Chi tiết tin - Quảng Bình
Tiếp tục phát triển thủy sản bền vững trên lĩnh vực nuôi trồng và khai thác
Được xác định là ngành kinh tế quan trọng của tỉnh trên cơ sở tiềm năng và lợi thế, trong 30 năm qua, Quảng Bình đã quan tâm chỉ đạo, hỗ trợ các địa phương đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các khâu nuôi trồng, đánh bắt và dịch vụ thủy sản nên sản xuất thủy sản trên địa bàn phát triển nhanh. Giá trị sản xuất thủy sản đạt tốc độ tăng bình quân 8,4%/năm. Sản lượng thủy sản từ 8.647,5 tấn (năm 1990) tăng lên 82.457,1 tấn (năm 2019), đạt tốc độ tăng bình quân 8,1%/năm. Trong đó, thời kỳ 1990 - 1999 đạt bình quân 7,5%/năm; giai đoạn 2000 - 2009 đạt bình quân 10,5%/năm và từ năm 2010 - 2019 đạt bình quân 6,2%/năm.
Sau tái lập tỉnh, sản xuất thủy sản có điểm xuất phát thấp nên mức tăng bình quân mỗi năm khá cao. Đặc biệt, trong 20 năm đầu, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt trên 09%. Thời kỳ 2010 - 2019, tốc độ tăng bình quân giảm xuống còn 6,2%, nguyên nhân do sự cố môi trường biển xảy ra vào năm 2016 và năng lực sản xuất thủy sản bước vào giai đoạn ổn định về quy mô. Nhìn chung lĩnh vực nuôi trồng và khai thác thủy sản đều tăng trưởng khá về mặt giá trị cũng như sản lượng sản xuất, trong đó lĩnh vực nuôi trồng tăng trưởng nhanh hơn khai thác. Giá trị nuôi trồng bình quân hàng năm tăng 30,4%, trong đó thời kỳ 1990 - 1999 đạt 82,2%; từ năm 2000 - 2009 đạt 21,5% và giai đoạn 2010 - 2019 đạt 3,5%. Giá trị khai thác bình quân hàng năm tăng 7,2%, trong đó thời kỳ 1990 - 1999 đạt 7,9%; thời kỳ 2000 - 2009 đạt 6,2% và giai đoạn 2010 - 2019 đạt 7,7%.
Tương ứng về sản lượng, mức tăng trưởng nuôi trồng thủy sản bình quân hàng năm đạt 27,3%. Cụ thể, thời kỳ 1990 - 1999 đạt 71,6%; từ năm 2000 - 2009 đạt 18,9% và giai đoạn 2010 - 2019 đạt 4,3%. Khai thác bình quân mỗi năm tăng 7,5%, trong đó từ năm 1990 - 1999 đạt 6,4%; thời kỳ 2000 - 2009 đạt 9,3% và thời kỳ 2010 - 2019 đạt 6,6%.
Đối với nuôi trồng thủy sản, với lợi thế là tỉnh ven biển, nhiều cửa sông lớn nên việc nuôi trồng thủy sản phát triển khá nhanh, đặc biệt là nuôi tôm, cua nước lợ theo hướng thâm canh, phát triển các vùng nuôi tập trung và áp dụng nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật mới nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Nhiều hình thức nuôi mới được người dân áp dụng như nuôi lồng bè trên sông, hồ chứa, một số nơi kết hợp nuôi cá trong ruộng lúa... đã tạo cho lĩnh vực nuôi trồng tăng quy mô về diện tích và sản lượng, sản phẩm nuôi trồng da dạng, phong phú. Tính từ sau tái lập tỉnh đến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản trên toàn tỉnh là 6.657,1 ha, mức tăng bình quân hàng năm đạt 13,5%; trong đó giai đoạn 1990 - 1999 đạt 25,0%; giai đoạn 2000 - 2009 đạt 13,2% và 2010 - 2019 đạt 4,3%. Riêng nuôi nước lợ tăng bình quân 12,2%/năm. Với việc tăng diện tích và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nuôi trồng nên sản lượng nuôi trồng tăng nhanh. Năm 1990, sản lượng nuôi trồng đạt 11,5 tấn thì năm 2019 đạt 12.699 tấn, tốc độ tăng bình quân hàng năm đạt 27,3%, trong đó sản lượng nuôi nước ngọt tăng bình quân 25,4%/năm, sản lượng nước lợ tăng bình quân 33,7%/năm.
Bên cạnh việc nuôi trồng, các địa phương trong tỉnh cũng phát huy lợi thế về ngư trường, kinh nghiệm truyền thống của ngư dân nên khai thác thủy sản đã có bước phát triển toàn diện. Phương tiện khai thác không ngừng tăng về quy mô và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn cho xu thế khai thác vươn khơi, xa bờ. Năm 1990, số tàu, thuyền cơ giới chỉ có 1.319 chiếc và phần lớn là tàu công suất nhỏ phục vụ đánh bắt ven bờ thì đến năm 2019 số tàu thuyền cơ giới đã có 5.549 chiếc, mức tăng bình quân đạt 5,1%/năm. Điểm nổi bật là tàu có công suất lớn, hoạt động khai thác xa bờ tăng nhanh nên công suất tăng nhanh, bình quân hàng năm công suất tăng 14,1%. Đặc biệt, những năm gần đây, thời kỳ 2010 - 2019, nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước, tàu, thuyền đóng mới hoặc cải hoán có công suất lớn được các địa phương và người dân chú trọng hơn. Mặc dù, mức tăng bình quân giai đoạn 2010 - 2019 chỉ đạt 1,3%/năm về số lượng chiếc, nhưng mức tăng bình quân về công suất đạt 15,5%/năm.
Thực tế đó cho thấy, những chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước là đúng đắn và hợp lý giúp cho ngư dân mạnh dạn đầu tư và hoạt động khai thác thủy sản ngày càng hiệu quả hơn. Nhờ điều kiện khai thác được cải thiện nên sản lượng khai thác hàng năm đạt khá và có mức tăng cao qua các thời kỳ, nhất là khai thác hải sản biển. Cụ thể: Năm 1990, sản lượng khai thác đạt 8.636 tấn, đến năm 2019 sản lượng khai thác đạt 69.758,1 tấn, mức tăng bình quân hàng năm đạt 7,5%. Riêng khai thác biển, năm 1990 đạt 7.647 tấn, đến năm 2019 đạt 65.356,9 tấn; mức tăng bình quân hàng năm đạt 7,7%. Ngoài ra, khai thác nội địa cũng đạt mức tăng hàng năm khá, song tốc độ tăng có xu hướng giảm dần qua các năm. Điều đáng ghi nhận là thời gian gần đây do hoạt động khai thác xa bờ phát triển nên hoạt động khai thác gần bờ giảm đáng kể, chỉ còn các địa phương thuộc vùng bãi ngang hoạt động. Từ khai thác xa bờ phát triển, kéo theo đó là cơ cấu sản phẩm khai thác có bước chuyển dịch nhanh, sản phẩm có giá trị cao và dễ tiêu thụ ngày càng nhiều.
Có thể khẳng định, cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, sản xuất thủy sản tỉnh Quảng Bình đã tạo nên một diện mạo mới và đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa to lớn, tạo nền tảng vững chắc để tiếp tục thực hiện chặng đường phía trước.
Tuy nhiên, sản xuất thủy sản vẫn còn một số hạn chế nhất định, đó là việc quy hoạch, xác định giống nuôi còn lúng túng, mang tính tự phát nên mức độ rủi ro cao; chất lượng sản phẩm còn hạn chế, sức cạnh tranh chưa đủ mạnh trên thị trường; giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm còn mất cân đối; sản phẩm tiêu thụ phần lớn dạng thô nên giá bán thấp, lợi nhuận nhỏ; thiết bị và công nghệ chế biến sau thu hoạch còn thiếu, kết cấu hạ tầng phục vụ bảo quản chế biến chưa phát triển, quy mô nhỏ, tỷ lệ hao hụt cao. Vấn đề nữa là môi trường kinh doanh thủy sản không hấp dẫn nên ít nhà đầu tư; sản xuất thủy sản phụ thuộc nhiều vào yếu tố tự nhiên dẫn đến mức độ rủi ro cao, nhiều năm bị ảnh hưởng nghiêm trọng do bão, lũ, dịch bệnh, sự cố...
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại về sản xuất thủy sản, thời gian tới, Quảng Bình tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn định và bền vững, coi thủy sản là mặt trận quan trọng nhằm tạo sự ổn định cần thiết trong đời sống xã hội; quy hoạch, phân vùng sản xuất cụ thể về nuôi trồng thủy sản; phát triển thủy sản bền vững trên tất cả các lĩnh vực nuôi trồng, khai thác, chế biến, xuất khẩu... gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, nguồn lợi thủy sản; xây dựng vùng nuôi an toàn, khuyến khích phát triển mô hình nuôi thâm canh... phù hợp với điều kiện từng vùng; đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng và khai thác thị trường trong và ngoài nước, tạo điều kiện giải quyết tốt khâu tiêu thụ hàng hóa. Mặt khác, tỉnh tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua các cơ sở đào tạo nghề, đào tạo chuyên nghiệp, có các chính sách ưu đãi, khuyến khích nhằm thu hút tài năng cho phát triển....
N.Quý
- “Less plastic” - Sáng tạo vì một Quảng Bình xanh (14/01/2019)
- Thực hiện tốt công tác quản lý đầu tư, xây dựng, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (10/01/2019)
- Tiếp tục phát huy vai trò của các dòng họ trong việc thực hiện phong trào thi đua yêu nước tại phường Quảng Thuận, thị xã Ba Đồn (10/01/2019)
- Những kết quả đạt được trong công tác đối ngoại Đảng, Ngoại giao chính quyền và Ngoại giao Nhân dân (10/01/2019)
- Nhiều hoạt động tín ngưỡng thuần túy trên địa bàn tỉnh tiếp tục được phục hồi và phát triển (10/01/2019)
- Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở (10/01/2019)
- Năm An toàn giao thông 2019 thực hiện chủ đề “An toàn giao thông cho hành khách và người đi mô tô, xe máy” (10/01/2019)
- Tour bảo tồn sinh thái thu hút du khách quốc tế tại Phong Nha - Kẻ Bàng (09/01/2019)
- Năm 2019, tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh (09/01/2019)
- Tập trung tuyên truyền việc chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển (09/01/2019)







