Bản tin cải cách hành chính ngày 15/8/2022

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.        Chủ tịch UBND TPHCM: Tìm giải pháp, không tìm giải thích

2.        TPHCM đẩy nhanh xây dựng chính quyền số

3.        Bình Phước: Sáp nhập Tổ công nghệ số cộng đồng và Tổ công tác triển khai Đề án 06

4.        An Giang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

5.        Cần hoàn thiện hệ thống, đơn giản thao tác để tạo thuận lợi cho người dân

6.        Sớm triển khai chỉ số năng lực cạnh tranh logistics cấp tỉnh

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

7.        Ban hành quy định về quản lý biên chế của hệ thống chính trị

8.        Địa phương cần xác định lại số tiết kiệm 10% để cải cách tiền lương

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

9.        Bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài, để đi học không thành đi shopping

10.     Tinh giản chứ không phải giảm đều

11.     Phải nghĩ thật, nói thật, làm thật

THẾ GIỚI

12.     Ứng dụng công nghệ blockchain tại Thụy Sĩ: Cung cấp khuôn khổ pháp lý đáng tin cậy

 

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Chủ tịch UBND TPHCM: Tìm giải pháp, không tìm giải thích

Theo Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Phan Văn Mãi, thành phố đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong công tác cải cách hành chính. Tuy nhiên, để làm tốt hơn công tác hiện đại hóa nền hành chính và cải cách tài chính công, TP. Hồ Chí Minh cần nỗ lực hơn nữa; tập trung khắc phục, cải thiện với tinh thần tìm giải pháp và hành động để đạt được kết quả, không tìm cách giải thích.

Trong quý I.2022, TP. Hồ Chí Minh đã giải quyết hơn 5,2 triệu hồ sơ, trong đó hồ sơ đúng hạn chiếm tỷ lệ 99,87% và 7.149 hồ sơ quá hạn (chiếm tỷ lệ 0,13%). Tỷ lệ hồ sơ giải quyết đúng hạn tăng 0,13% so với cùng kỳ quý I.2021 (chiếm tỷ lệ 99,74%). Số lượng hồ sơ được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 là 797.662 hồ sơ tăng so với cùng kỳ quý I.2021 (có 674.042 hồ sơ).

Giám đốc Sở Nội vụ TP. Hồ Chí Minh Huỳnh Thành Nhân cho biết, kết quả chỉ số cải cách hành chính năm 2021 do Bộ Nội vụ công bố, thành phố đạt 86,05%, xếp vị trí 43/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, giảm 20 bậc nhưng tăng giá trị chỉ số 1,35% so với kết quả năm 2020, dưới mức điểm trung bình chung của cả nước là 86,37%. Trong khi đó, chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2021 (SIPAS 2021) của TP. Hồ Chí Minh 86,69%, nằm trong nhóm các tỉnh, thành phố có mức hài lòng thuộc loại trung bình thấp.

Nguyên nhân được đưa ra là do chưa thực hiện công khai tiến độ, kết quả giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính cấp xã trên Cổng thông tin điện tử, Cổng Dịch vụ công TP. Hồ Chí Minh; kết quả tiếp nhận trong năm được giải quyết đúng hạn tại các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh và do UBND cấp huyện, cấp xã giải quyết còn có hồ sơ chậm; chậm xử lý phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức đối với thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết…

Ngoài ra, dù Văn phòng Chính phủ, Chính phủ đã yêu cầu các địa phương xây dựng hệ thống đồng bộ Cổng thông tin điện tử một cửa với Cổng thông tin quốc gia, để Thủ tướng theo dõi việc giải quyết thủ tục hành chính tại các đơn vị trên cả nước. Song, hiện nay thành phố thực hiện chậm và manh mún. Theo báo cáo, 6 tháng đầu năm, thành phố đã tiếp nhận và giải quyết khoảng 5,3 triệu hồ sơ, nhưng hiện trên hệ thống mà Thủ tướng theo dõi chỉ hơn 11.000 hồ sơ. Như vậy, các hồ sơ còn lại là báo cáo giấy.

Tại Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính 6 tháng đầu năm 2022 và phân tích, đánh giá các chỉ số liên quan công tác cải cách hành chính năm 2021 do UBND TP. Hồ Chí Minh tổ chức mới đây, Chủ tịch Phan Văn Mãi đánh giá, trong năm 2021 và 6 tháng đầu năm 2022, thành phố đã có rất nhiều nỗ lực và mang lại những kết quả đáng ghi nhận trong công tác cải cách hành chính. Tuy nhiên, công tác cải cách hành chính của thành phố cần phải nỗ lực nhiều hơn nếu so với yêu cầu phát triển của thành phố cũng như so với mong mỏi của người dân, doanh nghiệp và với các tỉnh, thành bạn trong cả nước.

Nhấn mạnh, “tìm giải pháp, không tìm giải thích”, Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh yêu cầu, các đơn vị cần tập trung khắc phục, cải thiện với tinh thần tìm giải pháp và hành động để đạt được kết quả. Các sở, ngành phải nhìn thẳng vào thực tế, phải tự soi vào hoạt động cơ quan mình, thấy điểm hợp lý thì cầu thị, tiếp thu với tinh thần “sửa để tốt hơn”.

Theo đó, để làm tốt hơn công tác hiện đại hóa nền hành chính và cải cách tài chính công, TP. Hồ Chí Minh phải chuẩn bị thật kỹ việc xây dựng hệ thống thông tin điện tử. Đồng thời, các cơ quan đơn vị cấp thành phố đến cơ sở tập trung triển khai tốt các giải pháp, nhiệm vụ trọng tâm trong công tác cải cách hành chính. Xác định những nội dung cần tập trung để có những giải pháp, phân công rõ ràng và đề ra tiến độ cụ thể; kiểm tra, đôn đốc thường xuyên để đến cuối năm 2022 hướng đến cải thiện chỉ số cải cách hành chính.

Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, trưởng các cơ quan đơn vị từ cấp thành phố đến cấp phường xã, thị trấn phải quan tâm việc giải quyết các thủ tục hành chính, giải quyết các ý kiến, kiến nghị đơn thư của người dân và tổ chức gặp gỡ đối thoại với người dân, doanh nghiệp cho thật tốt. Còn các sở ngành cần rà soát, kiểm tra, đôn đốc, đánh giá và qua đó xác định những bất cập để đề xuất tháo gỡ; cũng như tập trung nhiệm vụ có liên quan đến cải cách hành chính. (Đại biểu nhân dân 15/8, Nhật Phương)Về đầu trang

TPHCM đẩy nhanh xây dựng chính quyền số

Đề án 06 của Chính phủ được triển khai trong bối cảnh TPHCM quyết tâm thực hiện chương trình chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh, đưa vào vận hành kho dữ liệu dùng chung.

Sau hơn 6 tháng triển khai Đề án 06, TPHCM đã có những kết quả bước đầu, trong đó đáng chú ý là việc TPHCM chuẩn bị triển khai hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thống nhất của TPHCM. Dự kiến, hệ thống sẽ hoàn thành trong tháng 10-2022. Việc này nhằm nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và thực hiện Đề án 06. Hệ thống hoạt động với nguyên tắc không yêu cầu người dân khai báo lại các thông tin đã có trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Mỗi người dân chỉ dùng một tài khoản định danh thống nhất để sử dụng các dịch vụ công trực tuyến.

Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính thống nhất của TPHCM sẽ cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 với thủ tục hành chính đủ điều kiện. Trong đó có 403 dịch vụ công trực tuyến  mức độ 3, mức độ 4 đủ điều kiện của TPHCM; 25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06.

Với hệ thống này, TPHCM đảm bảo 100% thủ tục hành chính (1.733 thủ tục) sẽ được thiết lập trên một cửa điện tử, để sở, ban ngành, quận, huyện, TP Thủ Đức, phường, xã, thị trấn tiếp nhận và xử lý hồ sơ của người dân. Phó Chủ tịch UBND TPHCM Dương Anh Đức cho biết, việc triển khai hệ thống này vừa thực hiện nhiệm vụ chính trị theo Đề án 06 vừa là nhiệm vụ hàng đầu để nâng cao chất lượng cải cách hành chính, gắn với chuyển đổi số, xây dựng chính phủ số, chính quyền số của UBND TPHCM.

Liên quan đến việc triển khai 25 dịch vụ công thiết yếu theo Đề án 06, TPHCM cũng đang tích cực triển khai các công việc liên quan. Với các thủ tục như đăng ký khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn, chỉ riêng thủ tục đăng ký kết hôn không thực hiện qua cổng dịch vụ công, các dịch vụ còn lại sẽ thực hiện trực tuyến mức độ 3.

Một nội dung rất được người dân quan tâm thời gian qua là việc dùng thẻ căn cước công dân (CCCD) có gắn chip để khám chữa bệnh. Hiện nay, do hệ thống chưa được liên thông đồng bộ nên đa số thẻ CCCD chưa tích hợp thông tin bảo hiểm y tế của bệnh nhân.

Bên cạnh đó, hệ thống chỉ có thông tin bảo hiểm y tế của người dân chuyển đổi từ CCCD thường qua CCCD gắn chip. Còn với trường hợp chuyển từ chứng minh nhân dân qua CCCD gắn chip, hiện vẫn chưa có thông tin trên cổng thông tin. Các bệnh viện cũng chưa chuẩn bị đủ các thiết bị cần thiết và cập nhật hệ thống phần mềm bệnh viện để truy cập được thông tin trên thẻ CCCD gắn chip. Do vậy, việc dùng thẻ này để khám chữa bệnh còn khó khăn.

Ngoài ra, thực tiễn thực hiện Đề án 06 cũng phát sinh một số trở ngại. Chẳng hạn, việc đăng ký tài khoản sử dụng dịch vụ công hiện nay yêu cầu người đăng ký phải sử dụng sim điện thoại là thuê bao chính chủ. Trong khi đó, hiện nay nhiều người dân vẫn dùng thuê bao không chính chủ, dẫn đến hạn chế đăng ký tài khoản dịch vụ công.

Tại nhiều sở, ngành, hệ thống tiếp nhận, giải quyết hồ sơ hành chính một cửa chưa được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Vì thế, nhiều đơn vị chưa có dữ liệu để điền thông tin vào biểu mẫu điện tử. Bên cạnh đó, đường truyền hiện chưa ổn định, thường bị gián đoạn, mất kết nối, trong khi chưa có cơ quan chuyên môn để xử lý kỹ thuật. Do vậy, khi gặp trục trặc, các cơ quan thường mất nhiều thời gian khắc phục, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dịch vụ công trực tuyến. (Sggp.org.vn 15/8, Khánh Châu)Về đầu trang

Bình Phước: Sáp nhập Tổ công nghệ số cộng đồng và Tổ công tác triển khai Đề án 06

UBND tỉnh Bình Phước vừa ban hành Công văn số 2134/UBND-KGVX về việc sáp nhập Tổ công nghệ số cộng đồng và Tổ công tác triển khai Đề án 06 của Chính phủ (Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030).

UBND tỉnh yêu cầu UBND các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn thống nhất tên gọi: Tổ công nghệ số cộng đồng và Tổ công tác triển khai Đề án 06/CP. Trong đó, quy định cụ thể về thành phần Tổ Công nghệ số cộng đồng và Đề án 06. Đối với cấp xã, chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn là tổ trưởng; trưởng/phó Công an cấp xã là tổ phó; các thành viên gồm: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bí thư Đoàn thanh niên, chủ tịch Hội Nông dân, các công chức: văn phòng thống kê, tư pháp, địa chính, văn hóa - xã hội, giáo viên, nhân viên các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông… trên địa bàn xã có kỹ năng sử dụng và tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng công nghệ số.

Đối với thôn, ấp, khu phố, bí thư Chi bộ là tổ trưởng, bí thư Đoàn thanh niên là tổ phó. Các thành viên gồm: Chi hội trưởng Chi hội Phụ nữ, trưởng ban công tác Mặt trận thôn, ấp, khu phố; giáo viên, nhân viên các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông… trên địa bàn thôn, ấp, khu phố có kỹ năng sử dụng và tuyên truyền, hướng dẫn, hỗ trợ người dân sử dụng công nghệ số.

Trước đó, UBND tỉnh này đã ban hành Công văn 1231/UBND-KGVX về triển khai Tổ công nghệ số cộng đồng trên địa bàn tỉnh. Theo đó, Tổ công nghệ số cộng đồng do UBND cấp xã quyết định thành lập. Mỗi xã sẽ thành lập 1 Tổ công nghệ số cộng đồng; mỗi thôn, ấp, khu phố thành lập 1 Tổ công nghệ số cộng đồng với những thành viên có kỹ năng sử dụng nền tảng số, công nghệ số, có khả năng tuyên truyền, hướng dẫn để hỗ trợ người dân sử dụng công nghệ số.

Tổ công nghệ số cộng đồng có nhiệm vụ là cầu nối của chính quyền địa phương để thông tin tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác chuyển đổi số đến nhân dân; trực tiếp hỗ trợ, hướng dẫn người dân sử dụng các ứng dụng công nghệ thông minh, thương mại điện tử, dịch vụ hành chính công; tham gia thực hiện chuyển đổi số trong từng lĩnh vực của đời sống, từ đó cùng chính quyền xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số, xã hội số tại thôn, ấp, khu phố. (Daibieunhandan.vn 14/8, Nguyễn Minh)Về đầu trang

An Giang đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia

Đề án “Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06) là đề án cụ thể hóa công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Thực hiện Đề án 06 để tổ chức các dịch vụ công phục vụ nhân dân thông qua môi trường số. Qua đó, chuyển từ thói quen thực hiện các dịch vụ công dùng giấy tờ, đến trụ sở cơ quan nhà nước, sang giao dịch trên môi trường số, giải quyết các dịch vụ, thủ tục bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu.

Theo Chủ tịch UBND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình, thực hiện Đề án 06, thời gian qua, sở, ban, ngành, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh đã triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nội dung, nhiệm vụ thuộc Đề án 06 tại đơn vị, địa phương. Lực lượng công an các cấp phát huy tốt vai trò thường trực trong công tác tham mưu triển khai thực hiện đề án. Đến nay, về cơ bản đã hoàn thành các nhóm nhiệm vụ theo đúng lộ trình, tiến độ đã đề ra; ý thức, tinh thần trách nhiệm trong triển khai thực hiện đề án của các cấp, ngành và chính quyền địa phương được nâng lên, bước đầu tạo được sự đồng thuận của người dân, doanh nghiệp (DN).

Những tháng đầu năm 2022, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) tỉnh đã cung cấp 2.072 dịch vụ hành chính công; trong đó, số lượng dịch vụ công mức độ 3 là 511 dịch vụ, mức độ 4 là 935 dịch vụ, tỷ lệ giải quyết hồ sơ trước hạn và đúng hạn là 99%. Đã thực hiện kết nối, đồng bộ với Cổng dịch vụ công quốc gia, thực hiện kiểm thử và công khai các dịch vụ công trực tuyến được triển khai trên hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh trên Cổng dịch vụ công quốc gia (đến ngày 10/6/2022 đã tích hợp 1.880 dịch vụ); kết nối với hệ thống thu thập, đánh giá việc sử dụng thông tin và dịch vụ công trực tuyến (hệ thống EMC) của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Đã triển khai thanh toán phí, lệ phí dịch vụ công trực tuyến trên hệ thống thông tin giải quyết TTHC của tỉnh thông qua Ngân hàng VietinBank; kết nối, tích hợp dùng chung hệ thống thanh toán trực tuyến payment platform của Cổng dịch vụ công quốc gia, tạo e-form điện tử và triển khai kết nối, tích hợp chữ ký số để phục vụ giải quyết TTHC trên môi trường điện tử, tạo thuận lợi cho người dân, DN khi thực hiện giải quyết TTHC trực tuyến. Cập nhật tính năng xác thực văn bản điện tử đã được ký số nhằm đảm bảo tính toàn vẹn của văn bản điện tử khi người dân, DN thực hiện nộp hồ sơ trực tuyến trên Cổng dịch vụ công tỉnh.

An Giang đã triển khai 8/25 dịch vụ công thiết yếu, gồm: Đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn; triển khai nhóm TTHC liên thông đăng ký khai sinh - đăng ký thường trú - cấp thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) cho trẻ em dưới 6 tuổi; đăng ký biến động về quyền sử dụng đất do thay đổi thông tin người được cấp giấy chứng nhận (đổi giấy tờ pháp nhân, địa chỉ); đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT quốc gia và xét tuyển đại học, cao đẳng; cấp phiếu lý lịch tư pháp; giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Tất cả các phường, xã trên địa bàn tỉnh đã thực hiện liên thông dữ liệu đăng ký khai sinh, cấp thẻ BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi. 100% hồ sơ cấp thẻ BHYT cho trẻ dưới 6 tuổi liên thông với đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú. Công an các cấp tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để đảm bảo thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được “đúng, đủ, sạch, sống”, phục vụ kết nối, chia sẻ dữ liệu với bộ, ngành, địa phương; đẩy nhanh tiến độ thu nhận hồ sơ cấp căn cước công dân (CCCD) và định danh điện tử cho công dân trong độ tuổi trên địa bàn tỉnh. (Baoangiang.com.vn 15/8, Thu Thảo)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cần hoàn thiện hệ thống, đơn giản thao tác để tạo thuận lợi cho người dân

Khoản 3, Điều 10 Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 8.4.2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Điều 20, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16.2.2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định: khi có yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, người yêu cầu phải xuất trình bản chính để người thực hiện chứng thực kiểm tra trước khi giải quyết yêu cầu chứng thực. Người yêu cầu chứng thực chỉ đến cơ quan thực hiện chứng thực 1 lần để xuất trình bản chính và nộp phí chứng thực.

Tuy vậy, phản ánh của nhiều địa phương cho thấy, việc cấp bản sao chứng thực điện tử từ bản chính còn nhiều bất cập do Cổng dịch vụ công quốc gia chưa hoàn thiện hết các tính năng như: chưa có tính năng đính kèm file scan, chưa hướng dẫn thủ tục đóng phí, nhiều thao tác rườm rà, mất thời gian cho người dân và công chức thực hiện. Đặc biệt, phần mềm chữ ký số thường xuyên bị lỗi và có sự xung đột giữa phần mềm chữ ký số (cụ thể là phần mềm VNPT-CA Plugin - tích hợp ký số cho các hệ thống ứng dụng trên nền web) với phần mềm hỗ trợ ký số văn bản của địa phương.

Thực tế, phần mềm thực hiện chứng thực bản sao điện tử từ bản chính do Văn phòng Chính phủ chủ trì xây dựng và đã có hướng dẫn về quy trình nghiệp vụ (tại Công văn số 5438/VPCP-KSTT ngày 6.7.2020 gửi Chủ tịch UBND các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương). Công văn này nêu rõ, việc sử dụng thiết bị chứng thư số được cấp cho UBND tỉnh hoặc cơ quan được UBND tỉnh ủy quyền quản lý tài khoản quản trị chung của tỉnh (tài khoản quản trị cấp cao) để đăng ký tài khoản cơ quan nhà nước trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và thông báo cho Văn phòng Chính phủ để được cấp quyền quản trị này. Tuy nhiên, tại các địa phương trước đó đã áp dụng các phần mềm khác do các công ty triển khai thực hiện, chẳng hạn phần mềm chữ ký số Misa Esign; chữ ký số Viettel-CA; chữ ký số VNPT-CA; chữ ký số Bkav-CA... Các phần mềm này lại "vênh" với phần mềm của Văn phòng Chính phủ chủ trì xây dựng, mặc dù đã có văn bản hướng dẫn nghiệp vụ song vẫn chưa tháo gỡ được.

Từ thực tế này, các ngành chức năng sớm có giải pháp giải quyết xung đột giữa phần mềm chữ ký số (phần mềm VNPT-CA Plugin) với phần mềm hỗ trợ ký số văn bản của địa phương, không nên dừng lại ở việc các địa phương nêu vướng mắc thì được trả lời "đề nghị UBND tỉnh chỉ đạo Sở Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, đề xuất giải quyết". Đồng thời, bổ sung tính năng scan, đính kèm hồ sơ; tinh giản các thao tác, nhất là những thao tác thiên về kỹ thuật; hướng dẫn cụ thể thao tác nộp hồ sơ trên Cổng dịch vụ công quốc gia để người dân và công chức thực hiện thủ tục thuận tiện. Đây chính là giải pháp góp phần nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, hiện đang rất thấp. Đến hết tháng 5.2022, tính trung bình trên cả nước, tỉ lệ dịch vụ công trực tuyến phát sinh hồ sơ mới đạt khoảng 30%, tỉ lệ hồ sơ được xử lý trực tuyến mới đạt khoảng 32%. (Daibieunhandan.vn 15/8, Phạm Hải)Về đầu trang

Sớm triển khai chỉ số năng lực cạnh tranh logistics cấp tỉnh

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) cho biết, cùng với các ngành chức năng, cộng đồng doanh nghiệp logistics Việt Nam đang nỗ lực không ngừng để hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ. Đồng thời, tiến tới thực hiện việc xếp hạng, đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ logistics và doanh nghiệp dịch vụ logistics.

Đây là sáng kiến và do VLA chủ trì, tổ chức thực hiện với sự tham gia của các đơn vị nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Viện Nghiên cứu và Phát triển Logistics Việt Nam (VLI) và Dream Incubator (DI). Qua đó, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điều tra các doanh nghiệp, chuyên gia, cơ quan quản lý Nhà nước... để đo lường và đánh giá tốc độ phát triển, chất lượng, cơ sở hạ tầng, chính sách của chính quyền các tỉnh, thành phố tại Việt Nam về ngành kinh doanh dịch vụ logistics Việt Nam.

Chỉ số năng lực cạnh tranh logistics cấp tỉnh (LCI) được đánh giá sẽ trở thành công cụ hữu dụng và là bước đi quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu phát triển ngành dịch vụ logistics Việt Nam theo tinh thần “Chuyển đổi số, Đổi mới, Sáng tạo” mà Đại hội nhiệm kỳ VIII (2021 - 2024) VLA đề ra.

Đại diện nhóm nghiên cứu, bà Lê Thanh Hà (Ban Pháp chế VCCI) cho rằng, LCI là chỉ số chuyên biệt cho một lĩnh vực kinh tế quan trọng như logistisc. Qua quá trình nghiên cứu và triển khai rất nhiều chỉ số tổng hợp, cho phép đo lường nhiều vấn đề lớn của nền kinh tế Việt Nam như: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS), chỉ số hiệu quả quản trị và tành chính công cấp tỉnh (PAPI), chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) hay chỉ số năng lực cạnh tranh cấp huyện, thị và sở, ngành (DDCI). 

LCI sẽ cho biết thứ bậc, vị trí của từng đơn vị, cấp, ngành hay các địa phương đang ở đâu, điểm nào yếu hay mạnh, giúp các nhà lãnh đạo có cái nhìn tổng thể từ lượng lớn thông tin của ngành. Đồng thời, các chỉ số này cũng giúp đơn giản hóa việc nắm bắt thông tin và truyền thông, qua đó cho thấy sự thay đổi, tiến triển của hiện tượng hay vấn đề của địa phương để thuận tiện so sánh với các địa phương hay quốc gia khác.

Chủ tịch VLA Lê Duy Hiệp cho biết thêm, LCI sẽ đem đến bức tranh chung về ngành kinh doanh dịch vụ logistics tại các tỉnh, thành phố, từ đó giúp hoạch định các chính sách nhằm phát triển ngành này tại các địa phương trong cả nước. Chỉ số LCI sẽ tìm hiểu và lý giải vì sao có sự khác biệt, chênh lệch giữa các tỉnh, thành phố trong phát triển logistics phục vụ kinh doanh, xuất nhập khẩu. Do vậy, những đánh giá từ kết quả chỉ số LCI có những tác động và đóng góp quan trọng cho các địa phương cũng như cộng đồng doanh nghiệp.

LCI sẽ được sử dụng để tham gia phản biện chính sách với chính quyền địa phương, giúp cải thiện, phát triển ngành dịch vụ logistics phục vụ kinh doanh. Các nhà hoạch định chính sách có thể tham khảo các chỉ tiêu của LCI làm tiêu chí đánh giá cho nhiều chính sách cải cách kinh tế.

Về lâu dài, chỉ số này góp phần tác động cắt giảm chi phí logistics và hỗ trợ phát triển sản xuất, xuất khẩu. Ngoài ra, LCI còn tạo dựng hình ảnh và uy tín cho các địa phương cũng như Việt Nam trong việc tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi. Đồng thời, các địa phương có thể tham khảo, học tập kinh nghiệm từ những nơi khác để áp dụng tại địa phương mình, ông Hiệp nêu rõ. (TTXVN/Bnews.vn 13/8, Ngọc Quỳnh)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Ban hành quy định về quản lý biên chế của hệ thống chính trị

Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Quy định 70-QĐ/TW về quản lý biên chế của hệ thống chính trị, trong đó, đưa ra 4 nguyên tắc quản lý biên chế của hệ thống chính trị.

Cụ thể, tại Điều 2, Quy định 70-QĐ/TW, nguyên tắc quản lý biên chế của hệ thống được quy định rõ như sau:

Bộ Chính trị lãnh đạo, chỉ đạo quản lý biên chế trong hệ thống chính trị; Các cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức thực hiện trách nhiệm quản lý biên chế theo quy định.

Tổng biên chế của hệ thống chính trị được quyết định theo nhiệm kỳ 5 năm và khi cần thiết.

Giao chỉ tiêu biên chế do cấp có thẩm quyền quyết định phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách hành chính, cải cách chính sách tiền lương.

Tăng cường phân cấp, phân quyền, nêu cao trách nhiệm của cấp uỷ, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu trong công tác quản lý, sử dụng biên chế;

Chỉ thực hiện tăng chỉ tiêu biên chế khi được cấp có thẩm quyền quyết định thành lập tổ chức mới, bổ sung chức năng, nhiệm vụ.

Quy định 70-QĐ/TW có hiệu lực kể từ ngày ký (18/7/2022) và thay thế Quyết định 253-QĐ/TW năm 2014. (Baoquocte.vn 15/8)Về đầu trang

Địa phương cần xác định lại số tiết kiệm 10% để cải cách tiền lương

Theo Thông tư số 47/2022/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn xây dựng dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2023, kế hoạch tài chính - NSNN 3 năm 2023-2025, địa phương cần xác định lại số tiết kiệm 10% chi thường xuyên để cải cách tiền lương.

Đối với nguồn thu xổ số kiến thiết, các địa phương dự toán sát nguồn thu xổ số kiến thiết (bao gồm cả số thu được phân chia từ hoạt động xổ số điện toán) và tiếp tục sử dụng toàn bộ nguồn thu từ xổ số kiến thiết cho đầu tư phát triển (ĐTPT).

Trong đó ưu tiên để đầu tư cho lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề (bao gồm cả đầu tư mua sắm thiết bị dạy học phục vụ chương trình đổi mới sách giáo khoa giáo dục phổ thông) và lĩnh vực y tế; phần còn lại ưu tiên chi thực hiện các công trình, dự án đầu tư phòng chống thiên tai, chống biến đổi khí hậu, nông thôn mới và các nhiệm vụ đầu tư quan trọng khác thuộc đối tượng đầu tư của ngân sách địa phương (NSĐP).

Đối với sử dụng tiền thu vé tham gia chơi casino, các địa phương được cơ quan có thẩm quyền thí điểm cho phép người Việt Nam chơi tại điểm kinh doanh casino, sử dụng nguồn thu từ tiền vé tham gia chơi tại điểm kinh doanh casino để chi ĐTPT cho các mục tiêu phúc lợi xã hội, phục vụ cộng đồng, đảm bảo an ninh, trật tự xã hội.

Trong đó bố trí tối thiểu 60% cho các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, dạy nghề và y tế theo quy định tại khoản 3 Điều 5 Thông tư số 102/2017/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều quy định tại Nghị định số 03/2017/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh casino. 

Ngoài ra, Bộ Tài chính lưu ý, NSĐP xác định lại số tiết kiệm 10% chi thường xuyên năm 2023 dành để thực hiện cải cách tiền lương theo quy định.

Kinh phí thực hiện chuẩn nghèo đa chiều theo phê duyệt của cấp thẩm quyền và nghị quyết của Chính phủ, chi tiết đối với từng loại chuẩn nghèo đa chiều, cụ thể số đối tượng, nhu cầu kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội năm 2023 theo tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025; kinh phí thực hiện một số chính sách khuyến khích, hỗ trợ khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa; kinh phí thực hiện chế độ chính sách an sinh xã hội do trung ương ban hành và có hiệu lực thi hành sau ngày 1/9/2021.

Chi trả nợ lãi, phí và chi phí khác: Xây dựng dự toán thành một mục chi riêng trong chi cân đối NSĐP, đảm bảo chi trả đầy đủ, kịp thời các khoản nợ đến hạn; kèm theo thuyết minh mức chi trả chi tiết theo từng nguồn vốn vay (nếu có), gồm: nguồn vay nước ngoài Chính phủ vay về cho địa phương vay lại, tín dụng phát triển, phát hành trái phiếu chính quyền địa phương. (Thoibaotaichinhvietnam.vn 14/8, Minh Anh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

Bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài, để đi học không thành đi shopping

Theo Kết luận số 39 mới đây, Bộ Chính trị dự kiến, từ nay đến 2025, mỗi năm sẽ cử đi nước ngoài bồi dưỡng khoảng 400 cán bộ; và khoảng 500 cán bộ mỗi năm cho giai đoạn 2026-2030.

Kế hoạch đào tạo này là sự tiếp nối Đề án 165, được Bộ Chính trị phê duyệt vào tháng 6/2008, nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước. Gần hai thập kỷ vừa qua, cử cán bộ đi nước ngoài học tập chính là một chính sách then chốt trong tiến trình hiện đại hóa công tác cán bộ ở nước ta.

Đào tạo cán bộ ở nước ngoài, đặc biệt là các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn với cán bộ lãnh đạo, quản lý là chủ trương đúng đắn. Những chuyến du học ngắn hạn sẽ giúp cán bộ các cấp trực tiếp tiếp xúc và trải nghiệm với thực tế quốc tế đa dạng. Những bài học thu được không chỉ là kiến thức lý luận, mà quan trọng hơn là những ví dụ thực tế mà mỗi học viên đã chứng kiến trong những bối cảnh khác nhau. Bản thân mỗi học viên sẽ có những suy ngẫm về cái hay, cái đúng, và khả năng áp dụng vào bối cảnh cụ thể ở trong nước.

Nhìn rộng ra, thành công của các quốc gia khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc… đều cho thấy dấu ấn từ sự du nhập và áp dụng những bài học canh tân đất nước. Với Nhật Bản, Singapore là vai trò chủ chốt của các nhà lãnh đạo, quản lý hành chính kỹ trị. Với Trung Quốc, Hàn Quốc thì giấc mơ luôn thường trực trong tâm trí các nhà lãnh đạo, quản lý là đưa đất nước thoát nghèo, trở nên hùng cường, sánh vai cùng các quốc gia lân bang và cạnh tranh trên trường quốc tế.

Bài học thành công từ các quốc gia trong khu vực là không giống nhau. Tuy nhiên, điểm chung trong sự phát triển của các nước Á châu từ cuối thế kỷ 19 đến nay chính là tinh thần tiếp thu cái mới, cái khác biệt, và áp dụng linh hoạt vào bối cảnh cụ thể ở nước mình. Ngược lại, tư tưởng và thái độ kỳ thị, thậm chí quay lưng với những cái mới, cái khác biệt tạo nên thành công ở nước khác thì sẽ dẫn đến sự trì trệ, chậm phát triển ở nước mình.

Nguyễn Văn Đáng - Tiến sĩ Quản trị công và Chính sách cho biết: Bản thân tôi là người đã từng trực tiếp hỗ trợ và phục vụ các đoàn cán bộ được cử đi bồi dưỡng ngắn hạn ở nước ngoài, trong đó có đoàn thuộc chương trình 165 đến Mỹ.

Điểm ấn tượng đầu tiên chính là tinh thần cầu thị, muốn khám phá và học hỏi cái mới của tất cả các thành viên trong mỗi đoàn. Ấn tượng thứ hai là sự coi trọng và tôn trọng từ phía đối tác trong việc chuẩn bị các điều kiện học tập để phục vụ các đoàn cán bộ, mà họ biết là đang và sẽ là những người có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của Việt Nam.

Tuy nhiên, sự đa dạng về thành phần tham gia các đoàn được cử đi cũng có ảnh hưởng nhất định đến chương trình và chất lượng khóa học. Thực tế trải nghiệm với những đoàn mà tôi đã phục vụ thì cán bộ có thể đến từ cơ quan trung ương hoặc địa phương, nhiều lĩnh vực khác nhau, không phân biệt giữa cán bộ chính trị (Đảng), cán bộ hoạch định và thực thi chính sách (Quốc hội, Chính phủ), hay cán bộ đoàn thể (Đoàn, hội).

Các đoàn cũng có sự chênh lệch đáng kể về độ tuổi, giới tính. Trong khi tỷ lệ nữ tham gia còn ít thì vẫn có những nam học viên được cử đi khi mà số năm công tác còn lại không nhiều, thậm chí không đến một nhiệm kỳ.

Sự đa dạng về thành viên của các đoàn được cử đi khiến công tác chuẩn bị nội dung và địa điểm học tập gặp nhiều thách thức. Thực tế, các giáo sư ở Mỹ cũng đã trao đổi với những người như chúng tôi về mối quan tâm của học viên và làm thế nào để có thể phục vụ hiệu quả nhất, chính xác nhất nhu cầu học tập của học viên.

Đây là câu hỏi rất khó trả lời thấu đáo. Do đó, các bài thuyết trình đều được chuẩn bị khá khái quát về các chủ đề lãnh đạo, quản lý chung chung. Các buổi đi thực tế cũng khó chọn điểm nhấn nên dễ trở thành các chuyến tham quan, dã ngoại vui vẻ nhưng ít thứ có thể học hỏi.

Với các chuyến bồi dưỡng ngắn và trung hạn, tâm lý người học nói chung đều thoải mái và không chịu áp lực như các chương trình đào tạo dài hạn trong các trường đại học. Bởi thế, tôi thấy học viên chủ yếu muốn được nghe, hỏi đáp, và có thảo luận. Tuy nhiên, những câu hỏi và ý kiến thảo luận đều rất mở, không thấy sự tập trung vào mối quan tâm nào cụ thể. Thực tế này rất có thể bắt nguồn từ những yêu cầu còn lỏng lẻo về báo cáo kết quả học tập cũng như các hình thức đánh giá chất lượng khóa học.

Tham quan, mua sắm là hoạt động không thể thiếu với những cán bộ được cử đi học ở nước ngoài, đặc biệt là các chuyến bồi dưỡng ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu không được tổ chức chặt chẽ cùng những quy định nghiêm khắc về đánh giá kết quả khóa học thì những đoàn cán bộ đi du học ngắn hạn rất dễ bị biến thành những đoàn lữ hành, ngao du phố phường, danh thắng, và mua sắm, còn nhiệm vụ học tập thì vui là chính.

Cần giảm thiểu sự đa dạng về thành viên để tạo bản sắc cho mỗi đoàn được cử đi học. Đó có thể là những đoàn chỉ gồm ủy viên Trung ương, quy hoạch ủy viên Trung ương, lãnh đạo, quản lý đương chức hoặc quy hoạch lãnh đạo, quản lý các cấp.

Các đoàn cũng nên tổ chức theo khối, chẳng hạn khối Đảng thì chú trọng các vấn đề lãnh đạo, khối Chính phủ và Quốc hội thì đặt trọng tâm là hoạch định và thực thi chính sách, và khối hội, đoàn thể thì quan tâm đến công tác vận động xã hội. Với mỗi khối thì cũng nên tổ chức các đoàn theo các chủ đề quan tâm nhất, ví dụ như công tác tổ chức Đảng cầm quyền, quy trình hoạch định và thực thi chính sách, hay các chủ đề chính sách cụ thể.

Bản sắc mỗi đoàn sẽ giúp các đối tác thuận lợi hơn trong việc tổ chức khóa học, bố cục các chuyên đề trình bày, lựa chọn địa điểm tham quan, và sự trao đổi, thảo luận của học viên cũng đạt chất lượng cao hơn. Khi nhu cầu học tập của học viên được đáp ứng chính xác thì họ sẽ có nhiều khả năng hơn để áp dụng các bài học vào thực tế làm việc tại cơ quan, đơn vị. Phía cơ quan tổ chức và quản lý các đoàn cũng dễ dàng hơn trong việc thiết kế các mục tiêu, nhiệm vụ, và hình thức đánh giá kết quả khóa học.

Cơ quan cử đoàn đi cũng cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về chương trình học, trao đổi chi tiết với phía đối tác về thành phần học viên, mục đích của chương trình, nội dung chi tiết từng chuyên đề, lịch trình tham quan thực tế, và hình thức đánh giá kết quả khóa học. Bản kế hoạch càng chi tiết và rõ ràng bao nhiêu thì càng hữu ích cho phía đối tác chuẩn bị và tạo sức ép cho học viên tham gia. (Vietnamnet.vn 15/8, ông Nguyễn Văn Đáng - Tiến sĩ Quản trị công và Chính sách)Về đầu trang

Tinh giản chứ không phải giảm đều

Dù lần đầu tiên vượt chỉ tiêu tinh giản 10% (giai đoạn 2015-2021) song tổ chức bộ máy chưa khắc phục được triệt để những chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, nguyên tắc một việc chỉ giao cho 1 cơ quan chủ trì, thực hiện và chịu trách nhiệm chính. Theo ông Nguyễn Tiến Dĩnh - nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế phải đi liền với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và cải cách hành chính.

Theo ông Dĩnh: Mặc dù tinh giản biên chế lần đầu tiên vượt chỉ tiêu song vẫn còn những tồn tại, hạn chế, bộ máy vẫn còn cồng kềnh. Đội ngũ cán bộ giảm về số lượng song vẫn chưa “tinh giản”. Nghĩa là giảm nhưng chưa gắn liền với nâng cao chất lượng bộ máy. Thủ tục hành chính vẫn còn những rào cản, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ công chức cần tiếp tục được nâng cao hơn nữa.

Tuy nhiên, ông Dĩnh nhận định thời gian tới chắc chắn tình hình sẽ khác. Bộ Nội vụ đang tham mưu, trình Chính phủ ban hành các Nghị định quy định về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bên trong các bộ, các cơ quan ngang bộ. Lúc đó các bộ, ngành sẽ giảm Tổng cục, Cục, Vụ cũng sẽ giảm đi. Như thế sẽ đỡ chồng chéo, và một việc chỉ có một bộ, ngành chịu trách nhiệm chính.

Và chính quyền địa phương cũng vậy. Vì theo Kết luận 16 vừa được Bộ Chính trị ban hành cuối tháng 7, trong đó giao Ban Thường vụ các Tỉnh ủy, Thành ủy trực thuộc Trung ương căn cứ tình hình địa phương và yêu cầu đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, chủ động quyết định thực hiện một số mô hình như: Hợp nhất các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Trưởng ban Dân vận đồng thời là Chủ tịch Ủy ban MTTQ cấp tỉnh, cấp huyện. Do vậy thời gian tới bộ máy sẽ tiếp tục được tinh giản.

Nói về bài học kinh nghiệm gì cho thực hiện tinh giản biên chế trong giai đoạn hiện nay, ông Dĩnh cho rằng: Chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Trong đó ngoài thể chế ra thì cơ cấu tổ chức bộ máy phải tinh giản, nâng cao chất lượng gắn với xây dựng Chính phủ điện tử, Chính phủ số. Nhất là tinh thần, thái độ làm việc của cán bộ công chức. Lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo. Quan trọng nhất là người dân hài lòng với hoạt động của bộ máy đó. Điều đó nằm ở việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ.

Được biết, mục tiêu đề ra cho việc tinh giản biên chế trong giai đoạn tới đối với công chức là 5%, còn viên chức là 10%. Về việc này, ông Dĩnh nói: Bây giờ tinh giản và xác định theo vị trí việc làm thì đội ngũ của chúng ta sẽ đáp ứng mục tiêu đề ra. Bộ máy tại các đơn vị sự nghiệp đang rất lớn, bây giờ sắp xếp lại theo hướng nhập lại và tự chủ. Nên mục tiêu đặt ra trong thời gian tới là công chức giảm 5%, còn viên chức giảm 10%. Như thế, mỗi năm công chức giảm 1%, còn viên chức giảm 2%.

Tinh giản nhưng không phải là giảm đều. Mục tiêu đề ra là “tinh giản”, nghĩa là tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ công chức, viên chức chứ không phải “tinh giảm”. Vì chỗ thừa phải giảm, còn chỗ thiếu thì phải tăng. Phải xác định theo vị trí việc làm và khối lượng công việc. Chứ không thể giảm một cách máy móc là giảm hết, vì có chỗ vẫn cần phải tăng bổ sung.

Còn về việc có nên đánh giá cán bộ theo năng lực thay vì bằng cấp hay không? Ông Dĩnh cho rằng: Tuyển dụng theo vị trí việc làm, thì sử dụng cũng phải theo vị trí việc làm. Và cần xây dựng khung năng lực của mỗi vị trí việc làm, căn cứ vào khung năng lực đó để tuyển dụng, bố trí, sử dụng cho phù hợp. Nghĩa là không nặng về bằng cấp. Tuy nhiên một số loại bằng cấp vẫn phải duy trì, không bỏ được. Ví như vẫn cần phải quy định, ở vị trí này thì anh phải tốt nghiệp Đại học chứ không nhất thiết phải Thạc sĩ, Tiến sĩ.

Vừa qua chúng ta yêu cầu chứng chỉ về ngoại ngữ, tin học nhiều khi lại trở thành hình thức, vì có việc “chạy” chứng chỉ. Giờ không cần chứng chỉ nữa nhưng vẫn phải thi đầu vào tuỳ theo vị trí việc làm. Ví dụ vị trí việc làm cần về ngoại ngữ, hay tin học thì buộc phải thi.

Thi chính là cách để đánh giá đúng năng lực. Có những việc không cần phải đúng ngành nghề đào tạo, nhưng có những việc phải đúng ngành nghề. Cho nên cần căn cứ tuỳ vào vị trí việc làm. Ví như anh tốt nghiệp Đại học Luật thì anh có thể vào nhiều vị trí việc làm hơn như bên tư pháp, nội vụ, hay pháp chế của các bộ, ngành. Còn những vị trí chuyên môn sâu như bác sĩ, dược, hay kỹ thuật xây dựng, giao thông thì sao anh có thể làm được.

Cho nên cần đi sâu vào vị trí việc làm, và có khung đánh giá năng lực gắn với vị trí việc làm. Có người tốt nghiệp 1 bằng có thể làm được nhiều vị trí việc làm, nhưng có người tốt nghiệp 1 bằng chỉ làm được một vị trí việc làm. Năng lực “cốt lõi” như: Tin học, đạo đức công vụ, biết làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp là năng lực chung cần đảm bảo. Còn chuyên môn sâu là tuỳ theo từng lĩnh vực. Riêng năng lực quản lý Nhà nước là dành cho lãnh đạo quản lý. Thiếu kỹ năng về quản lý Nhà nước thì có thể cho đi bồi dưỡng, còn chuyên viên chỉ cần năng lực chung chuyên môn nghiệp vụ là được. (Daidoanket.vn 15/8, H.Vũ)Về đầu trang

Phải nghĩ thật, nói thật, làm thật

Chủ trì phiên họp của Ủy ban quốc gia về chuyển đổi số mới đây, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Ủy ban, cho rằng, những nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, các tổ chức và các cá nhân quyết liệt thực hiện chuyển đổi số (CĐS) thời gian qua, đã giúp đất nước tiến thêm những bước quan trọng, góp phần phục hồi nhanh và phát triển bền vững kinh tế - xã hội.

Theo Thủ tướng, CĐS phải là công cụ quan trọng trong xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả; đồng thời huy động tối đa sức mạnh truyền thống văn hóa, trí tuệ con người Việt Nam. Vì vậy, phải nghĩ thật, nói thật, làm thật, có hiệu quả thật, người dân, doanh nghiệp được thụ hưởng thật; nói phải đi đôi với làm, “không đánh trống bỏ dùi”. Không để hiện tượng dịch vụ công trực tuyến thì nhiều, nhưng người dân sử dụng ít, hiệu quả không cao; các nền tảng thì nhiều, cơ sở dữ liệu thì lớn nhưng tính đồng bộ, liên thông lại thấp. Đây có thể xem là những thách thức lớn đối với quá trình CĐS ở Việt Nam hiện nay.

Cổng dịch vụ công quốc gia hiện đã cung cấp 3.699 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; hơn 2,1 triệu tài khoản đăng ký (tăng hơn 2,8 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 122,7 triệu hồ sơ đồng bộ trạng thái (tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm 2021); hơn 4,1 triệu hồ sơ trực tuyến thực hiện từ Cổng dịch vụ công quốc gia (tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2021).

Tuy nhiên, theo các khảo sát thì người dân chưa thấy thuận tiện, dễ dùng, chưa được khuyến khích khi tiếp cận, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng số. Tỷ lệ xử lý hồ sơ công việc trên môi trường mạng chưa cao; còn một số dịch vụ công trực tuyến mang tính hình thức, chưa thực chất (người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến năm 2020 chỉ đạt 1,78%; năm 2021 đạt 9,51%; 7 tháng năm 2022 mới đạt gần 18%). Điều đó đồng nghĩa, rất nhiều dịch vụ công trực tuyến của các bộ, ngành, địa phương “có mặt” trên Cổng dịch vụ công quốc gia, nhưng quy trình xử lý phức tạp, khó tiếp cận, thậm chí giải quyết được hay không là chuyện khác… Thậm chí, nhiều dịch vụ dù đã giao dịch thành công trên môi trường số, vẫn bắt buộc người dân xác thực thêm bằng giấy tờ trực tiếp.

Một vấn đề khác, hết sức quan trọng của quá trình CĐS của mỗi quốc gia là hình thành hệ thống dữ liệu lớn quốc gia và liên thông dữ liệu. Thời gian qua, các cơ sở dữ liệu tạo nền tảng cho Chính phủ số được đẩy mạnh triển khai. Đặc biệt là Bộ Công an đã tích cực, phối hợp với các bộ, ngành triển khai cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; tích hợp, kết nối và mở rộng thu thập dữ liệu dân cư; từng bước hình thành hệ sinh thái công dân số. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư kết nối liên thông với 11 bộ, ngành, 4 doanh nghiệp nhà nước và 14 địa phương tiếp tục làm giàu dữ liệu dân cư “đúng, đủ, sạch, sống”; cấp trên 68 triệu thẻ căn cước gắn chip điện tử; hoàn thành xác thực 45 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội; bước đầu thí điểm triển khai một số ứng dụng của thẻ căn cước phục vụ người dân khám chữa bệnh, rút tiền tại các cây ATM…

Tuy nhiên, chừng đó chưa đủ, bởi theo Thủ tướng Chính phủ, việc kết nối, chia sẻ dữ liệu hiện còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa hiệu quả, chưa hình thành một hệ thống liên thông, thông suốt. Đặc biệt, hệ cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia triển khai còn chậm. Vì vậy, cần phải quyết liệt, tránh tình trạng “cát cứ thông tin, số liệu, dữ liệu”; các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ quản lý dữ liệu được phân công, nhưng trên hết đó đều là tài sản quốc gia. Tài sản này chỉ được làm giàu thêm khi được liên thông, chia sẻ, xác thực cùng nhau hướng đến mục tiêu cuối cùng là phục vụ tốt nhất cho nhân dân, doanh nghiệp. CĐS là để hình thành các hệ thống dữ liệu số hóa. Nếu các hệ thống dữ liệu đó không được liên thông, chia sẻ, xác thực lẫn nhau, thì chắc chắn, quá trình CĐS chỉ là nửa vời, không thể có kết quả cuối cùng như mong đợi.

Cùng với quyết tâm chính trị, sự vào cuộc của các cấp, ngành và cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình CĐS hiện nay, thì các vấn đề trên cần được ưu tiên, giải quyết triệt để, càng sớm càng tốt. Bởi việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến đa dạng, dễ dàng sử dụng, cũng như sự hình thành, liên thông hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia được xem là nền tảng, xương sống của của quá trình CĐS, hướng đến Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số ở Việt Nam. Nó cũng thể hiện rõ quan điểm, người dân và doanh nghiệp là trung tâm của CĐS; được dễ dàng tiếp cận, sử dụng và thụ hưởng kết quả từ quá trình này. (Sggp.org.vn 15/8, Trần Lưu)Về đầu trang

THẾ GIỚI

Ứng dụng công nghệ blockchain tại Thụy Sĩ: Cung cấp khuôn khổ pháp lý đáng tin cậy

Với di sản phong phú về bảo mật tài chính, pháp luật riêng tư mạnh mẽ và cách tiếp cận pháp lý thực dụng đã giúp Thụy Sĩ trở thành trung tâm sôi động cho các ý tưởng kinh doanh mới trong lĩnh vực công nghệ “sổ cái phân tán” (DLT) như blockchain.

Thái độ và các chính sách thực dụng, thân thiện với doanh nghiệp của các nhà chức trách Thụy Sĩ là những lý do khiến quốc gia này trở thành lựa chọn tự nhiên để phát triển các công nghệ “sổ cái phân tán”, blockchain cho các ứng dụng toàn cầu mới trong nền kinh tế mã hóa. Với mật độ trụ sở công ty lớn cùng hệ sinh thái “sành sỏi” về blockchain đã được thiết lập, quốc gia này cung cấp mạng lưới hợp tác và sự chắc chắn về mặt pháp lý để giới thiệu các ứng dụng dựa trên công nghệ blockchain trong các ngành công nghiệp.

Thụy Sĩ vừa thúc đẩy sự đổi mới công nghệ, vừa cung cấp khuôn khổ pháp lý đáng tin cậy. Năm 2013, Hiệp hội Crypto Valley (Thung lũng tiền ảo) được thành lập ở Zug - một thị trấn nhỏ, với mục đích ban đầu là thu hút các công ty khởi nghiệp nghiên cứu công nghệ tiền ảo, thúc đẩy các giao dịch tiền điện tử tại thị trấn. Đến nay, mục đích đó đã thành công ngoài sự mong đợi. Zug hiện là trụ sở của khoảng 960 công ty blockchain, số lượng nhân sự làm việc trong lĩnh vực này lên tới hơn 5.000 người. Theo một báo cáo do PwC công bố, từ tháng 7.2020 đến tháng 2.2021, định giá thị trường của 50 công ty hàng đầu này đã tăng 680%, từ 37,5 tỷ USD lên 254,9 tỷ USD. Số lượng các “kỳ lân công nghệ” trong lĩnh vực tiền ảo lên tới 11 với các cái tên nổi bật như Ethereum, Cardano, Polkadot. Thung lũng tiền ảo đã vươn xa ra ngoài biên giới của thị trấn Zug, hiện lan rộng ra thành các hệ sinh thái blockchain hàng đầu ở các thành phố Zurich, Geneva, Neuchâtel, Ticino, Basel, Vaud, Lucerne và Bern; mỗi hệ sinh thái đều có cách tiếp cận ban đầu riêng.

Để vẫn là một điểm đến hấp dẫn cho việc hình thành doanh nghiệp, Thụy Sĩ luôn cố gắng bảo đảm rằng các công ty tiền điện tử và blockchain có thể truy cập các dịch vụ ngân hàng truyền thống nhằm thực hiện các hoạt động. Năm 2019, Cơ quan giám sát thị trường tài chính Thụy Sĩ (FINMA) đã cấp giấy phép hoạt động ngân hàng và chứng khoán cho hai ngân hàng tiền điện tử mới SEBA và Sygnum. Tiếp nối sự mở đường này, ngân hàng Vontobel trở thành ngân hàng đầu tiên hỗ trợ tiền ảo. Vontobel đã thành lập một kho tài sản kỹ thuật số cho phép lưu ký tiền điện tử và chuyển tiền một cách dễ dàng nhất. Mới đây, BBVA Thụy Sĩ là tổ chức ngân hàng tài chính truyền thống đầu tiên ở châu Âu triển khai Ethereum trong việc cung cấp tiền kỹ thuật số.

Các yếu tố khác góp phần đưa Thụy Sĩ trở thành điểm đến lý tưởng cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực ứng dụng blockchain và tiền ảo bao gồm Chính phủ hiệu quả và minh bạch, cùng một hệ sinh thái thân thiện với tiền điện tử cho phép các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động liên quan đến tiền kỹ thuật số một cách dễ dàng.

Các nhà chức trách Thụy Sĩ có cách tiếp cận chú trọng công nghệ, “từ dưới lên trên”, họ nhắm tới việc tích hợp có chọn lọc các vấn đề liên quan đến công nghệ mới vào luật pháp và cung cấp một khung khổ pháp lý thân thiện với khả năng sáng tạo, đổi mới công nghệ.

Năm 2016, chính quyền Thụy Sĩ bắt đầu dỡ bỏ các rào cản gia nhập fintech trở lại và đưa ra cơ chế thí điểm pháp lý (sandbox) vào năm 2017.

Năm 2018, Cơ quan Giám sát Thị trường Tài chính Thụy Sĩ (FINMA) trở thành cơ quan quản lý đầu tiên trên thế giới công bố hướng dẫn rõ ràng về ICO - một hình thức kêu gọi đầu tư dựa trên số lượng tiền điện tử đang dần thay thế hệ thống tài chính truyền thống và phân loại mã thông báo (token). Cuối năm 2018, chính quyền bang Geneva đã phát hành hướng dẫn đầu tiên dành riêng cho việc hỗ trợ các nhà quảng bá dự án ICO.

Kể từ đầu năm 2019, Thụy Sĩ cho phép cấp giấy phép công nghệ tài chính và cho phép chấp nhận tiền gửi công khai lên đến 100 triệu Franc Thụy Sĩ. Điều này đơn giản hóa khả năng tiếp cận của các công ty về blockchain và tiền điện tử vào thị trường Thụy Sĩ.

Tháng 6 năm 2020, các nhà chức trách Thụy Sĩ đã thông qua một gói các biện pháp lập pháp, có tác động đến hàng chục quy định pháp luật về tài chính và mang lại những thay đổi theo hướng tạo thuận lợi cho lĩnh vực blockchain và DLT. Gói các biện pháp lập pháp này không tác động đến các luật thuế tương ứng, vốn được đánh giá là khá thuận lợi cho các công ty trong lĩnh vực ứng dụng blockchain và tiền ảo. (Daibieunhandan.vn 14/8, Ngọc Khánh)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 11.999.183 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này