Bản tin cải cách hành chính ngày 12/8/2022

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Lý do TP.HCM tụt 20 hạng về cải cách hành chính

2.        IOC Huế - “trái tim” điều hành chính quyền thông minh

3.        Vĩnh Phúc phấn đấu trở thành đô thị thông minh

4.        Cao Bằng sẽ chọn một số dịch vụ công chỉ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến

5.        An Giang: Công khai danh sách tên công chức làm hồ sơ thủ tục hành chính trễ hạn

6.        Thái Nguyên: Giải quyết kịp thời nhiều vướng mắc thông qua đối thoại

7.        Bắc Giang: Sở Nội vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, tăng hồ sơ trực tuyến

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

8.        Chỉ có 43 thủ tục hành chính nông nghiệp thực hiện dịch vụ công mức độ 3 và 4

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9.        Cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài: “Đồng tiền ngân sách phải được sử dụng hiệu quả”

10.     Nghỉ việc không chỉ vì lương thấp

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

11.     Chuyển đổi số tại các địa phương cần sự quyết tâm của lãnh đạo

12.     Xây dựng nền hành chính hiện đại và hiệu quả đáp ứng mong đợi của người dân, tổ chức

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Lý do TP.HCM tụt 20 hạng về cải cách hành chính

Sáng 12-8, UBND TP.HCM đã tổ chức hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính sáu tháng đầu năm 2022 và phân tích, đánh giá các chỉ số liên quan công tác cải cách hành chính của TP.

Báo cáo tại hội nghị, ông Huỳnh Thanh Nhân, Giám đốc Sở Nội vụ TP, cho biết Bộ Nội vụ công bố kết quả Chỉ số cải cách hành chính (CCHC) năm 2021 của TP đạt 86,05%, xếp vị trí 43/63 tỉnh, thành, giảm 20 bậc nhưng tăng giá trị chỉ số 1,35% so với kết quả năm 2020.

Theo ông Nhân, có tám nội dung liên quan đến chỉ số CCHC (Par index) mà TP bị trừ điểm. Trong đó, lĩnh vực công tác chỉ đạo điều hành bị trừ 0,0633 điểm do có các nhiệm vụ được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoàn thành muộn so với yêu cầu.

Lĩnh vực cải cách TTHC bị trừ 0,3334 điểm cho chưa thực hiện công khai tiến độ, kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cấp xã trên Cổng thông tin điện tử, Cổng Dịch vụ công TP; còn có hồ sơ trễ hạn và chậm xử lý phản ánh kiến nghị.

Trong lĩnh vực xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức bị trừ 0,25 điểm do việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính của cán bộ, công chức, viên chức chưa tốt; còn có cán bộ, công chức lãnh đạo bị kỷ luật từ mức khiển trách trở lên.

Lĩnh vực cải cách tài chính công bị trừ 0,6387 điểm do tiến độ thực hiện giải ngân kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước chưa đạt yêu cầu. Trong thời điểm này, TP trải qua thời gian dài thực hiện giãn cách xã hội để phòng, chống dịch COVID-19, ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân của các dự án.

Việc tổ chức thực hiện các kiến nghị sau thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước về tài chính, ngân sách còn chậm. Đáng chú ý, trong lĩnh vực tác động đến phát triển kinh tế - xã hội của TP, TP.HCM bị trừ 2/6 điểm.

Phân tích lý do, ông Huỳnh Thanh Nhân cho biết năm 2021 có nhiều yếu tố khách quan tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội.

Với vai trò là đầu tàu kinh tế của cả nước, TP đã có nhiều nỗ lực thực hiện tốt mục tiêu kép là “vừa chống dịch, vừa phục hồi, phát triển kinh tế” nhưng tỉ lệ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn, tỉ lệ thực hiện các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội do HĐND TP giao không đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Ngoài ra, kết quả khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh (SIPAS), TP đạt 8,6559/10 điểm (bị trừ 1,3441 điểm).

Còn kết quả khảo sát từ cán bộ, công chức, lãnh đạo quản lý cấp sở, cấp phòng thuộc sở, đại biểu HĐND TP, lãnh đạo UBND cấp huyện đạt 16/23,5 điểm (bị trừ 7,5 điểm). (Plo.vn 12/8, Lê Thoa)Về đầu trang

IOC Huế - “trái tim” điều hành chính quyền thông minh

Sau 3 năm đi vào sử dụng, Trung tâm Giám sát và Điều hành đô thị thông minh (IOC Huế) đang trở thành “trái tim” của chính quyền tỉnh Thừa Thiên Huế.

IOC Huế đang triển khai đồng thời 10 dịch vụ, bao gồm: phản ánh hiện trường; nhóm giải pháp camera giám sát đô thị và an toàn giao thông; thông tin cảnh báo; giám sát thông tin báo chí địa phương; thẻ điện tử công chức, viên chức; giám sát dịch vụ hành chính công; giám sát quảng cáo điện tử; giám sát môi trường; giám sát an toàn mạng; giám sát tàu cá.

Đặc biệt, Hue-S là ứng dụng nền tảng di động được xây dựng theo hướng super app (siêu ứng dụng) với định hướng một ứng dụng duy nhất tích hợp. Hue-S vừa triển khai các dịch vụ đô thị thông minh phục vụ người dân, doanh nghiệp, vừa ứng dụng chính quyền số phục vụ công tác chuyển đổi số trong cơ quan nhà nước. Hue-S chính là sợi dây kết nối, giúp tiếng nói người dân đến với chính quyền và ngược lại.

Trên Hue-S, từ phản ánh việc vi phạm giao thông, lấn chiếm vỉa hè, đốt rơm rạ… đến cảnh báo cháy rừng, ứng phó lũ lụt, chỉ số ô nhiễm không khí, thông tin du lịch, đều được người dân, doanh nghiệp phản ánh và ngay lập tức có tiếp nhận, xử lý, báo cáo kết quả công khai, minh bạch.

Đến nay Hue-S đã có 793.050 lượt tải ứng dụng, với thời gian sử dụng trung bình 34 phút 52 giây mỗi người/ngày. Tính riêng năm 2021, đã có 17.371.225 lượt truy cập.

Trên cơ sở áp dụng nền tảng số, Hue-S đã làm thay đổi cơ bản và toàn diện phương thức kết nối giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Các vấn đề bức xúc, tồn tại xã hội đã bộc lộ ngày càng nhiều hơn, rõ hơn thông qua sự tham gia phản ánh của người dân. Thông qua Hue-S, các cơ quan, đơn vị tại Huế đã tiếp nhận xử lý trên 58.000 phản ánh với 226 đơn vị tham gia hệ thống xử lý phản ánh hiện trường, bao gồm 193 cơ quan nhà nước và 33 tổ chức, doanh nghiệp.

Số phản ánh được xử lý chiếm 97,5%; thời gian xử lý các phản ánh của người dân rút ngắn từ 60 đến 70%, có những vụ việc rút ngắn đến 90%, tiết kiệm kinh phí cho ngân sách nhà nước hơn 7,7 tỷ đồng tiền in giấy.

Đánh giá về kết quả sau 3 năm triển khai IOC Huế, ông Nguyễn Thanh Bình, Phó chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế khẳng định, qua 3 năm triển khai IOC với hạt nhân là Hue-S đã ghi nhận những kết quả tích cực, tác động trực tiếp đến việc sử dụng các ứng dụng trong công tác điều hành các cấp. Các ứng dụng thông minh thực hiện hướng đến người dân, lấy người dân làm trung tâm. Những kết quả đạt được đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, đóng góp lớn vào sự thay đổi bộ mặt của tỉnh Thừa Thiên Huế. (Baodautu.vn 12/8, Hữu Tuấn)Về đầu trang

Vĩnh Phúc phấn đấu trở thành đô thị thông minh

Nằm trong quy hoạch Vùng Thủ đô, được xác định là 1 trong 3 cực phát triển của vùng, những năm qua, Vĩnh Phúc đang tập trung khai thác tiềm năng, phát huy tối đa lợi thế vị trí địa lý để phát triển kinh tế, phấn đấu đưa Vĩnh Phúc trở thành đô thị thông minh, phát triển xứng tầm đô thị quan trọng của cả nước.

Với lợi thế địa lý không phải địa phương nào cũng có được, những năm qua, Vĩnh Phúc luôn là một trong những tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước về tốc độ tăng trưởng về công nghiệp, là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Ông Vũ Chí Giang, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc cho  biết, UBND tỉnh luôn lắng nghe ý kiến của DN, trao đổi để tìm cách tháo gỡ những vướng mắc một cách tốt nhất. Tại cuộc làm việc với Tổng công ty Điện lực Miền Bắc về tình hình cung cấp điện, tiến độ triển khai các dự án điện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, ông Giang yêu cầu UBND các huyện, thành phố tập trung nhân lực phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng cho các dự án. Các ngành, đơn vị, địa phương cần linh hoạt đẩy nhanh tiến độ dự án, đáp ứng nhu cầu về điện phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống người dân.

Chia sẻ về những nỗ lực cải tiện môi trường đầu tư, lãnh đạo UBND huyện Yên Lạc (Vĩnh Phúc) cho biết, huyện Yên Lạc đã xây dựng Đề án tháo gỡ các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, trong đó đã thực hiện nhiều giải pháp tháo gỡ những cơ chế, chính sách cản trở phát triển các nguồn lực, trọng tâm là các cơ chế, chính sách cản trở trong lĩnh vực đất đai, thủ tục thu hút đầu tư và cơ chế chính sách xã hội hoá. Cùng với đó, định kỳ hoặc đột xuất UBND huyện tổ chức nghe các đơn vị báo cáo kết quả thực hiện và chỉ đạo giải quyết nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh.

Để cải cách thủ tục hành chính nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, huyện rà soát và cắt giảm một số hồ sơ thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, DN, đồng thời, đẩy mạnh hoạt động kiểm tra trách nhiệm thực thi công vụ của các cơ quan, đơn vị thuộc UBND huyện và các xã, thị trấn.

Để giữ vững và cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới, UBND huyện Yên Lạc tiếp tục thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, giúp đỡ DN người dân phòng chống dịch, ổn định phát triển sản xuất, kinh doanh tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho DN phát triển sản xuất, kinh doanh nhằm tạo ra bộ máy chính quyền thân thiện, chuyên nghiệp; chuyển nhận thức và hành động từ quản lý DN sang hỗ trợ DN.

Bên cạnh đó, tăng cường hướng dẫn và hỗ trợ DN các thủ tục về thuế, cắt giảm các thủ tục hành chính còn rườm rà, không phù hợp, chồng chéo trong đầu tư, kinh doanh cho các DN. Với các dự án có tính khả thi cao nhưng gặp vướng mắc về giải phóng mặt bằng, huyện tập trung đẩy nhanh tiến độ bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng các dự án. Cùng với đó, tăng cường công tác xúc tiến đầu tư nhằm tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm cho DN, hộ kinh doanh, quảng bá hình ảnh tiềm năng, thế mạnh để thu hút các DN về đầu tư tại huyện.

Theo TS, KTS Lưu Đức Minh, Phó Giám đốc Học viện Cán bộ quản lý xây dựng và đô thị (Bộ Xây dựng), để phát huy tối đa tiềm năng sẵn có, kết nối hiệu quả trong vùng Thủ đô, Vĩnh Phúc đang xây dựng Đề án Đô thị thông minh, giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến 2030 với mục tiêu phát triển hệ thống đô thị Vĩnh Phúc theo hướng tăng trưởng xanh, thông minh và bền vững. Thực tế hiện nay, Vĩnh Phúc có đủ điều kiện để xây dựng thành công đô thị thông minh gắn liền với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Mô hình phát triển đô thị thông minh Vĩnh Phúc gồm 5 lớp sẽ được triển khai đồng thời.

Việc xây dựng đô thị thông minh là hướng đi có tính đột phá của Vĩnh Phúc, góp phần nâng cao tính cạnh tranh, tạo niềm tin cho nhà đầu tư và đặc biệt là cung cấp ngày càng nhiều dịch vụ tiện ích cho đời sống xã hội, hình thành những đô thị đáng sống, đem lại hạnh phúc cho chính người dân. (Cand.com.vn 12/8, Lưu Hiệp)Về đầu trang

Cao Bằng sẽ chọn một số dịch vụ công chỉ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến

Dự kiến ngay trong tháng 8, các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện, xã trên địa bàn Cao Bằng sẽ hoàn thành việc lựa chọn một số dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) mức 3, 4 chỉ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến.

Việc nâng cao số lượng dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ cũng như tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính xử lý trực tuyến đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các địa phương phải thực hiện quyết liệt.

Ủy ban Quốc gia về chuyển đổi số cũng đã nêu rõ yêu cầu với các địa phương trong việc nâng cao hiệu quả cung cấp, sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Theo đó, trong năm 2022, các địa phương cần hoàn thành 2 chỉ tiêu về dịch vụ công trực tuyến gồm: Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ đạt 80%, tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính xử lý trực tuyến đạt 50%.

Thực tế tại Cao Bằng, theo số liệu của Sở TT&TT, 87% dịch vụ công của tỉnh đã được cung cấp trực tuyến mức 3, 4. Tuy nhiên, tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4 còn rất thấp, chưa được người dân và doanh nghiệp quan tâm, thực hiện nộp hồ sơ và nhận kết quả trực tuyến.

Cụ thể, năm 2021, tỉnh Cao Bằng chỉ đạt 10% số dịch vụ công trực tuyến mức 4 có phát sinh hồ sơ và tỷ lệ hồ sơ được giải quyết trực tuyến cũng mới đạt 9,8%. “Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến chỉ số cải cách hành chính năm 2021 của tỉnh nằm trong nhóm thấp nhất của cả nước”, UBND tỉnh Cao Bằng nhận định.

Theo phân tích, bên cạnh nguyên nhân khách quan là một bộ phận người dân chưa biết đến lợi ích của dịch vụ công trực tuyến, còn hạn chế về kỹ năng sử dụng, sự hạn chế trong cung cấp, sử dụng dịch vụ công online còn đến từ nguyên nhân chủ quan từ phía cơ quan nhà nước.

Đó là, cơ quan nhà nước còn chưa tạo thuận tiện cho người dân sử dụng dịch vụ; việc hoàn thiện hồ sơ còn nhiều khó khăn; người dân chưa được hướng dẫn cụ thể về kỹ năng, cách thức sử dụng dịch vụ công trực tuyến; quy trình tiếp nhận và giải quyết hồ sơ chưa đồng bộ, thống nhất trên môi trường mạng, giao diện ứng dụng nộp hồ sơ trực tuyến chưa thân thiện, dễ hiểu…

Để giải quyết tồn tại nêu trên, UBND tỉnh Cao Bằng mới đây đã lên kế hoạch thúc đẩy hiệu quả cung cấp, sử dụng dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn tỉnh. Kế hoạch hướng tới thúc đẩy nâng cao hiệu quả cung cấp, sử dụng dịch vụ công trực tuyến, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính, góp phần cải thiện chỉ số chuyển đổi số - DTI, chỉ số cải cách hành chính - PAR Index, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh - PCI.

Các nhiệm vụ, giải pháp sẽ được tỉnh Cao Bằng tập trung triển khai trong thời gian tới gồm có: Giao chỉ tiêu tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ và tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến cho các sở, ban, ngành, cấp tỉnh và UBND các huyện, thành phố; lựa chọn, đề xuất dịch vụ công trực tuyến mức 3, 4 chỉ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến; ban hành và thực hiện các chính sách khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng dịch vụ công trực tuyến; tổ chức hướng dẫn, hỗ trợ người dân thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại các điểm phục vụ bưu chính...

Cụ thể, các sở, ban, ngành và UBND cấp huyện, xã trên địa bàn Cao Bằng được yêu cầu lựa chọn từ 1 dịch vụ công trở lên chỉ tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, đồng thời công bố, thông báo rộng rãi cho các tổ chức, cá nhân biết để thực hiện. Thời hạn hoàn thành việc này là trong tháng 8.

Cũng trong tháng 8, Văn phòng UBND tỉnh, trực tiếp là Trung tâm phục vụ hành chính công có trách nhiệm phối hợp với các sở, ngành, UBND huyện và các cơ quan, đơn vị liên quan để tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành, thực hiện chính sách giảm thời gian giải quyết và ưu tiên giải quyết đối với các hồ sơ thủ tục hành chính được người dân, doanh nghiệp nộp trực tuyến. (Ictnews.vietnamnet.vn 12/8, Vân Anh)Về đầu trang

An Giang: Công khai danh sách tên công chức làm hồ sơ thủ tục hành chính trễ hạn

Chiều 11.8, ông Nguyễn Thanh Bình – Chủ tịch UBND tỉnh An Giang đã ký văn bản số 911/UBND-TH gửi đến Sở, ban, ngành tỉnh, UBND huyện, thị xã, thành phố về việc triển khai thực hiện một số nhiệm vụ về cải cách thủ tục hành chính theo nghị quyết 85/NQ-CP.

Theo đó, Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu các Sở, ban, ngành tỉnh và UBND huyện, thị xã, thành phố khẩn trương thực hiện các nhiệm vụ về cải cách thủ tục hành chính được giao phải hoàn thành trong năm 2022.

Thực hiện tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ đối với các thủ tục hành chính thuộc phạm vi, thẩm quyền giải quyết; số hóa và tái sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền tiếp nhận tại bộ phận một cửa cấp tỉnh từ ngày 1.6, tập trung thực hiện đối với 25 dịch vụ công thiết yếu từ ngày 1.7 theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Ngoài ra, vào ngày 1 hàng tháng, lập và công khai danh sách cán bộ, công chức, viên chức giải quyết chậm, muộn hồ sơ hoặc có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực trên Cổng thông tin điện tử của đơn vị, địa phương (và gửi danh sách về Sở TT-TT thông tổng hợp, chậm nhất ngày 3 hàng tháng); kịp thời xử lý các khó khăn, bất cập, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công.

Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Sở Nội vụ phải hướng dẫn các cơ quan, đơn vị về thủ tục khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức giải quyết chậm, muộn hồ sơ hoặc có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực trong thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công.

Trước đó, vào sáng 19.7, Văn phòng UBND tỉnh An Giang đã tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ kiểm soát thủ tục hành chính cho hơn 300 đại biểu là lãnh đạo văn phòng của các sở, ban ngành tỉnh, UBND cấp huyện, thị xã, thành phố và xã, phường, thị trấn, cán bộ đầu mối kiểm soát của các đơn vị. (1thegioi.vn 11/8, Tô Văn)Về đầu trang

Thái Nguyên: Giải quyết kịp thời nhiều vướng mắc thông qua đối thoại

Thời gian gần đây nhiều sở, ngành, địa phương trong tỉnh Thái Nguyên đã tiến hành đối thoại, tiếp xúc với doanh nghiệp, doanh nhân, người dân một cách thực chất, hiệu quả. Qua đó, nhiều vấn đề được giải quyết kịp thời, đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh; đồng thời cải thiện môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Mới đây, Sở Xây dựng đã đối thoại với lãnh đạo, đại diện gần 60 doanh nghiệp về các vấn đề về đơn giá xây dựng chưa sát với giá thị trường, thiếu đất san lấp; hợp đồng theo đơn giá cố định, trọn gói khi giá nguyên, nhiên liệu có biến động lớn làm cho việc triển khai công trình, dự án gặp nhiều khó khăn.

Giám đốc Sở Xây dựng Hoàng Đức Khánh cho biết, những vấn đề đại diện doanh nghiệp nêu đều đang diễn ra trong thực tế, Sở Xây dựng đã giải quyết trong phạm vi thẩm quyền như đã bổ sung 26 mỏ và điểm mỏ đất vào quy hoạch; những vấn đề mang tính chất liên sở thì phối hợp chặt chẽ để xem xét giải quyết, như cập nhật, ban hành giá xây dựng sát với thị trường; các vấn đề khác sẽ tham mưu UBND tỉnh xem xét giải quyết trong thời gian sớm nhất nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Những kiến nghị của doanh nghiệp, Sở Xây dựng sẽ có văn bản trả lời trong 7 ngày.

Trước đó, tại cuộc đối thoại của Sở Công thương vào đầu tháng 8/2022, doanh nghiệp có 13 kiến nghị bằng văn bản và nêu trực tiếp vấn đề cấp quyền khai thác khoáng sản, phí bảo vệ môi trường chưa phù hợp với thực tiễn khai thác; quy hoạch khai thác quặng titan; quản lý các hợp tác xã điện; việc gắn kết giữa các đơn vị sản xuất-kinh doanh với Sở Công Thương; việc cung cấp than đối với các nhà máy nhiệt điện trên địa bàn tỉnh...

Lãnh đạo Sở Công Thương đã trực tiếp giải đáp các kiến nghị, giải quyết ngay những vấn đề thuộc thẩm quyền, tiếp thu các ý kiến đóng góp của doanh nghiệp đối với công tác quản lý. Sở Công thương khẳng định, sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường gắn kết để kịp thời tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ tối đa cho doanh nghiệp phát triển sản xuất, kinh doanh.

Thời gian gần đây, các địa phương có nhiều doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thu hút vốn FDI với số lượng lớn như thành phố Thái Nguyên, Phổ Yên; Cục thuế tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp tổ chức đối thoại với doanh nghiệp. Các cuộc đối thoại này có lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành dự. Qua đó, nhiều vấn đề về giải phóng mặt bằng, vướng mắc trong sản xuất, kinh doanh được tiếp thu, nắm bắt sâu sắc, tháo gỡ.

Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên Trịnh Việt Hùng yêu cầu, các sở, ngành và địa phương trong tỉnh thường xuyên tổ chức đối thoại với doanh nghiệp, người dân, công việc này phải đi vào nền nếp trong thời gian tới, nhằm thực hiện cam kết của tỉnh là thành công của doanh nghiệp, nhà đầu tư là thành công của tỉnh. Vì vậy, các sở, ngành, địa phương phải tạo điều kiện thuận lợi nhất, giải quyết kịp thời những kiến nghị, đề xuất, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội. (Nhandan.vn 11/8, Thế Bình)Về đầu trang

Bắc Giang: Sở Nội vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, tăng hồ sơ trực tuyến

Ngày 11/8, Tổ kiểm tra Cải cách hành chính (CCHC) số 4 của tỉnh Bắc Giang kiểm tra về công tác CCHC, ISO, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) tại Sở Nội vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh. Đồng chí Nguyễn Văn Phương, Phó Giám đốc Sở Nội vụ làm trưởng đoàn.

Đoàn tiến hành kiểm tra công tác chỉ đạo, điều hành và kết quả thực hiện CCHC trên các lĩnh vực: Thủ tục hành chính (TTHC); cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; cải cách chế độ công vụ; xây dựng và phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số.

Qua khảo sát, đánh giá Sở Nội vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh đã quan tâm chỉ đạo, thực hiện các nhiệm vụ về CCHC, ứng dụng CNTT, chuyển đổi số.

Đối với Sở Nội vụ đơn vị đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền để nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến mức độ 3 và 4, tỷ lệ hồ sơ bưu chính công ích. Tổng số TTHC thuộc thẩm quyền giải quyết của sở là 89 TTHC trên 6 lĩnh vực. 100% hồ sơ tiếp nhận, giải quyết qua bộ phận một cửa của sở đúng hạn.

Kho bạc Nhà nước tỉnh được đánh giá là đơn vị tích cực chuyển đổi số. Hiện đã thực hiện tốt 2 không là: Không tiền mặt, không khách hàng giao dịch trực tiếp. Triển khai hiệu quả hệ thống dịch vụ công trực tuyến. Tổng số hồ sơ TTHC giải quyết mức độ 4 trả đúng hạn là 330.492/330.572 hồ sơ, đạt tỷ lệ 99,9%. Bên cạnh đó, Kho bạc cũng quan tâm sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động. Kết quả giảm từ 10 phòng chức năng xuống còn 5 phòng và xóa bỏ 9 mô hình cấp tổ tại 9 Kho bạc Nhà nước huyện.

Ngoài ra tổ cũng chỉ ra những hạn chế và đề nghị Sở Nội vụ, Kho bạc Nhà nước tỉnh khắc phục. Đó là tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về công tác CCHC, giải quyết hồ sơ trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt. Kho bạc Nhà nước tỉnh đẩy nhanh việc cập nhật văn bản mới để sửa đổi, bổ sung vào quy trình ISO; khắc phục tình trạng còn hồ sơ chậm muộn. Sở Nội vụ tăng cường tập huấn kỹ năng khai thác, ứng dụng CNTT của cán bộ, công chức, viên chức. Tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho UBND tỉnh về công tác CCHC; nghiên cứu, triển khai các ứng dụng, phần mềm chuyên ngành; nâng hiệu quả quản lý.

Được biết, đây là năm đầu tiên, Bắc Giang kiểm tra công tác này với cơ quan ngành dọc đứng chân trên địa bàn. (Baobacgiang.com.vn 12/8, Hoài Thu)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Chỉ có 43 thủ tục hành chính nông nghiệp thực hiện dịch vụ công mức độ 3 và 4

Đến hết tháng 7, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hoàn thành trên 60% kế hoạch nhiệm vụ, hoạt động cải cách hành chính năm 2022. Riêng về triển khai dịch vụ công trực tuyến, Bộ hiện đang có 224 thủ tục hành chính thuộc phạm vi quản lý của Bộ.

Tuy nhiên, số thủ tục hành chính thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 còn thấp, chỉ đạt 43/224 thủ tục hành chính; trong đó, mới có 19 thủ tục hành chính được tích hợp với Cổng dịch vụ công quốc gia.

Bên cạnh đó, một số đơn vị vẫn còn tình trạng trễ hạn trong giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính nhưng chưa thực hiện xin lỗi công khai theo quy định. Một số đơn vị thực hiện cập nhật để theo dõi đánh giá chất lượng giải quyết thủ tục hành chính trên Hệ thống thông tin Một cửa điện tử của Bộ chưa đầy đủ. Một số lĩnh vực chưa phê duyệt quy trình nội bộ sửa đổi, bổ sung theo quy định như: trồng trọt, lâm nghiệp, khoa học công nghệ, thủy sản.

Hiện các đơn vị của Bộ đã hoàn thành rà soát và đề xuất các dịch vụ công mức 2 lên mức 3 và 4 tích hợp trên Cổng dịch vụ công Quốc gia năm 2022. Các đơn vị thường xuyên rà soát các thủ tục hành chính có đủ điều kiện quy định của pháp luật để cung cấp trực tuyến mức độ 3 và 4 trên Cổng dịch vụ công; nâng cao chất lượng giải quyết dịch vụ công, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Đến nay, các đơn vị thuộc Bộ đã hoàn thành xây dựng, kết nối 29 thủ tục hành chính (100%) thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia. Từ thời điểm bắt đầu triển khai 2015 đến nay, các đơn vị đã tiếp nhận tổng số trên 2.463 triệu hồ sơ qua Cổng thông tin một cửa quốc gia và đã xử lý, cấp phép điện tử tổng số 2.460 triệu hồ sơ cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức, cùng với 15.210 doanh nghiệp trên cả nước tham gia.

Triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN là nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong kiểm tra chuyên ngành, ứng dụng công nghệ thông tin góp phần thúc đẩy phát triển bộ, ngành. Việc triển khai Cơ chế một cửa quốc gia của Bộ đem lại hiệu quả và nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, người dân cũng như các cơ quan quản lý chuyên ngành.

6 tháng đầu năm 2022, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã hoàn thành thủ tục cấp phép gần 280 nghìn hồ sơ theo Cơ chế một cửa quốc gia. Cùng với việc áp dụng ký số đã thật sự thay đổi cách làm truyền thống của các cơ quan quản lý chuyên ngành của Bộ theo hướng tiếp cận ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, thực hiện chuyển đổi số, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đơn giản hóa hồ sơ thủ tục, rút ngắn thời gian, chi phí cho việc đăng ký kiểm tra và thông quan hàng hóa. Đồng thời, tăng cường năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và thực hiện cải cách hành chính.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết, Bộ tiếp tục đẩy mạnh rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh và cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành; phân cấp giải quyết thủ tục hành chính đảm bảo theo chỉ đạo chung của Chính phủ, thực hiện nghiêm túc, kịp thời việc công bố, công khai thủ tục hành chính. (TTXVN/Bnews.vn 12/8, Bích Hồng)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài: “Đồng tiền ngân sách phải được sử dụng hiệu quả”

Ngày 11/8, Ban Tổ chức Trung ương đã diễn ra Hội nghị quán triệt, triển khai các văn bản mới của Trung ương về công tác tổ chức xây dựng Đảng.

Những văn bản được quán triệt, gồm: Thông báo Kết luận về thực hiện một số mô hình thí điểm; Kết luận về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026; Quy định số 70 về quản lý biên chế của hệ thống chính trị; Quyết định số 71 về tổng biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026; Kết luận số 39 về chủ trương bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách Nhà nước.

Đề cập đến việc quản lý biên chế, bà Mai cho biết, Bộ Chính trị ban hành 10 văn bản liên quan. Để có được khối lượng văn bản lớn này đã phải mất tới 2 năm và trước Đại hội XIII, vấn đề xây dựng vị trí việc làm đã được tiến hành. Hiện nay, Bộ Chính trị đã quyết định phải đẩy mạnh tinh giản biên chế theo đúng tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Trưởng ban Tổ chức Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng phải nhận thức đầy đủ về việc tinh giản biên chế, không phải chỉ giảm số lượng mà quá trình này phải gắn với mục tiêu cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả.

“Giống như việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn là bước đi đầu tiên, còn nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị mới là mục tiêu. Phải tập trung đánh giá để sắp xếp biên chế phù hợp, có trọng tâm, trọng điểm không cào bằng, không máy móc. Thẩm quyền này thuộc ban thường vụ các cấp ủy, tổ chức đảng phải quan tâm triển khai thực hiện", bà Mai nhấn mạnh.

Trưởng ban Tổ chức Trung ương yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng chấm dứt việc giao biên chế không đúng thẩm quyền, tự giao biên chế vượt quá số lượng cho phép. Bên cạnh đó, bà cũng lưu ý tiếp tục hoàn thiện danh mục vị trí việc làm, bởi đây là cơ sở rất quan trọng để quyết định số lượng biên chế.

Nhấn mạnh thêm việc cần quan tâm tiếp tục triển khai thực hiện cải cách chính sách tiền lương để tạo động lực cống hiến, làm việc cho cán bộ, công chức, viên chức, bà Mai cho biết, Ban Tổ chức Trung ương đang tiếp tục phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để hoàn thiện, sửa đổi các quy định, quy chế liên quan đến quản lý biên chế nhằm tạo sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống chính trị.

Liên quan đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý tại nước ngoài, bà Mai nhấn mạnh, Ban Tổ chức Trung ương sẽ tổ chức các đoàn đi đào tạo, bồi dưỡng tại nước ngoài theo nhóm đối tượng; lựa chọn nội dung, cơ sở đào tạo gắn với nhóm đối tượng; hài hòa việc đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước; đảm bảo quá trình đào tạo thiết thực, đáp ứng công việc cán bộ đang đảm nhiệm.

Ngoài ra, khuyến khích các địa phương, đơn vị chủ động việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ tại nước ngoài khi có điều kiện. Ban Tổ chức Trung ương sẽ hỗ trợ công tác liên hệ với các cơ sở đào tạo. “Điều quan trọng nhất là đồng tiền ngân sách Nhà nước phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả”, bà Mai đặc biệt nhấn mạnh. (Tienphong.vn 11/8, Văn Kiên)Về đầu trang

Nghỉ việc không chỉ vì lương thấp

Theo số liệu của Tổng Liên đoàn Lao động, từ đầu năm đến nay đã có hơn 30.000 công chức, viên chức, người lao động làm việc trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước nghỉ việc, bỏ việc.

Trong đó, ngành y tế nghỉ nhiều nhất với hơn 10.000 người. Một số ngành tưởng chừng nhiều năm qua ổn định về việc làm, thu nhập như: BHXH, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, giáo dục…, cũng có khá đông trường hợp xin nghỉ việc, bỏ việc. Ngành đường sắt có hai đoàn tiếp viên đường sắt là Hà Nội và Phương Nam có đến hơn 500 trường hợp nghỉ việc, bỏ việc. Nhiều năm trước, nghề tiếp viên đường sắt luôn có sức hút mạnh đối với lao động trẻ, nhưng nay lại thiếu hụt trầm trọng và rất khó tuyển đủ người cho nhu cầu ngày càng cao khi tăng chuyến.

Nguyên nhân đã được nhận diện. Trong đó, với ngành y tế và một số ngành, là do thực hiện chủ trương tinh giản biên chế một cách vội vã, cào bằng, chưa xét đến việc sử dụng lao động kỹ thuật, công nghệ cao với yêu cầu đầu tư, quản lý theo hướng chuyển đổi số. Một nguyên nhân khác là môi trường làm việc ở một số ngành, lĩnh vực có tình trạng ganh đua, cạnh tranh không lành mạnh và có sự đánh giá thiếu công bằng về chất lượng công tác, năng lực làm việc của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Một số cán bộ quản lý, lãnh đạo đơn vị coi thường nhân viên và ứng xử không có lý, có tình cũng là nguyên nhân khiến công chức, viên chức, người lao động cảm thấy bị xúc phạm, không được coi trọng nên nghỉ việc, bỏ việc.

Những nguyên nhân của tình trạng nghỉ việc, bỏ việc trên nếu không sớm được khắc phục thì về lâu dài, đặc biệt ở một số ngành, lĩnh vực mũi nhọn trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp nhà nước, sẽ không có người giỏi, người có năng lực, tâm huyết cống hiến cho sự phát triển. Giải pháp trước mắt và lâu dài được nhiều ý kiến đưa ra là ngoài việc cải cách tiền lương, chế độ đãi ngộ hợp lý, thì còn cần có các chính sách khuyến khích người tài và quy hoạch, đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề, bảo đảm điều kiện làm việc cho đội ngũ công chức, viên chức, người lao động phù hợp với yêu cầu phát triển của khoa học, công nghệ hiện đại trong xu thế chuyển đổi số hiện nay. (Sggp.org.vn 12/8, Hoài Nam)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

Chuyển đổi số tại các địa phương cần sự quyết tâm của lãnh đạo

Tại phiên họp thứ 3 của Ủy ban Chuyển đổi số Quốc gia diễn ra ngày 8/8 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã khẳng định chuyển đổi số là công cụ quan trọng trong xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả.

Theo báo cáo tháng 8/2022 về Tổng thể xếp Hạng về chỉ số chuyển đổi số cấp tỉnh (DTI) do Bộ Thông tin và Truyền thông đánh giá, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Thừa Thiên-Huế là 2 địa phương đứng đầu bảng.

Nhìn lại kết quả của quá trình chuyển đổi số trong giai đoạn vừa qua, có thể khẳng định vai trò chỉ đạo, dẫn dắt của cấp ủy, chính quyền đóng vai trò quyết định. Đồng thời, để thúc đẩy chuyển đổi số, các địa phương cần xác định phải hợp lực để thực hiện thành công các mục tiêu đề ra.

Năm 2020 là giai đoạn khởi động nhận thức về chuyển đổi số. Năm 2021 là thời kỳ bắt đầu triển khai, trải nghiệm về chuyển đổi số trong bối cảnh đại dịch COVID-19. Năm 2022 được nhận định là giai đoạn vàng để hợp lực chuyển đổi số.

Bộ Trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng từng nhấn mạnh năm 2022 là năm "Tổng tấn công về chuyển đổi số" tập trung phục vụ người dân.

Thời gian vừa qua, Đà Nẵng, Thừa Thiên-Huế, đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ, tạo tiền đề để đến năm 2025 các địa phương này đạt mục tiêu chuyển đổi số đóng góp 15-20% vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh, thành phố.

Năm 2021, Đà Nẵng đứng vị thứ 3 trong cả nước về chỉ số cải cách hành chính (PAR Index). Đây cũng là năm thứ hai liên tiếp, Đà Nẵng được nhận Giải thưởng Thành phố thông minh Việt Nam và nhận 3 giải thưởng chuyên đề là Thành phố Quản lý, điều hành thông minh; Thành phố Y tế thông minh và Thành phố Quản lý môi trường thông minh, xanh, sạch.

Năm 2021, hạ tầng viễn thông-công nghệ thông tin tiếp tục đảm bảo phục vụ hiệu quả cho các sự kiện lớn, hoạt động của cơ quan nhà nước, cung cấp dịch vụ công cho người dân và điều hành phòng, chống dịch COVID-19.

Thành phố Đà Nẵng triển khai kết nối mạng nội bộ (MAN) đến tất cả các cơ quan của thành phố để phục vụ sử dụng văn bản điện tử và điều hành.

Ở Đà Nẵng, 100% thủ tục hành chính được kịp thời nâng lên trực tuyến mức 3, 4, vừa tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, vừa hạn chế tiếp xúc, bảo đảm an toàn phòng, chống dịch; triển khai hệ thống họp trực tuyến phục vụ điều hành phòng, chống dịch trên toàn địa bàn thành phố.

Thêm vào đó, các khu công nghệ thông tin tập trung, khu công viên phần mềm tiếp tục được duy trì và đẩy nhanh tiến độ xây dựng, trong đó, khu công viên phần mềm số 1 tiếp tục duy trì tỷ lệ lấp đầy 100%.

Hiện nay, khu công nghệ thông tin tập trung Đà Nẵng giai đoạn 1 đã khánh thành dự án nghiên cứu, sản xuất và lắp ráp thiết bị điện tử công nghệ cao Surface Mount Technology (SMT) và đang thu hút thêm nhiều dự án quy mô.

Tới đây, Đà Nẵng sẽ đẩy mạnh hoạt động chuyển đổi số, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động để chuyển đổi số thực sự là động lực cho sự phát triển thành phố.

Đà Nẵng sẽ huy động nguồn lực xã hội để phát triển hạ tầng số, hạ tầng các khu công nghệ thông tin phục vụ phát triển công nghiệp công nghệ thông tin, thành phố thông minh, tạo nền tảng thúc đẩy phát triển kinh tế số trong tương lai.

Ông Nguyễn Quang Thanh, Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông, Phó Trưởng ban Ban Chỉ đạo chuyển đổi số thành phố Đà Nẵng, nêu rõ: Đối với việc triển khai chuyển đổi số cũng như xây dựng thành phố thông minh tại Đà Nẵng có ba thành phần hết sức quan trọng, gồm chính quyền, doanh nghiệp, công dân.

Do đó, việc hợp lực trong quá trình triển khai các nội dung này, trong đó có vai trò của cấp ủy, chính quyền thành phố trong việc kết nối giữa ba đối tượng đóng vai trò quan trọng quyết định.

Ông Nguyễn Quang Thanh cho biết thêm, trong từng giai đoạn sẽ có những "trọng số" cụ thể khác nhau. Trong giai đoạn ban đầu, khi việc chuyển đổi số còn sơ khai, gặp nhiều khó khăn cả trong nhận thức lẫn cơ sở hạ thầng thì vai trò dẫn dắt của lãnh đạo địa phương là quan trọng nhất.

Lãnh đạo địa phương ngoài việc triển khai chính quyền số, còn cần chỉ đạo, mở đường cho doanh nghiệp. Khi đã có chính sách rõ ràng, sự nhận thức của doanh nghiệp về chuyển đổi số đã có sự chuyển biến thì trong giai đoạn thực thi doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng.

Khi môi trường chuyển đối số đã được tạo ra rồi thì cần làm sao người dân tin tưởng, tiếp cận công nghệ chuyển đổi số để sử dụng các dịch vụ công của chính quyền. Lúc này vai trò của người dân lại rất quan trọng.

Tỉnh xác định, việc thực hiện tổng thể, toàn diện chương trình Chuyển đổi số Quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 phải bắt đầu từ sự thay đổi tư duy, nhận thức của cán bộ công chức về chuyển đổi số; ưu tiên chuyển đổi số từ cấp xã một cách đồng bộ, số hoá dữ liệu đất đai, quy hoạch.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế cho biết trong lĩnh vực chuyển đổi số tại địa phương thì cấp ủy, chính quyền đóng vai trò quyết định-đứng ra chỉ đạo, tổ chức thực hiện các giải pháp, cách thức tốt nhất theo kế hoạch, chỉ tiêu đặt ra.

Chính quyền chỉ đạo, đưa ra chính sách khuyến khích doanh nghiệp tạo ra các nền tảng công nghệ để người dân tiếp cận một cách thuận lợi nhất với các giải pháp của chính quyền đưa ra, biến người dân từ đối tượng được thụ hưởng thành người tham gia, chung tay, hợp lực với chính quyền để thực hiện các giải pháp tăng cường năng lực quản lý của chính quyền.

Theo báo cáo của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Thừa Thiên-Huế, Trung tâm Điều hành Ủy ban nhân dân tỉnh, Trung tâm Giám sát, điều hành đô thị thông minh (Hue-S) hiện nay đang vận hành hiệu quả. Việc gửi, nhận văn bản điện tử được liên thông cả bốn cấp hành chính. Hơn 75% dịch vụ công được cung cấp trực tuyến mức độ 3, mức độ 4.

Những nỗ lực đẩy mạnh chuyển đổi số trong mọi mặt đời sống kinh tế-xã hội không chỉ tạo sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư đến với tỉnh, mà còn tác động tích cực, lan tỏa đến mỗi người dân.

Thừa Thiên-Huế hiện có gần 70 doanh nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi số; 100% số doanh nghiệp trên địa bàn đều có kết nối Internet; hơn 200 doanh nghiệp có website tích hợp chức năng cho phép đặt hàng trực tuyến; 100% số cơ quan cấp huyện có cán bộ được giao phụ trách công tác phát triển xã hội số, thúc đẩy chuyển đổi số cho người dân.

Để thúc đẩy nhanh chuyển đổi số tại địa phương, ngày 18/4/2022, Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên-Huế ban hành Kế hoạch số 160/KH-Ủy ban Nhân dân triển khai Đề án "Nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030" trên địa bàn tỉnh.

Nghị quyết số 12-NQ/TƯ về chuyển đổi số tỉnh Thừa Thiên-Huế đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 do Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI ban hành là văn bản quan trọng, có mục tiêu tổng quát là đẩy mạnh phát triển chính quyền số, kinh tế số, xây dựng xã hội số để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Chuyển đổi số là công cụ đột phá để các ngành, các lĩnh vực phát triển nhanh và bền vững, tiến nhanh đến mục tiêu xây dựng Thừa Thiên-Huế là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của khu vực Đông Nam Á về văn hóa, du lịch, y tế chuyên sâu, là một trong những trung tâm lớn của cả nước về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trương Gia Bình, Chủ tịch Hội đồng sáng lập Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) đánh giá, tại các địa phương, sự hợp lực đã có một số tiến bộ nhưng vẫn còn rất nhiều việc phải làm trong thời gian tới để chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ hơn, tạo đòn bẩy cho các địa phương bứt phá. (TTXVN/Vietnam+ 12/8)Về đầu trang

Xây dựng nền hành chính hiện đại và hiệu quả đáp ứng mong đợi của người dân, tổ chức

Sự hài lòng của người dân, tổ chức là thước đo hiệu quả hoạt động của nền công vụ. Trong đó, cần chú trọng các khía cạnh, nội dung mà người dân, tổ chức đánh giá chưa tích cực, mức độ hài lòng thấp và các nội dung nhận được sự mong đợi cải thiện để đánh giá, xác định nguyên nhân, xây dựng, thực hiện kế hoạch hành động, giải pháp khắc phục.

Theo Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2021 (SIPAS 2021) do Bộ Nội vụ vừa công bố, việc người dân, tổ chức phải đi lại nhiều lần khi làm thủ tục hành chính (TTHC) xảy ra tại 61/63 tỉnh; 46/63 tỉnh có người dân, tổ chức phản ánh bị công chức gây phiền hà, sách nhiễu và 22/63 tỉnh có phản ánh phải trả thêm tiền ngoài phí/lệ phí trong quá trình giao dịch dịch vụ công; 57/63 tỉnh xảy ra tình trạng trễ hẹn trả kết quả dịch vụ, trong đó, chỉ có 4/57 tỉnh thực hiện thông báo cho người dân, tổ chức về việc trễ hẹn và 4/57 tỉnh đã thực hiện xin lỗi. Hai nội dung mà người dân, tổ chức mong đợi các cơ quan hành chính nhà nước cải thiện nhiều nhất là: Tiếp tục đơn giản hóa TTHC (54,02%), rút ngắn thời gian giải quyết TTHC (51,89%).

Tỉnh ủy Nghệ An đã thành lập một số đoàn công tác nhằm giám sát, kiểm tra, khắc phục, xử lý thực trạng nêu trên. Tại một số bộ, ngành, địa phương, vẫn tồn tại tình trạng chậm công bố, công khai và cập nhật TTHC. Thậm chí, một số địa phương còn công khai các TTHC, mẫu đơn, tờ khai tại văn bản đã hết hiệu lực thi hành, ít nhiều gây khó khăn cho người dân, doanh nghiệp khi tra cứu tìm hiểu hoặc thực hiện TTHC. Một số nơi chưa thực hiện tốt việc công khai kết quả giải quyết hồ sơ TTHC trên các trang thông tin điện tử; tình trạng trễ hẹn trong giải quyết hồ sơ vẫn tồn tại ở ba cấp chính quyền tại nhiều địa phương và kéo dài nhiều năm, nhất là các lĩnh vực đất đai, xây dựng, chính sách đối với người có công...

Cũng theo SIPAS 2021: Người dân, tổ chức hiện nay chủ yếu sử dụng hình thức tiếp cận thông tin qua công chức (hơn 60%), ít và rất ít người dân, tổ chức tiếp cận thông tin qua tài liệu niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan (18,54%), qua mạng internet (chưa tới 10%).

Một thực trạng chung ở nhiều địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi, đó là nhiều người dân không sử dụng điện thoại thông minh, hoặc có dùng nhưng không thông thạo, không biết sử dụng các chức năng, phần mềm kết nối vì vậy việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho người dân đang gặp những khó khăn không nhỏ. Đáng chú ý, việc phụ thuộc vào công chức để tiếp cận thông tin về dịch vụ cho thấy người dân, tổ chức chưa có thói quen chủ động tìm hiểu, nắm bắt thông tin và việc phụ thuộc quá nhiều vào công chức sẽ gây quá tải công việc cho công chức, tạo cơ hội cho sự phiền hà, sách nhiễu, tiêu cực của công chức trong quá trình cung ứng dịch vụ công. Việc ít sử dụng hình thức tiếp cận thông tin qua internet cho thấy người dân, tổ chức chưa có thói quen sử dụng thiết bị điện tử, máy tính, không có khả năng tiếp cận máy tính, mạng internet, không biết sử dụng máy tính... Việc giao dịch dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, cấp độ 4 càng trở nên khó khăn.

Các cơ quan xây dựng chính sách và các cơ quan cung ứng dịch vụ công, dịch vụ công trực tuyến cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề này để có giải pháp phù hợp, bảo đảm hiệu quả tốt khi triển khai các chương trình, kế hoạch xây dựng Chính phủ điện tử hướng đến Chính phủ số, chính quyền điện tử hướng đến chính quyền số. Giải quyết được điểm nghẽn này sẽ có thể thay đổi phương thức hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước theo hướng công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho người dân theo dõi, giám sát, người dân, tổ chức có thêm nhiều cơ hội thực hiện các giao dịch điện tử với cơ quan nhà nước, nhất là trong giải quyết TTHC.

Trao đổi ý kiến với các đồng chí lãnh đạo bộ, ngành ở Trung ương, lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước, các đồng chí cho rằng: Chủ trương, định hướng đúng, phù hợp, nhưng kết quả CCHC lại phụ thuộc rất lớn vào khâu tổ chức thực hiện, nhất là ý thức, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp thực thi công vụ. Các chỉ thị, nghị quyết, chương trình, kế hoạch có được thực hiện sáng tạo, hiệu quả hay chỉ là sự sao chép một cách rập khuôn máy móc, không phù hợp thực tiễn, đều phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ này. CCHC là yêu cầu khách quan của thực tiễn, nhưng nếu mải "chạy" theo thành tích CCHC mà không chú ý đến sự phù hợp thực tiễn, nêu cao trách nhiệm công vụ vì lợi ích nhân dân thì dễ khiến cán bộ, công chức vô tình trở thành người tắc trách với công việc được giao vì suy nghĩ "làm càng nhanh càng tốt", "làm cho xong việc".

Một số ý kiến nhấn mạnh: Tại mỗi cơ quan, đơn vị, cần thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động cung ứng dịch vụ công; kịp thời khen thưởng công chức làm tốt; nhắc nhở, hướng dẫn công chức làm chưa tốt và kỷ luật nghiêm minh người vi phạm. Có chính sách phù hợp đào tạo, bồi dưỡng công chức trong thực thi nhiệm vụ, đặc biệt là các nhiệm vụ xây dựng chính sách, cung cấp thông tin, cung ứng dịch vụ công cho người dân, tổ chức, bảo đảm ngày càng đáp ứng nhu cầu, mong đợi của người dân, tổ chức tốt hơn, mang lại niềm tin và sự hài lòng cho họ.

Các đơn vị cần xây dựng văn hóa, đạo đức công vụ trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo hướng lấy người dân, tổ chức làm trung tâm phục vụ, bảo đảm mỗi công chức đều có tư duy, phương pháp làm việc, hành động thấm nhuần các yêu cầu đó và thể hiện rõ nét trong thực thi nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần tăng cường sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức chính trị-xã hội, người dân, doanh nghiệp trong việc giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của các cơ quan hành chính, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Trong quá trình tìm hiểu thực tế, chúng tôi nhận thấy: Tại không ít cơ quan, đơn vị, người đứng đầu chưa thật sự đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ CCHC; chưa thường xuyên theo dõi, đánh giá, quán triệt việc thực hiện CCHC để kịp thời phát hiện và chỉ đạo xử lý những vướng mắc, hạn chế trong quá trình triển khai và phối hợp. Có những vướng mắc trong giải quyết TTHC cho người dân, doanh nghiệp mà bản thân địa phương hay các Chi cục Hải quan không thể giải quyết được bởi sự chồng chéo, chưa rõ ràng nằm ngay trong các văn bản hướng dẫn của bộ chức năng.

Tại Nghệ An, có Thông tư hướng dẫn về thi hành Luật Hộ tịch, có từ năm 2020 nhưng đến nay sau 2 năm vẫn chưa triển khai được do cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan chức năng địa phương. Ngoài ra, có những quy định liên quan việc cấp bản sao Giấy khai sinh cho người dân của cơ quan chức năng còn đi ngược với tinh thần CCHC của Chính phủ, gây tốn kém cho nhân dân, lãng phí nguồn lực xã hội. Trong hoạt động của ngành hải quan, có những mặt hàng cùng lúc chịu sự chi phối, kiểm tra của 2 bộ, ngành với các quy định khác nhau. Điều đó dẫn đến những khó khăn, vướng mắc trong thực tế và chỉ được giải quyết khi các bộ, ngành nâng cao trách nhiệm, cùng trao đổi, thống nhất lại.

Công tác tự kiểm tra nội bộ của một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa tốt, nhất là đối với việc giải quyết hồ sơ TTHC liên quan người dân, doanh nghiệp. UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường cán bộ đi cơ sở để nắm bắt tình hình, ghi nhận ý kiến của người dân. Tỉnh tạo nhiều kênh tiếp nhận thông tin phản ánh của người dân để giải quyết, chấn chỉnh kịp thời và xem kết quả các chỉ số về CCHC là thước đo đánh giá hiệu quả chỉ đạo, điều hành, đồng thời phân tích, đánh giá các chỉ số để tìm ra hạn chế và có biện pháp khắc phục.

Các chuyên gia của Bộ Nội vụ cho rằng, vừa qua, khi nghiên cứu các chỉ số CCHC cho thấy, các chỉ số mong đợi mang đến điểm mới trong tư duy: Nội dung mà người dân, tổ chức mong muốn chính quyền, cơ quan hành chính nhà nước cải thiện nhiều nhất (TTHC) không phải là nội dung nhận được mức độ hài lòng thấp nhất (việc tiếp nhận, xử lý ý kiến góp ý, phản ánh, kiến nghị).

Do vậy, để thiết kế, cung ứng dịch vụ công chất lượng tốt theo hướng lấy người dân làm trung tâm thì chính quyền cần phải quan tâm đến các chỉ số mong đợi của người dân, tổ chức thay vì chỉ quan tâm tới chỉ số hài lòng. Dịch vụ công có chất lượng tốt phải đáp ứng được nhu cầu, mong đợi và mang lại sự hài lòng cho người dân, tổ chức. Các cơ quan hữu quan cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện bộ chỉ số theo dõi, đánh giá kết quả CCHC; đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đánh giá, xác định chỉ số CCHC hằng năm của các cơ quan hành chính theo hướng toàn diện, đa chiều, công khai, minh bạch, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong đánh giá.

Kết quả đo lường chỉ số đánh giá mức độ hài lòng, sự mong đợi của người dân, tổ chức có nhiều ý nghĩa quan trọng. Bởi vì, với công cụ này, người dân, tổ chức đã thực hiện vai trò làm chủ, tham gia vào quá trình xây dựng chính sách và thiết kế dịch vụ công. Cơ quan hành chính nhà nước cần thường xuyên khảo sát sự hài lòng của người dân, tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau, trên các nội dung quản lý nhà nước khác nhau. Cần đặc biệt chú trọng các khía cạnh, nội dung mà người dân, tổ chức đánh giá chưa tích cực, mức độ hài lòng thấp và các nội dung được nhiều người mong đợi cải thiện để đánh giá, xác định nguyên nhân chủ quan, khách quan của các tồn tại; xây dựng, thực hiện kế hoạch hành động, giải pháp khắc phục. (Nhandan.vn 12/8, Nhóm PV)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 11.999.182 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này