm y tế xã Gia Xuyên, Trung tâm y tế TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương vào buổi tối để xin giấy quyết định cách ly. Bệnh nhân này đã gặp ông Nguyễn Duy Hợp, Trạm trưởng Trạm y tế xã Gia Xuyên đang trực phòng, chống dịch Covid-19. Sau khi nghe bệnh nhân “xin xỏ”, ông Hợp mắng chửi bệnh nhân này thậm tệ, khiến người này bật khóc. Ông Hợp không cho F0 cơ hội được giải thích mà liên tục mắng nhiếc. 

Hay cũng trong năm nay, trên một số trang mạng xã hội lan truyền một đoạn video clip ngắn ghi cảnh một người được cho là Chủ tịch UBND xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có hành vi to tiếng với người quay clip mình. Bên cạnh đó, người được cho là Chủ tịch UBND xã Đông Á còn liên tục nói: “Quay này! Quay này, mày thích quay này. Muốn quay thì vào đây...”. Sau khi đoạn clip lan truyền gây bức xúc thì ông Phí Đức Vui, Chủ tịch UBND xã Đông Á, thừa nhận người trong clip chính là mình. 

Còn trong nhiều bệnh viện, nhất là ở những cửa khám bảo hiểm y tế, dễ dàng thấy cảnh nhân viên y tế không ngẩng mặt lên, giao tiếp chỏng lỏn với người bệnh, kể cả những người đáng tuổi cha mẹ mình. Khổ nhất là nhiều cụ già khi đi khám bệnh không hiểu thủ tục, nội quy, nếu hỏi thì bị “từ mẫu” bực dọc “xem lại nội quy”. 

Ở một số nơi làm thủ tục hành chính ở cấp phường xã, dù thái độ tiếp dân so với trước đây đã cải thiện hơn rất nhiều nhưng cũng không hiếm cảnh người dân vào làm thủ tục với thái độ ngại ngần, khúm núm vì chỉ sợ hỏi nhiều thì “đầy tớ của dân” lại khó chịu và gây khó dễ. 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nói về trách nhiệm và nghĩa vụ của người “đầy tớ” đối với dân. “Đảng ta là đảng lãnh đạo, nghĩa là tất cả các cán bộ, từ Trung ương đến khu, đến tỉnh, đến huyện, đến xã, bất kỳ ở cấp nào và ngành nào-đều phải là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân”. 

Trong rất nhiều văn bản luật cũng có những điều khoản dành riêng quy định về văn hóa công sở như Luật Cán bộ, công chức năm 2008 có quy định về Văn hóa giao tiếp nơi công sở và Văn hóa giao tiếp với nhân dân. Trong đề án Văn hóa công vụ cũng quy định rõ mục tiêu nâng cao văn hóa công vụ, góp phần hình thành phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đảm bảo tính chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ; đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, xã hội. Rồi trong Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ đạo rõ cần phải “xây dựng hình ảnh đội ngũ công chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương, thân thiện và tận tình phục vụ Nhân dân”… 

Phải khẳng định, trong nhiều năm qua, khi Chính phủ và các Bộ ngành ráo riết chỉ đạo xây dựng bộ máy hành chính hiện đại, công khai, minh bạch và thực hiện nền văn hóa công vụ thì chất lượng thực hiện thủ tục hành chính được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, việc thực hiện những chủ trương, chỉ đạo của Chính phủ vẫn chưa được như mong muốn, ở các cơ quan công quyền, những hình ảnh, thái độ phục vụ của “đầy tớ của dân” vẫn mang nặng tính cửa quyền, trịch thượng và hách dịch đối với người dân. 

Trong các cuộc họp về cải cách hành chính của Trung ương và các địa phương cũng nhiều lần chỉ ra rằng, vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập trong cải cách hành chính. Một bộ phận cán bộ thái độ phục vụ, nhất là cán bộ tiếp xúc với dân, còn bất cập, chưa tận tụy và thuyết phục. Tình trạng công dân, doanh nghiệp hỏi, cơ quan Nhà nước không trả lời, im lặng kéo dài vẫn còn không ít... 

Vì sao đã có nhiều quy định mang tính bắt buộc về văn hóa công sở nhưng nhiều “đầy tớ của dân” vẫn mang gương mặt lạnh lùng khi tiếp dân? Có lẽ trước hết do những “đầy tớ” chưa nhận thức được đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình trong thực thi nhiệm vụ. Nhiều người vẫn mang nặng tư tưởng bao cấp, chủ quan duy ý chí, cho mình quyền được “hạch sách” và “ban phát” đối với người dân. 

Một nguyên nhân nữa là do thiếu kiên quyết, nhất quán và đồng bộ trong khâu tổ chức thực hiện cải cách hành chính và thực thi pháp luật. Nhiều nơi về lý thuyết là thực hiện cơ chế một cửa nhưng thực tế vẫn theo kiểu “nhiều cửa”, vẫn còn tình trạng “xin xỏ”, chạy chọt trong giải quyết thủ tục hành chính dẫn đến việc những người “đầy tớ của dân” tự nhiên trở thành người có quyền hành trong tay, còn người dân trở nên yếu thế, khúm núm khi gặp “đầy tớ” để giải quyết vấn đề của mình. 

Đất nước ngày càng hội nhập và phát triển, nền hành chính công vụ cũng cần phải phát triển tương xứng như yêu cầu của Chính phủ và các cơ quan liên quan. Hạt nhân của sự phát triển nền văn hóa công vụ chính là con người. Vì thế, đã đến lúc phải hạn chế và dần xóa sổ những “bộ mặt lạnh lùng” và các hiện tượng “xin-cho”,  nhờ vả, lót tay… trong nền hành chính công vụ. 

Đây cũng là yêu cầu cấp thiết được Chính phủ và người đứng đầu Chính phủ đã chỉ đạo trong phiên họp của Ban Chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ hồi giữa tháng 10 vừa qua “Cải cách hành chính là công việc nặng nề, khó khăn, phức tạp, nhạy cảm vì tác động đến con người và tổ chức nhưng khó mấy cũng phải làm. Nếu không làm sẽ cản trở sự phát triển. Không để lãng phí thời gian, công sức vì thủ tục hành chính, tắc trách và quan liêu của người thi hành công vụ”. (VOV.vn 21/11, An An)Về đầu trang./.

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 11.995.944 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này