Chi tiết tin - Văn phòng UBND tỉnh
Bản tin cải cách hành chính ngày 01/8/2018
1. Việt Nam tăng hạng về Chỉ số phát triển chính phủ điện tử 2018
2. Cắt giảm điều kiện kinh doanh cần thực chất
3. Quảng Nam: Rút ngắn thời gian thực hiện 800 thủ tục hành chính
4. Đơn giản hóa điều kiện kinh doanh lĩnh vực hàng không
5. Kết quả tích cực trong đấu thầu qua mạng
6. Hơn 5.600 văn bản trái pháp luật được ban hành, để lại hậu quả nặng nề
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
7. Bà Phạm Chi Lan: “Vài năm đợi bỏ điều kiện kinh doanh đủ giết hàng vạn doanh nghiệp”
8. Chống “xin - cho” bằng công nghệ
9. Mừng hay lo?
10. Mỹ: Cảnh sát tuần tra bằng xe đạp điện
CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH
Việt Nam tăng hạng về Chỉ số phát triển chính phủ điện tử 2018
Từ vị trí 89 năm 2016, Việt Nam đã tăng 1 hạng trong báo cáo Chỉ số phát triển chính phủ điện tử 2018 của Liên Hợp Quốc.
Liên Hợp Quốc vừa phát hành báo cáo Chỉ số chính phủ điện tử hỗ trợ chuyển dịch hướng tới xã hội bền vững 2018. Báo cáo nhấn mạnh xu hướng toàn cầu về phát triển chính phủ điện tử mức độ cao hơn, nghiên cứu tác động của công nghệ và tiến bộ kỹ thuật số đến khu vực công, thay đổi cuộc sống của mọi người. Từ khảo sát, có thể thấy chính phủ điện tử không chỉ có thể cải thiện quy trình chính sách và công việc trong dịch vụ công mà còn bảo đảm không một ai bị bỏ lại phía sau.
Chỉ số phát triển chính phủ điện tử (EGDI) 2018 được chia thành các nhóm nhỏ (rất cao, cao, trung bình và thấp). Đây là lần thứ 10 Liên Hợp Quốc thực hiện báo cáo đánh giá, xếp hạng mức độ phát triển chính phủ điện tử của các quốc gia, vùng lãnh thổ thành viên kề từ năm 2001. Chỉ số được tính toán dựa trên 3 lĩnh vực quan trọng nhất của chính phủ điện tử, đó là quy mô và chất lượng của dịch vụ công trực tuyến (OSI), chỉ số hạ tầng viễn thông (TII) và nguồn nhân lực (HCI).
Theo báo cáo, có 40 quốc gia được chấm điểm “rất cao” với chỉ số EGDI từ 0,75 đến 1 so với chỉ 10 nước năm 2003 và 29 nước năm 2016. Việt Nam nằm trong số được đánh giá “cao” với chỉ số từ 0,5 đến 0,75. Điểm EGDI trung bình từ 0,25 đến 0,5, còn điểm thấp là dưới 0,25. Đan Mạch, Úc và Hàn Quốc là các nước đứng đầu về phát triển chính phủ điện tử.
Một điểm đáng chú ý là trong năm 2018, OSI đóng vai trò chính trong cải thiện chỉ số EGDI. Với các nước thu nhập trung bình và thấp, xu hướng tăng điểm TII và OSI rất đáng khuyến khích, cho thấy việc liên tục mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ công đã dẫn đến tiến bộ chung về phát triển chính phủ điện tử. Việt Nam cũng được Liên Hợp Quốc xếp vào nhóm có chỉ số OSI cao. Chỉ số tham gia điện tử (e-participation index) của của nước ta thuộc nhóm cao (từ 0,5 đến 0,75).
Như vậy, Việt Nam cải thiện ở cả 3 chỉ số thành phần, tăng 1 bậc về chính phủ điện tử. Trong nhóm nước ASEAN, Việt Nam xếp thứ 6 sau Singapore, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Brunei.
Theo dự thảo “Nghị quyết về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2018-2020, định hướng đến 2025” đặt mục tiêu hết năm 2020, Việt Nam nằm trong Nhóm 4 quốc gia đứng đầu ASEAN về Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc. (Infonet.vn 1/8, Du Lam)Về đầu trang
Cắt giảm điều kiện kinh doanh cần thực chất
Tại cuộc Hội thảo "Điểm lại pháp luật kinh doanh 6 tháng đầu năm" do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa tổ chức sáng 31/7, đề tài chính vẫn là "Cắt giảm điều kiện kinh doanh".
Chính phủ đã ra tối hậu thư về việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh nhằm gỡ khó cho doanh nghiệp. Việc cắt giảm phải được các Bộ, ngành, địa phương trình Thủ tướng trước ngày 15/8 tới. Tuy nhiên, tại cuộc Hội thảo hôm nay, nhiều ý kiến vẫn tỏ ra lo ngại về tính thực chất và tiến độ cắt giảm các điều kiện kinh doanh.
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, mỗi năm trung bình các cơ quan Nhà nước ban hành khoảng 1.000 văn bản quy phạm pháp luật và 500 trong số đó liên quan đến điều kiện kinh doanh. Mỗi văn bản đó lại kèm theo hàng chục thậm chí hàng trăm các quy định có tính bắt buộc thực thi.
Dù việc cắt giảm thủ tục kinh doanh đang được tiến hành nhưng nhiều chuyên gia lo ngại về thực chất của việc cắt giảm này. Thậm chí, nhiều điều kiện kinh doanh mới vẫn tiếp tục được chế ra, theo hướng tinh vi và bó buộc doanh nghiệp hơn trước.
Theo VCCI, đến tháng 6/2018, đã có khoảng 11 Bộ đưa ra với kết quả dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa đều trên 50% tổng số điều kiện kinh doanh. Nhưng doanh nghiệp và thị trường cần những cắt giảm thực chất để gia nhập thị trường tốt hơn và những rào cản thị trường không còn bó buộc doanh nghiệp. (VTV.vn 31/7)Về đầu trang
CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG
Quảng Nam: Rút ngắn thời gian thực hiện 800 thủ tục hành chính
Ngày 30/7, UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, đã ban hành Quyết định thông qua phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính phê duyệt anh mục cắt giảm thời gian đối với 801 thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ban, ngành.
Ông Trần Văn Tân – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết: Năm 2018, tỉnh tiếp tục tập trung tháo gỡ các cơ chế, chính sách, thủ tục liên quan đến các lĩnh vực đất đai, nông nghiệp, nông thôn, người có công, hộ tịch. Đồng thời, thực hiện việc đo lường sự hài lòng của người dân, các tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính Nhà nước.
Cụ thể, cắt giảm hơn 6.500 ngày trên tổng số gần 24.000 ngày theo quy định của Trung ương, đạt tỷ lệ 27,3%; Đồng thời, tiếp tục chỉ đạo các địa phương rà soát và phê duyệt Danh mục thủ tục hành chính cắt giảm 30% thời gian giải quyết thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện và UBND cấp xã. (Lao Động 31/7, tr2)Về đầu trang
LĨNH VỰC CẢI CÁCH
Đơn giản hóa điều kiện kinh doanh lĩnh vực hàng không
Bộ Giao thông vận tải đang lấy ý kiến rộng rãi để xây dựng và hoàn thiện Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 1/7/2016 quy định về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực hàng không dân dụng và Nghị định số 30/2013/NĐ-CP ngày 8/4/2013 về kinh doanh vận chuyển hàng không và hoạt động hàng không chung.
Bộ Giao thông vận tải cho biết, việc xây dựng và ban hành nghị định nói trên là nhằm cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh vận tải hàng không, cảng hàng không, sân bay cũng như cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh dịch vụ tại cảng hàng không, sân bay.
Sau khi được ban hành, Nghị định được kỳ vọng sẽ cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh dịch vụ thiết kế, sản xuất, bảo dưỡng hoặc thử nghiệm tàu bay, động cơ tàu bay, cánh quạt tàu bay và trang bị, thiết bị tàu bay tại Việt Nam; dịch vụ đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ nhân viên hàng không. (Baodauthau.vn 1/8, Khánh Ngọc)Về đầu trang
Kết quả tích cực trong đấu thầu qua mạng
Cục Quản lý đấu thầu thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa tổ chức Hội nghị Lấy ý kiến góp ý Dự thảo Thông tư quy định chi tiết lập báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu (HSDT) đối với gói thầu được tổ chức đấu thầu trên hệ thống mạng đấu thầu quốc gia (gọi tắt là E-HSDT).
Kết quả thống kê về đấu thầu điện tử được công bố tại Hội nghị cho thấy, sự chuyển biến tích cực trong triển khai thực hiện đấu thầu qua mạng (ĐTQM) trong năm 2018.
Tóm tắt tình hình triển khai ĐTQM trong 6 tháng đầu năm 2018, đại diện Cục Quản lý đấu thầu cho biết, tính đến tháng 6/2018, số lượng bên mời thầu đăng ký trên Hệ thống là 24.025, số lượng nhà thầu đăng ký là 72.843. Đặc biệt, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2018, số gói thầu điện tử thực hiện trên Hệ thống là 8.700 gói, nhiều hơn cả năm 2017 (8.200 gói).
Một điểm nhấn khác cho thấy sự chuyển biến tích cực trong triển khai thực hiện ĐTQM là tổng giá trị gói thầu áp dụng đấu thầu điện tử trong 6 tháng đầu năm 2018 là 18.000 tỷ đồng, cao gấp đôi cả năm 2017 (9.000 tỷ đồng). Gói thầu có giá trị lớn nhất thực hiện thành công trên hệ thống có giá trị 194 tỷ đồng. Tính đến tháng 7/2018, đã có hơn 22.000 gói thầu áp dụng đấu thầu điện tử trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia.
Với gần 80 đại diện các bộ, ngành, Sở Kế hoạch và Đầu tư, bên mời thầu và các nhà thầu tiêu biểu tham dự, Hội nghị đã trao đổi một cách hết sức cởi mở về thực tiễn những khó khăn gặp phải khi áp dụng ĐTQM và đề xuất các ý kiến xây dựng để cải tiến Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng. Nhiều đại biểu đánh giá cao những kết quả đạt được trong triển khai ĐTQM, đồng thời đóng góp ý kiến nhằm xây dựng Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dùng.
Tại Hội nghị, một số đại biểu nêu vấn đề, hiện nhà thầu còn gặp khó khăn trong quá trình tham dự các gói thầu xây lắp khi dung lượng file đang hạn chế ở mức 20 MB. Về vấn đề này, Bà Nguyễn Thị Thuý Hằng - Phó Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu cho biết, trong thời gian tới đây, Cục sẽ nâng cấp Hệ thống, tăng dung lượng file hồ sơ dự thầu có thể lên đến 300 MB.
Về lộ trình thực hiện ĐTQM giai đoạn tiếp theo (2019 - 2025), tại Hội nghị, nhiều đơn vị cho rằng, nên đưa ra hạn mức cụ thể của các gói thầu phải thực hiện ĐTQM và tăng cường giám sát việc thực hiện.
Cùng quan điểm này, đại diện Sở Tài chính Đà Nẵng cho biết, từ năm 2017, Đà Nẵng đã triển khai áp dụng ĐTQM rất mạnh mẽ, UBND TP. Đà Nẵng đã ban hành quyết định yêu cầu các chủ đầu tư, bên mời thầu thực hiện ĐTQM theo tỷ lệ chung trong giai đoạn 2016 - 2018 được quy định tại Thông tư liên tịch số 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC và có những quy định riêng như thực hiện mua sắm tập trung qua mạng và 100% các gói thầu mua sắm thiết bị vật tư y tế áp dụng ĐTQM. Qua thực tiễn triển khai, vị đại diện này đề xuất Bộ KH&ĐT sớm đưa ra tỷ lệ áp dụng ĐTQM cho giai đoạn 2019 - 2025 để các đơn vị chủ động triển khai thực hiện. (Baodauthau.vn 1/8, Thùy Dương)Về đầu trang
QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
Hơn 5.600 văn bản trái pháp luật được ban hành, để lại hậu quả nặng nề
Kết quả kiểm tra văn bản theo thẩm quyền của các bộ, cơ quan ngang bộ và địa phương năm 2017 cho thấy, có 5.639 văn bản trái pháp luật, gồm: 1.236 văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật về thẩm quyền ban hành và nội dung; 3.829 văn bản quy phạm pháp luật sai sót về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản; 574 văn bản không phải là văn bản quy phạm pháp luật nhưng có chứa quy phạm pháp luật.
Theo thống kê của Bộ Tư pháp, hơn 5.600 văn bản trái pháp luật, không chỉ tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế, an ninh xã hội, mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện quyền con người, quyền công dân vốn đã được Hiến định.
Trong khi đó, việc kiểm tra văn bản theo thẩm quyền của Bộ Tư pháp (do Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật thực hiện), đã phát hiện 157 văn bản trái pháp luật về nội dung, thẩm quyền, gồm: 26 văn bản của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và 131 văn bản của HĐND, UBND cấp tỉnh.
Chia theo lĩnh vực, có 85 văn bản trái pháp luật trong lĩnh vực kinh tế (10 văn bản của bộ, 75 văn bản của địa phương); có 29 văn bản trái pháp luật trong lĩnh vực khoa giáo – văn xã (10 văn bản của bộ, 19 văn bản của địa phương); 43 văn bản trái pháp luật trong lĩnh vực nội chính (6 văn bản của bộ, 37 văn bản của địa phương)
“Văn bản trái pháp luật được phát hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nội dung trái pháp luật đa dạng, ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với các mức độ khác nhau. Trong đó, chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các văn bản trái pháp luật là lĩnh vực kinh tế”, báo cáo của Bộ Tư pháp nhận xét.
Theo đánh giá của Bộ Tư pháp, việc ban hành văn bản trái pháp luật để lại rất nhiều hậu quả. Cụ thể, các văn bản trái pháp luật làm ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch; ảnh hưởng đến trật tự, kỷ cương trong ban hành, thi hành văn bản quy phạm pháp luật; làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn xã hội.
Các văn bản trái pháp luật cũng sẽ cản trở sự phát triển; ảnh hưởng xấu đến các chỉ số tăng trưởng của nền kinh tế.
“Nhìn chung, văn bản trái pháp luật thường có tác động tiêu cực đa chiều, vừa làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước vừa ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”, Bộ Tư pháp nhận định.
Bộ Tư pháp cho rằng, các tác động tiêu cực của các văn bản trái pháp luật sẽ còn nặng nề hơn trong bối cảnh pháp luật hiện nay chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong trường hợp văn bản trái pháp luật gây thiệt hại cho người dân và doanh nghiệp, từ đó làm gia tăng bức xúc trong dư luận.
Chẳng hạn, một số văn bản có nội dung hạn chế quyền tự do kinh doanh, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh trái thẩm quyền; quy định thêm cơ cấu tổ chức và cách thức hoạt động của doanh nghiệp…
Một số văn bản của địa phương có nội dung hạn chế quyền và cơ hội được làm việc của người lao động như: quy định điều kiện về hộ khẩu, phân biệt bằng cấp, giới hạn tuổi tác không đúng quy định…
Một số văn bản của địa phương thậm chí còn đặt thêm nghĩa vụ hoặc cấm đoán người dân thực hiện các hành vi, làm ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp bảo hộ như đặt thêm nghĩa vụ hoặc hạn chế quyền khi tổ chức việc cưới, việc tang; phát sinh nghĩa vụ nộp thuế…
Đi xa hơn, Bộ Tư pháp cũng cho rằng, các văn bản trái pháp luật có thể là nguồn cơn của những vụ kiện cơ quan nhà nước Việt Nam tại các thiết chế giải quyết trong nước và quốc tế, làm ảnh hưởng xấu đến hình ảnh và uy tín của Việt Nam.
Đó là chưa kể các văn bản trái pháp luật còn khiến nhà nước thêm tốn kém kinh phí cho hoạt động rà soát, sửa chữa, đính chính…
Với một loạt hậu quả như trên, Bộ Tư pháp đề nghị các cơ quan có liên quan khẩn trương tham mưu Chính phủ trình Quốc hội dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, cần tập trung nghiên cứu, hoàn thiện quy định pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác này trong thực tiễn.
Đối với các bộ, cơ quan ngang bộ và các địa phương, Bộ Tư pháp kiến nghị các bên cần khẩn trương thực hiện việc xử lý văn bản trái pháp luật ngay sau khi nhận được kết luận của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật.
Bộ Tư pháp cũng đề nghị các đơn vị nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Song song với đó là củng cố, phát huy vai trò của tổ chức pháp chế bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan tư pháp địa phương… (Thương Hiệu & Công Luận 31/7, Bảo Ngọc)Về đầu trang
PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH
Bà Phạm Chi Lan: “Vài năm đợi bỏ điều kiện kinh doanh đủ giết hàng vạn doanh nghiệp”
Bà Phạm Chi Lan cho rằng, có thể mất 2 năm, thậm chí 3, 4 năm hoặc hơn để ra được một Nghị định hoặc quy định về bãi bỏ điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, điều đáng nói, thời gian vài năm chờ đợi này cũng đủ giết hàng vạn doanh nghiệp.
Phát biểu tại Hội thảo "Điểm lại pháp luật kinh doanh 6 tháng đầu năm 2018" chiều 31/7, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nói: "Chúng ta đã nghe rất nhiều lời cảm ơn của các doanh nghiệp vì đã giải tỏa được rào cản này, rào cản khác nhưng chưa ai lên tiếng chia buồn với các doanh nghiệp phải ra đi trước khi những điều kiện, rào cản này được cải thiện".
Bà Lan cho rằng, có thể mất 2 năm, thậm chí 3, 4 năm hoặc hơn để ra được một Nghị định hoặc quy định về bãi bỏ điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, điều đáng nói, thời gian vài năm chờ đợi này cũng đủ giết hàng vạn doanh nghiệp.
Dẫn con số thực tế, bà Lan cho hay, riêng 6 tháng đầu năm 2018, số doanh nghiệp đăng ký mới là 64.531, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhưng con số doanh nghiệp dừng hoạt động lên tới 52.803, tăng tới 34,7% so với cùng kỳ năm ngoái.
"Chưa bao giờ khoảng cách giữa 2 con số nêu trên lớn như bây giờ, số doanh nghiệp dừng hoạt động bằng 80% số doanh nghiệp mới ra đời. Tôi vẫn nói rằng số doanh nghiệp chết là chết thật, còn số đăng ký mới thì chưa biết bao giờ mới hoạt động", bà nhấn mạnh.
Bà cũng dẫn số liệu thống kê việc làm mới được tạo ra trong quý II/2018 dừng lại ở con số 283.000, giảm 17% so với quý cùng kỳ năm ngoái.
"Cùng với việc doanh nghiệp dừng hoạt động, nhiều công ăn việc làm mất đi. Chưa cần tới những thách thức như Cách mạng công nghiệp 4.0, các FTA, chiến tranh thương mại Mỹ-Trung thì những thách thức trong nước cũng đủ làm doanh nghiệp chết, hàng vạn người lao động không có việc làm mới rồi”, bà Chi Lan nói.
Bà Lan cho rằng, môi trường kinh doanh quyết định 50% việc doanh nghiệp có tồn tại, phát triển được hay không.
"Tại sao lại khó khăn, lằng nhằng tới thế trong việc thay đổi những điều vô lý tồn tại bao nhiêu năm? Tôi nghĩ tư duy vẫn là vấn đề lớn. Xuyên suốt trong tư duy của nhiều người làm công tác quản lý Nhà nước hiện nay vẫn mặc định cho rằng: Đã là doanh nghiệp thì có vi phạm, đã làm thế nào cũng sai, cho nên phải kiểm soát để tránh cái sai đó. Vì vậy, họ đặt ra rất nhiều điều kiện để kiểm soát", bà Lan bày tỏ.
Theo đó bà cho rằng, Việt Nam đang đi ngược lại nguyên lý bình thường của quản lý Nhà nước của các nước. Ở nhiều nước, Nhà nước chỉ quản lý, kiểm soát khu vực lớn nhất là khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực sử dụng nhiều tài sản nhất của Nhà nước.
"Ở các nước người ta buông nhỏ - nắm lớn nhưng ở Việt Nam, sự giám sát với DNNN hết sức lỏng lẻo, nên mất mát đối với nền kinh tế rất lớn, đó là buông lớn - nắm nhỏ”, bà nói.
Theo Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc, trung bình, mỗi năm các cơ quan nhà nước trung ương ban hành trên dưới 1.000 văn bản quy phạm pháp luật và khoảng 50% số văn bản này có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Trong đó, có từ 10-20 luật, khoảng 200 nghị định và quyết định của Thủ tướng, còn lại là thông tư của các bộ và cơ quan ngang bộ.
"Mỗi văn bản đó lại có hàng chục, thậm chí hàng trăm quy định. Như vậy, chỉ trong vòng 6 tháng, chính quyền trung ương có thể đưa ra hàng chục ngàn quy định có tác động đến các doanh nghiệp. Tại Quốc hội tôi đã từng phát biểu con đường dài nhất Việt Nam không phải từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau mà là từ lời nói đến hành động", Chủ tịch VCCI phát biểu.
Đánh giá về tình hình cắt giảm điều kiện kinh doanh, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng Ban Pháp chế VCCI cho rằng, những hành động để hiện thực hóa quyết tâm cải cách thể chế trong 6 tháng đầu năm 2018 rất phong phú. Theo đó, chính sách pháp luật về kinh doanh có sự thay đổi khá lớn, phần lớn các bộ, ngành đều đã đưa ra phương án cắt giảm, với tỷ lệ các điều kiện kinh doanh cắt giảm, bãi bỏ có thể lên tới ít nhất 50%.
Mặc dù vậy, trên thực tế, tình trạng lạm dụng các điều kiện kinh doanh, đặt ra các yêu cầu không cần thiết hoặc vượt quá mục tiêu kiểm soát rủi ro, diễn ra khá phổ biến. Điều này dẫn tới hệ quả hoạt động kinh doanh bị cản trở, bị can thiệp quá mức, việc gia nhập thị trường và cạnh tranh trên thị trường bị bóp méo, trong khi các lợi ích công cộng vẫn không được bảo vệ.
"Các điều kiện kinh doanh thiếu rõ ràng, phụ thuộc ý chí chủ quan của cơ quan có thẩm quyền quản lý, cấp phép cũng tạo ra dư địa cho nhũng nhiều, hối lộ. Mặc dù các phương án cắt giảm đều đã đạt được mục tiêu nhưng khi xem xét chi tiết hơn của từng phương án thì đôi khi “con số chỉ là con số”, ông Tuấn cho biết. (Dân Trí 1/8, Phương Dung)Về đầu trang
Chống “xin - cho” bằng công nghệ
Ứng dụng Zalo trên điện thoại thông minh và máy tính sẽ góp phần loại bỏ những đặc tính bị coi là cố hữu của thủ tục hành chính nhiêu khê, phiền phức, hành dân, vòi vĩnh, gây khó dễ… mà người dân vẫn kêu than lâu nay.
Tính đến tháng 7/2018, các tỉnh: Đồng Nai, Bắc Ninh, Bình Thuận, Đà Nẵng, An Giang và Tiền Giang đã hoàn tất triển khai mô hình ứng dụng Zalo vào cải cách hành chính. Giải pháp này cho phép người dân tra cứu và nhận kết quả của hơn 2.000 thủ tục hành chính ngay trên Zalo, bao gồm: Đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, nhập quốc tịch Việt Nam, cấp đổi sổ hộ khẩu, thành lập hộ kinh doanh, nhận kết quả giải quyết tranh chấp, khiếu nại...
Đây là bước tiến rất dài về cải cách thủ tục hành chính hiện nay. Từ nhiều năm qua, nói đến thủ tục hành chính, người dân và doanh nghiệp nghĩ ngay đến việc “ xin - cho” phiền hà, nhiêu khê, gây khó dễ. Vì “ xin - cho” quá nhiêu khê, phức tạp nên nhiều người chọn cách chi tiền qua “cò - trung gian” để được việc, tạo nên hình ảnh không đẹp, thậm chí gây hiểu lầm của người dân đối với chính quyền.
Mặc dù yêu cầu cải cách thủ tục hành chính đã được đặt ra một cách cấp bách với các giải pháp như: “một cửa”, “một cửa liên thông”, tăng cường đầu tư trang thiết bị, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nhân rộng mô hình một cửa điện tử.… được triển khai. Tuy nhiên, thực tế chưa đạt yêu cầu, vẫn có những trường hợp cán bộ, công chức bị kỷ luật vì “hành dân”...
Nguyên nhân có nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân là cách giải quyết thủ tục hành chính còn mang tính thủ công, thiếu sự giám sát, đánh giá sát sao nên bệnh cửa quyền, thậm chí vụ lợi vẫn diễn ra ở nơi này, nơi khác với các mức độ khác nhau. Vì thế, mức độ hài lòng của người dân, của doanh nghiệp với các cơ quan hành chính trồi sụt thất thường.
Đến nay, cải cách hành chính qua ứng dụng Zalo sẽ góp phần loại bỏ những đặc tính bị coi là cố hữu của thủ tục hành chính nhiêu khê, phiền phức, hành dân, vòi vĩnh, gây khó dễ… mà người dân vẫn kêu than lâu nay.
Bằng ứng dụng này, người dân không cần đến cơ quan hành chính mà vẫn có thể kiểm tra được tình trạng xử lý hồ sơ của mình, cũng không cần phải nhớ mã hồ sơ hay giữ biên nhận giấy như trước đây vì đã nhận được biên nhận điện tử có mã số qua Zalo. Người dân, doanh nghiệp còn có thể nhắn tin trao đổi trực tiếp với cơ quan hành chính mỗi khi có thắc mắc hay cần góp ý qua tính năng trò chuyện. Cán bộ hành chính qua đó kịp thời hỗ trợ người dân, doanh nghiệp bất kể trong hay ngoài giờ làm việc.
Với giải pháp này, trước hết, lợi ích nhìn thấy rất rõ là tiết kiệm thời gian, công sức người dân, hạn chế đi lại và chờ đợi; đồng thời tạo thêm niềm tin cho người dân vào cơ quan hành chính, hạn chế tối đa những bất tiện trong thủ tục hành chính lâu nay.
Về phía cơ quan hành chính, giải pháp này làm cho bộ máy của cơ quan nhà nước tinh gọn hơn, không cần nhiều cán bộ và giảm bớt chi phí; ngăn chặn được tệ nhũng nhiễu, tiêu cực, không những nội bộ cơ quan hành chính mà chính người dân cũng đều có thể giám sát quá trình giải quyết yêu cầu của người dân, tạo ra một môi trường thông thoáng, công khai và minh bạch.
Mô hình ứng dụng Zalo vào cải cách hành chính đang được triển khai ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, đã và đang mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với xu thế phát triển của cách mạng 4.0.
Công nghệ thông minh là điều kiện cần, còn “công bộc” thông minh và có đạo đức công vụ là điều kiện đủ. Khi hai điều kiện hội tụ, gắn kết với nhau thì việc khó của dân, doanh nghiệp đều được giải quyết nhanh, hiệu quả và tường minh. (Báo Điện Tử Đảng Cộng Sản Việt Nam 31/7, Đăng Dương)Về đầu trang
Mừng hay lo?
Sơ kết công tác 6 tháng đầu năm của ngành thanh tra cho thấy, qua kiểm tra nội bộ chỉ phát hiện 4 vụ, 4 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng; còn qua hoạt động thanh tra đã phát hiện 18 vụ, 14 đối tượng tham nhũng và liên quan đến tham nhũng. Những con số phát hiện khá “khiêm tốn” này là do tình hình tham nhũng đã được đẩy lùi, hay là khả năng đấu tranh, phát hiện tham nhũng còn hạn chế?.
Tại Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn chỉ rõ, công tác phòng, chống tham nhũng ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có sự chuyển biến rõ rệt, vẫn còn tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, nể nang, né tránh, ngại va chạm. Việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng trong nội bộ cơ quan, đơn vị vẫn là khâu yếu.
Lẽ ra, số vụ tham nhũng được phát hiện qua công tác tự kiểm tra, thanh tra nội bộ ít là điều mừng. Mừng vì có thể những giải pháp phòng ngừa, chế tài đủ sức răn đe, nên những người muốn cũng không tham nhũng được. Thế nhưng đang có một mâu thuẫn, trong hầu hết các báo cáo liên quan đến tham nhũng đều nhấn mạnh, tình hình tham nhũng vẫn diễn biến phức tạp, chưa được đẩy lùi. Trong khi đó, số vụ tự phát hiện tại các địa phương, bộ, ngành, cơ quan đơn vị lại rất hạn chế. Thậm chí, có những bộ ngành, địa phương trong báo cáo 10 năm về phòng, chống tham nhũng lại không phát hiện được trường hợp nào. Vậy, liệu chúng ta có nên vội mừng khi tự phát hiện tham nhũng còn khiêm tốn như thời gian qua không?
Có rất nhiều lý do dẫn đến số vụ, số đối tượng tham nhũng bị phát hiện ít, chưa phản ánh đúng tình hình thực tế. Trong đó, có nguyên nhân từ việc tham nhũng là chủ thể đặc biệt, có chức vụ quyền hạn, các đối tượng trong và ngoài nhà nước có mối quan hệ đan xen, cấu kết lợi ích nhóm chặt chẽ để trục lợi. Các đối tượng này tìm mọi cách để bảo vệ, chống đỡ cho nhau nhằm “che mắt”cơ quan kiểm tra, thanh tra. Điều này, dẫn đến việc phát hiện tham nhũng không phải là điều dễ dàng. Ngoài ra, từ những vụ việc xảy ra tại Vinashin, Vinalines qua hàng chục lần kiểm tra, thanh tra nhưng không phát hiện được tham nhũng, không kết luận sai phạm rõ ràng, khiến dư luận nghi ngờ về trình độ và có tiêu cực trong lực lượng thực thi nhiệm vụ này.
Kiểm tra nội bộ là một biện pháp cần thiết trong quá trình hoạt động của các cơ quan, đơn vị. Việc tự kiểm tra nếu được thực hiện nghiêm sẽ mang lại hiệu quả rất lớn trong phát hiện và xử lý các vi phạm nội bộ cơ quan, bộ, ngành, địa phương. Nhưng do kiểm tra nội bộ là “tự kiểm tra nhau” nên có thể thiếu khách quan. Có thể xảy ra tình trạng bao che, thỏa hiệp, dàn xếp, du di cho nhau vì một mục đích nào đó của những người có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ này. Tâm lý dại gì “vạch áo cho người xem lưng” đã trở thành rào cản trong việc tự phát hiện tham nhũng. Bởi, việc công khai tình hình tham nhũng vừa ảnh hưởng đến uy tín cơ quan, đơn vị, vừa ảnh hưởng trực tiếp đến cá nhân người đứng đầu. Do đó, nếu kiểm tra phát hiện có dấu hiệu tham nhũng sẽ dễ dẫn đến nội bộ âm thầm, “đóng cửa bảo nhau”. Số vụ tham nhũng tự phát hiện qua kiểm tra vì thế mà trở nên khiêm tốn.
Cùng với nâng cao hiệu quả của công tác tự kiểm tra, để nâng cao hiệu quả phòng, chống tham nhũng, dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng (sửa đổi) đã bổ sung nội dung rất quan trọng là quy định trách nhiệm của người ra quyết định thanh tra, kiểm toán. Theo đó, người ra quyết định thanh tra, kiểm toán, trưởng đoàn thanh tra, trưởng đoàn kiểm toán, thành viên đoàn thanh tra, đoàn kiểm toán và cá nhân, tổ chức có liên quan phải bị xem xét xử lý trách nhiệm nếu sau khi kết thúc thanh tra, kiểm toán mà cơ quan có thẩm quyền khác phát hiện có vụ việc tham nhũng xảy ra tại cơ quan, tổ chức, đơn vị đã tiến hành thanh tra, kiểm toán về cùng một nội dung. Việc quy trách nhiệm đối với từng chủ thể như dự thảo Luật sẽ chấm dứt tình trạng dù để “lọt lưới” các sai phạm nhưng thanh tra, kiểm toán vẫn “bình an vô sự, như thời gian vừa qua. (Đại Biểu Nhân Dân 1/8, tr2, Lê Hùng)Về đầu trang
TIN THẾ GIỚI
Mỹ: Cảnh sát tuần tra bằng xe đạp điện
Để giúp đơn vị hoạt động thuận lợi hơn, Sở cảnh sát thành phố Tucson, bang Arizona của Mỹ trang bị thêm cho các nhân viên cảnh sát chiếc xe đạp leo núi gắn động cơ điện.
Trung bình mỗi nhân viên cảnh sát này phải đạp xe khoảng 6.500 km mỗi năm. Việc sử dụng xe đạp giúp các cảnh sát tiếp cận người dân dễ dàng hơn.
Điểm đặc biệt của loại xe tuần tra này là động cơ điện chỉ hoạt động khi người sử dụng đạp vào pê-đan, có nghĩa là động cơ điện chỉ giúp họ tiết kiệm sức lực khi chạy xe hoặc tăng tốc khi cần thiết. (VTV.vn 31/7)Về đầu trang./.
- Bản tin cải cách hành chính ngày 31/7/2018 (02/08/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 30/7/2018 (31/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 27/7/2018 (27/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 26/7/2018 (26/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 25/7/2018 (26/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 24/7/2018 (25/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 23/7/2018 (24/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 20/7/2018 (23/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 19/7/2018 (19/07/2018)
- Bản tin cải cách hành chính ngày 18/7/2018 (19/07/2018)

