Bản tin cải cách hành chính ngày 21/08/2017

9:51, Thứ Năm, 24-8-2017

Xem với cỡ chữ : A- A A+

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 1

1.  Tổ công tác của Thủ tướng: “Rừng” thủ tục hành doanh nghiệp. 1

2.  Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước - bước đột phá cần thiết: Bài 1: Gần 30 năm vẫn… “nóng”  3

3.  Tinh giản biên chế: Không còn đường lùi 5

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH. 7

4.  Có những cán bộ công chức “đánh trống ghi danh”. 7

5.  Bình Định: Tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính. 8

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 8

6.  Cao Bằng cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh. 8

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 9

7.  Doanh nghiệp lại bức xúc tố hải quan “ăn” tiền không có hóa đơn. 9

8.  Doanh nghiệp chỉ mất 45 giờ để hoàn thành thủ tục kê khai tham gia BHXH bắt buộc. 11

TIN THẾ GIỚI 12

9.  Trung Quốc tiếp tục cải cách thuế VAT. 12


PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Tổ công tác của Thủ tướng: “Rừng” thủ tục hành doanh nghiệp

Để sản xuất mặt hàng chocolate cần 13 giấy phép, một mặt hàng nguyên liệu sản xuất bánh kẹo phải theo 4 văn bản của cùng một bộ…, “rừng” thủ tục kiểm tra chuyên ngành đang khiến cộng đồng doanh nghiệp phải chi tới 14.300 tỷ đồng mỗi năm.

Đây là thực tế được nêu ra tại buổi kiểm tra 11 bộ ngành do Tổ công tác của Thủ tướng tiến hành sáng 21/8 về tình hình cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành với hàng hóa xuất nhập khẩu.

Phát biểu mở đầu buổi kiểm tra, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng, Tổ trưởng Tổ công tác cho biết, hiện tỉ lệ các lô hàng xuất nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan lên tới 30-35% và Nghị quyết 19 của Chính phủ đã yêu cầu phải kéo giảm xuống còn 15%. Tỉ lệ hàng hóa xuất nhập khẩu phải kiểm tra thú y là 14,3%, kiểm tra chất lượng là 25,3%, kiểm tra an toàn thực phẩm là 19,1%, cần giấy phép xuất nhập khẩu và yêu cầu tương đương là 41,2%...

“Phải quyết tâm cắt bỏ các giấy phép, thủ tục không cần thiết. “Thủ tướng đặt vấn đề cắt giảm chi phí không chính thức và chính thức, năm 2017 là năm giảm chi phí cho doanh nghiệp”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nhấn mạnh.

Theo số liệu của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, hiện nay có khoảng 100.000 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành. Mỗi năm doanh nghiệp phải bỏ ra 28,6 triệu ngày công và 14.300 tỷ đồng chi phí cho kiểm tra chuyên ngành.

Tại Nghị quyết 19, Chính phủ đã xác định phải cải cách toàn diện hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành, giao 3 nhiệm vụ chung cho các bộ ngành và giao 8 nhiệm vụ cho từng bộ. Hiện theo báo cáo, các bộ đã hoàn thành 3 nhiệm vụ. Tại Quyết định 2026, Thủ tướng Chính phủ cũng đã giao các bộ sửa đổi, bổ sung 87 văn bản. Hiện nay đã có 60 văn bản được rà soát, trong đó đã sửa đổi, bổ sung 56 văn bản, có 4 văn bản thấy không cần sửa đổi, bổ sung.

Tổ công tác cũng công bố công khai tỉ lệ hoàn thành nhiệm vụ của các bộ. Trong đó, các Bộ: Khoa học và Công nghệ (2 văn bản), Lao động-Thương binh và Xã hội, Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Kế hoạch và Đầu tư (mỗi bộ 1 văn bản) đều đã hoàn thành 100%.

Còn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao rà soát 49 văn bản hiện đã hoàn thành 75,5%. Bộ Công Thương có 10 văn bản, đã hoàn thành 90%. Bộ Y tế được giao 9 văn bản, đã hoàn thành 55,6%. Các Bộ: Thông tin và Truyền thông, Quốc phòng, Tài nguyên và Môi trường, Giao thông vận tải đều có 2 văn bản, mới hoàn thành rà soát 1. Các Bộ chưa rà soát văn bản nào gồm Xây dựng (4 văn bản), Công an (2 văn bản).

Ngoài việc kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ do Chính phủ, Thủ tướng giao tại Nghị quyết 19 và Quyết định 2026, buổi kiểm tra còn đặt mục tiêu bước đầu rà soát lại toàn bộ các thủ tục liên quan tới kiểm tra chuyên ngành. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng cho biết hiện còn rất nhiều thủ tục chồng chéo, trong số các lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành, có tới 58% phải thực hiện 2-3 lần thủ tục kiểm tra, tăng chi phí cho doanh nghiệp.

Đặc biệt, Tổ trưởng Tổ công tác nêu rõ, hiện nay nhiều bộ vẫn còn độc quyền trong đánh giá sự phù hợp. Nhiều hàng hóa nhập khẩu của các nhà sản xuất hàng đầu thế giới nhưng chúng ta vẫn kiểm tra chuyên ngành và kiểm tra theo cách thủ công, cần xem xét lại. Có tình trạng bộ chỉ giao 1 cơ quan trên cả nước thực hiện giám định, khiến chi phí cho doanh nghiệp đội lên rất lớn do “vận chuyển hàng từ Bắc vào Nam, từ Nam ra Bắc chỉ để kiểm tra, giám định”.

Trong việc kiểm tra thì áp dụng hình thức thủ công là chính, kết nối công nghệ thông tin giữa các cơ quan còn hạn chế, chưa áp dụng quản lý rủi ro. Kiểm tra rất nhiều nhưng tỉ lệ phát hiện vi phạm rất thấp, chỉ 0,1%.

Theo Tổng cục Hải quan, thủ tục kiểm tra chuyên ngành chiếm tới 50% thời gian thông quan, nhiều lô hàng Hải quan kiểm tra rồi nhưng không thông quan được, thậm chí 3 tháng sau bộ chuyên ngành mới tới kiểm tra, nay một thủ tục, mai một thủ tục.

“Một mặt hàng chocolate cần 13 loại giấy phép, 12 nguyên liệu cần 12 loại giấy phép, cuối cùng phải xác nhận công bố thành phẩm. Mặt hàng sữa chua vừa phải kiểm dịch theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, vừa phải kiểm tra an toàn thực phẩm theo Bộ Y tế. Kén tằm, hạt hướng dương cũng phải 2 bộ; một bộ không làm đâu, cứ chẻ ra như thế thì không ổn. Mà các bộ không bao giờ đi cùng nhau, đợi ông kia về tôi mới đi. Rất nhiều vấn đề thực tế như thế, chúng ta phải xử lý”, Bộ trưởng Mai Tiến Dũng nêu rõ.

Bộ trưởng cũng nêu ví dụ, một mặt hàng nguyên liệu sản xuất bánh kẹo phải thực hiện theo 4 văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, gồm 3 thông tư và 1 quyết định của Bộ trưởng. Một giống cây trồng cũng phải theo 3 thông tư. “Như vậy có hợp lý không? Tôi nghĩ doanh nghiệp làm lần đầu chắc mò mẫm đến hết đêm cũng không làm được, như vào rừng”, Tổ trưởng Tổ công tác nêu rõ.

Bộ trưởng Mai Tiến Dũng cho biết sau buổi hôm nay, sẽ rà soát từng bộ, đi vào từng thủ tục, chứ không dừng lại chung chung, yêu cầu giải trình cụ thể, thủ tục nào cần, thủ tục nào không. (Báo Chính Phủ Điện Tử 21/8) Về đầu trang

Cải cách tổ chức bộ máy nhà nước - bước đột phá cần thiết: Bài 1: Gần 30 năm vẫn… “nóng”

Chủ trương cải cách hành chính nhà nước được Đảng đề ra từ năm 1986, tiếp tục khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc với bước đi cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Dẫu vậy, so với yêu cầu của Đảng, Nhà nước và so với đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống thì khoảng cách vẫn còn rất lớn, thậm chí, ở những thời điểm cần tăng tốc thì dường như, động lực cải cách lại bị suy giảm…

Nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết, phục vụ chuyên đề giám sát tối cao của Quốc hội về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước, đã rà soát lại toàn bộ chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề này. Qua đó, có thể khẳng định: Sự chậm chạp của cải cách tổ chức bộ máy hành chính không phải là do chúng ta thiếu chủ trương hay chính sách, pháp luật.

Năm 1991, Báo cáo chính trị trình Đại hội toàn quốc lần thứ VII đánh giá “khuyết điểm lớn là đến nay chưa thực hiện được cuộc cải cách cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước như Đại hội VI đã đề ra. Tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh, nặng nề”. Đây là những đánh giá thẳng thắn và nghiêm khắc của Trung ương Đảng. Chính vì thế, từ sau Đại hội VII, cải cách hành chính, nhất là cải cách tổ chức bộ máy đã được đặt ra một cách quyết liệt hơn.

Ngay sau Đại hội VII, Quốc hội tiến hành sửa đổi và thông qua Hiến pháp năm 1992, thể chế hóa chủ trương của Đảng với nhiều chế định mới nhằm hoàn thiện cơ cấu tổ chức và đổi mới hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Trên cơ sở này, từ 2001 - 2010, Chính phủ đã quyết định thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước đầu tiên, góp phần quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Từ 2011 - 2020, chương trình tổng thể cải cách hành chính thứ hai đã được Chính phủ triển khai thực hiện với việc xác định rõ, đây là một trong ba khâu đột phá chiến lược để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Chương trình này cũng đã xác định rõ 6 nội dung trọng tâm phải thực hiện.

Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành một khối lượng văn bản đồ sộ nhằm thúc đẩy cải cách hành chính. Cụ thể là, đã có tới 10 văn kiện của Đảng đề cập đến nội dung cải cách hành chính như: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội Đảng toàn quốc các Khóa X, XI, XII. Hội nghị Trung ương Đảng các Khóa X, XI cũng đều đã ban hành nghị quyết riêng hoặc thông qua các kết luận về cải cách hành chính như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước; Kết luận Hội nghị Trung ương 5, Khóa XI về tổng kết việc thi hành Hiến pháp năm 1992 và một số nội dung cơ bản cần sửa đổi, bổ sung; Kết luận Hội nghị Trung ương 7, Khóa XI về một số vấn đề tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở; Nghị quyết số 39 – NQ/TW của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức...

Những văn kiện nêu trên đã thể hiện sự phát triển trong các quan điểm, chủ trương của Đảng về mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của việc đẩy mạnh cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách tổ chức bộ máy hành chính, tạo cơ sở chính trị vững chắc để Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền thể chế hóa thành các văn bản pháp luật của Nhà nước, từ văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp đến các đạo luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định và cả thông tư của bộ, ngành, văn bản của chính quyền địa phương. Chỉ trong 5 năm của nhiệm kỳ Khóa XIII, nửa đầu của chương trình tổng thể cải cách hành chính thứ 2, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, ban hành 100 bộ luật, luật với chất lượng ngày càng cao. Đây chính là cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến cơ sở.

Tiếc rằng, từ quyết tâm của Đảng, từ cơ sở pháp lý mà nhiều nhiệm kỳ Quốc hội đã dày công hoàn thiện, cải cách hành chính nói chung, cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước nói riêng, trên thực tế vẫn khá chậm chạp.

Báo cáo mới nhất của Chính phủ gửi đến Đoàn giám sát của Quốc hội về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước 2011 - 2016 nêu rõ: Tuy đã tích cực sắp xếp, kiện toàn qua các nhiệm kỳ Chính phủ nhưng đến nay, tổ chức bộ máy bên trong của một số bộ, cơ quan ngang bộ vẫn còn biểu hiện cồng kềnh, còn tầng nấc trung gian; chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính nhà nước tuy đã cơ bản khắc phục được sự chồng chéo nhưng trên một số lĩnh vực vẫn còn giao thoa, đan xen hoặc phân công chưa thực sự phù hợp hoặc chưa đủ rõ, dẫn đến khó xác định trách nhiệm khi có vấn đề xảy ra. Thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực còn phức tạp, rườm rà nhưng chậm được khắc phục.

Số lượng cấp phó tại một số tổ chức hành chính vượt quy định, còn mất cân đối giữa số lượng người giữ chức danh lãnh đạo, quản lý và số công chức tham mưu tại một số cơ quan. Việc chuyển giao một số nhiệm vụ từ cơ quan hành chính nhà nước cho các tổ chức xã hội còn hạn chế. Tổ chức bộ máy và biên chế công chức tại các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương chưa giảm. Việc tinh giản biên chế không chú trọng đến việc cơ cấu lại đội ngũ công chức, viên chức theo đề án vị trí việc làm.

Với tiến độ và cách làm như hiện nay, khó có thể thực hiện được mục tiêu Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân nhấn mạnh tại cuộc làm việc với Đoàn giám sát của Quốc hội.

Dẫu vậy, những đánh giá này cũng chưa phản ánh đầy đủ thực trạng trì trệ của bộ máy hành chính nhà nước. Hệ lụy đáng lo ngại nhất là, từ cách thức tổ chức và vận hành của bộ máy nhà nước hiện nay đã dẫn đến trách nhiệm công vụ không rõ ràng, tình trạng lạm dụng quyền lực, “thu vén” của công làm của tư; công chức từ công bộc của dân đã trở thành những “ông vua con”, hình thành những nhóm lợi ích, xâm hại lợi ích quốc gia, xâm hại quyền lợi hợp pháp, chính đáng của người dân và doanh nghiệp. (Đại Biểu Nhân Dân 21/8, tr1+3) Về đầu trang

Tinh giản biên chế: Không còn đường lùi

Sau hơn 2 năm (từ giữa năm 2015 đến nay) thực hiện Nghị quyết số 39 của Ban Chấp hành Trung ương về tinh giản biên chế, tổng số người thực tế hưởng lương từ ngân sách nhà nước của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị giảm được hơn 4.000 người. Không chỉ còn rất xa so với mục tiêu được Trung ương đặt ra trong hai năm đầu thực hiện Nghị quyết 39 mà diễn biến tinh giản biên chế ở từng nhóm đối tượng cũng đặt ra nhiều câu hỏi.

Cụ thể là, số lượng cán bộ, công chức chỉ giảm được gần 1%; số lượng viên chức giảm gần 1,2%; biên chế cơ quan đại diện ở nước ngoài cơ bản giữ nguyên; biên chế hội đặc thù ở Trung ương cơ bản giữ nguyên; người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố chỉ giảm được gần 0,4%. Trong khi đó, số lượng người hưởng lương thuộc diện Hợp đồng 68 (Nghị định 68 của Chính phủ ban hành năm 2000 về chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp) thì tăng chóng mặt, tới 13,1%. Cùng với đó là, hợp đồng khác (hợp đồng chờ tuyển dụng, hợp đồng làm chuyên môn nghiệp vụ…) do các cơ quan, đơn vị, địa phương tự thực hiện ngoài quy định cũng tăng tới 8,54%. Tổng số hợp đồng 68 và hợp đồng khác trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp hiện đã lên tới hơn 271 nghìn người.

Câu hỏi đầu tiên là, trong số hơn 271 nghìn người này, có bao nhiêu người được ký hợp đồng thực sự là do yêu cầu, tính chất nhiệm vụ quản lý nhà nước và hoạt động chuyên môn của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ngày càng tăng? Câu hỏi thứ hai là, có bao nhiêu người trong số này thuộc diện “ăn theo”, dù yêu cầu công việc không cần nhưng vì những mối quan hệ kiểu “con anh này, cháu chị kia” nên vẫn được ký hợp đồng để hưởng lương từ ngân sách? Câu hỏi thứ ba là, có bao nhiêu người đang ký hợp đồng hiện nay có đủ năng lực, trình độ chuyên môn, xứng đáng có một vị trí chính thức trong đội ngũ những công bộc của dân? Trả lời 3 câu hỏi này không dễ. Vì câu trả lời khách quan nhất, minh bạch nhất và thuyết phục nhất cho cả 3 câu hỏi này nằm ở việc xác định vị trí việc làm. Nhưng đến nay, Đề án vị trí việc làm hầu như đã đi vào ngõ cụt khi các cơ quan, bộ, ngành, địa phương đều triển khai theo một kiểu “chẳng giống ai” là từ con người hiện có, công việc mỗi người đang làm mà “phiên ra” vị trí việc làm.

Câu hỏi thứ tư là, gần 30 nghìn người tăng thêm do ký hợp đồng 68 và hợp đồng khác chỉ trong vài năm có phải là lực cản chính khiến cho tinh giản biên chế trở nên chậm chạp và thiếu động lực? Số liệu từ các cơ quan, bộ, ngành, địa phương báo cáo với Đoàn giám sát của Quốc hội về cải cách tổ chức bộ máy hành chính 2011 - 2016 cho thấy, hầu hết số biên chế giảm vừa qua đều thuộc diện nghỉ hưu, nghỉ hưu sớm. Điều này cũng có nghĩa là, số lượng công chức, viên chức “sáng cắp ô đi, tối cắp về, đến cơ quan mà không biết làm gì” vẫn được “an nhiên tự tại” trong bộ máy hành chính và đơn vị sự nghiệp.

Để khỏa lấp chỗ trống mà các công chức, viên chức này tạo ra, thay vì tinh giản triệt để, không tinh giản thì không có người làm việc, các bộ, ngành, địa phương đã chọn cách dễ dàng hơn, ít đụng chạm hơn và ít nhạy cảm hơn là ký hợp đồng chuyên môn, nghiệp vụ. Tinh giản biên chế đúng nghĩa thì áp lực ngân sách giảm, hiệu quả, hiệu lực của bộ máy nhà nước tăng lên. Nhưng với cách làm hiện nay, hiệu quả, hiệu lực của bộ máy không được cải thiện, còn áp lực ngân sách ngày càng tăng. Điều này cũng lý giải vì sao, trong hai năm đầu thực hiện Nghị quyết 39 của Trung ương, tổng chi ngân sách thường xuyên cho bộ máy nhà nước lẽ ra phải giảm đi thì lại tăng tới 3,4%.

Mới đây, tại Phiên họp toàn thể của Đoàn giám sát của Quốc hội, Lãnh đạo Văn phòng Chính phủ cho rằng, vẫn cần thiết phải có hợp đồng chuyên môn, nghiệp vụ vì nếu không cho phép các cơ quan, bộ, ngành, địa phương ký hợp đồng với người lao động thì không thể hoàn thành được khối lượng công việc hiện nay. Bản thân hợp đồng 68 và hợp đồng khác không có lỗi nhưng rõ ràng, nó đã trở thành lá chắn để biện minh cho việc không quyết liệt tinh giản biên chế.

Và như vậy, câu hỏi cuối cùng là, nếu không còn hợp đồng 68, không còn hợp đồng khác thì các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, đơn vị sự nghiệp có bắt buộc phải tập trung vào tinh giản biên chế theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước hay không?

Kinh nghiệm cho thấy, khi không còn đường lùi, không còn có thể du di được thì để tồn tại người ta chỉ có một cách: Đó là, phải xử lý triệt để những bộ phận dư thừa, không đáp ứng được yêu cầu về năng lực, trình độ, đạo đức. Tinh giản biên chế cũng vậy. Những người yếu kém trong biên chế phải được đưa ra khỏi bộ máy, nhường chỗ cho những người xứng đáng hơn, trong đó có cả những người thuộc diện hợp đồng 68 và hợp đồng khác hiện nay thì mới có thể nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. (Đại Biểu Nhân Dân 21/8, tr2) Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Có những cán bộ công chức “đánh trống ghi danh”

Mới đây, làm việc với Cục Kiểm soát thủ tục hành chính của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, trong công tác cải cách thủ tục hành chính, nếu không chuyển biến cần có chế tài thực hiện, đặc biệt, bản thân cán bộ nào không chịu cải cách phải loại cán bộ đó ra khỏi bộ máy.

Làm thế nào để loại bỏ cán bộ, công chức vô trách nhiệm, không thực thi đúng nhiệm vụ hay không chịu cải cách chính bản thân mình, là nội dung cuộc trao đổi của phóng viên VOV với ông Lưu Bình Nhưỡng, Ủy viên Thường trực Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội.

Theo đó, ông Nhưỡng cho rằng: Trước hết từ bản thân cán bộ công chức viên chức phải luôn tự cập nhật, trau dồi kiến thức lý luận, chuyên môn nghiệp vụ, phải thực hiện một cách mẫn cán và tận tụy đối với công việc; phải biết rèn luyện tác phong, thái độ làm việc, tinh thần phục vụ nhân dân.

Về phía Nhà nước, người quản lý Nhà nước cần thực hiện “2 siết, 1 bỏ”, tức là siết chặt chất lượng đầu vào và siết chặt quá trình quản lý cán bộ công chức, viên chức; sẵn sàng và kiên quyết loại bỏ cán bộ công chức, viên chức yếu kém, vi phạm; đồng thời thực hiện đồng bộ các giải pháp, hoàn thiện thể chế quản lý, đảm bảo các điều kiện hoạt động, nâng cao chất lượng các khâu đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp, bổ nhiệm, luân chuyển đề bạt vào các vị trí lãnh đạo quản lý; cải cách chế độ tiền lương, thực hiện nghiêm chế độ khen thưởng kỷ luật đối với cán bộ công chức viên chức.

Như vậy phải từ cả 2 phía, Nhà nước và công chức đều phải tự cải cách, tạo nên sự hoàn thiện để có được đội ngũ cán bộ công chức viên chức chất lượng cao.

Chúng ta nói nhiều nhưng làm chưa đạt. Cụ thể là thời gian qua, rất nhiều cán bộ được tuyển dụng vào các cơ quan Nhà nước một cách không minh bạch; chất lượng cán bộ được tuyển kém, không đạt tiêu chuẩn; bổ nhiệm một cách thần tốc; khi có vi phạm lại không xử lý dẫn đến việc “tẩu tán nhân sự”, và cho đến giờ cán bộ có trách nhiệm để xảy ra những sai phạm cũng chưa thấy bị xử lý. Vụ việc cứ thế “chìm xuồng”, nhân dân làm sao có thể đồng tình.

Do vậy, những sai phạm cần phải xử lý công bằng, triệt để nếu không dẫn đến tình trạng “đánh trống bỏ dùi” và rất nguy hiểm ở chỗ, người dân không tin tưởng, còn người vi phạm, cán bộ công chức không biết sợ, người ta sẽ tiếp tục làm sai, thậm chí còn sai phạm lớn hơn sai phạm trước.

Cũng theo ông Nhưỡng: Nếu nhìn về hệ thống chế tài xử lý của nước ta là khá nhiều, về hành chính, dân sự, hình sự rồi chế tài về trách nhiệm, tinh thần, vật chất, có thể tuy theo mức độ sai phạm để áp dụng cho phù hợp. Quan trọng là việc phát hiện và xử lý cho nghiêm và hiệu quả, chúng ta đang thiếu khâu này. Vì vậy cần có nghiên cứu hết sức nghiêm túc, toàn diện để có thể đề ra chính sách xử lý thật nghiêm, để cán bộ đương chức cũng như đã nghỉ việc cũng phải nhìn nhận vào những chế tài đó để thực hiện tốt nhiệm vụ, công việc của mình, tránh hiện tượng bị xử lý theo những chế tài đó.

Bên cạnh việc quản lý chặt, xử lý nghiêm, cũng cần tăng cường tuyên truyền giáo dục, nêu gương tốt để cái tốt trở thành chủ đạo, có tính lan tỏa, tạo được sự liêm sỉ, trở thành một đạo lý để lấn át những cái đen tối, ác độc, vô cảm, ỷ lại vốn đã trở thành “căn bệnh” đã ăn vào cơ thể con người, cần phải có những loại kháng sinh để làm trong sạch đội ngũ cán bộ công chức của Đảng và Nhà nước. (VOV.vn 21/8) Về đầu trang

Bình Định: Tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính

Phó Chủ tịch UBND huyện Tây Sơn Bùi Văn Mỹ vừa ký văn bản yêu cầu Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương nghiêm túc thực hiện một số nhiệm vụ để tiếp tục tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính.

Cụ thể, lãnh đạo các phòng, ban, ngành và UBND các xã, thị trấn tiếp tục tăng cường chỉ đạo thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính và nội quy, quy chế làm việc; bố trí thời gian tham gia đầy đủ, đúng giờ các cuộc họp do UBND huyện tổ chức. Khi nhận được giấy mời họp, lãnh đạo các đơn vị, địa phương cử cán bộ tham dự đúng thành phần được mời, hạn chế cử người họp thay, tham dự suốt thời gian họp, không tự ý vắng mặt. Trường hợp có công việc đột xuất không thể tham dự hoặc không tham dự đầy đủ nội dung chương trình, phải báo cáo và được sự đồng ý của người chủ trì cuộc họp.

Chủ tịch UBND huyện Hoài Ân Hoàng Phi Long cũng vừa ký quyết định thành lập Tổ kiểm tra việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính trong các cơ quan nhà nước trên địa bàn huyện. Tổ kiểm tra có trách nhiệm tổ chức kiểm tra việc chấp hành Chỉ thị số 23/CT-UBND ngày 11.10.2016 của Chủ tịch UBND tỉnh về tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu về cải cách hành chính và chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan nhà nước các cấp; kiểm tra việc chấp hành các quy định trong thực thi công vụ và sau khi tiếp nhận các phản ánh kiến nghị của công dân, tổ chức; đề nghị xử lý các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động. (Báo Bình Định 20/8) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Cao Bằng cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh

Ngày 19.8, Cao Bằng tổ chức tọa đàm “Cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) tỉnh Cao Bằng: Thực trạng và giải pháp”.

Trong những năm qua, tỉnh Cao Bằng đã kịp thời chỉ đạo, triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, nhà đầu tư. Tuy nhiên, qua khảo sát, điều tra cho thấy, doanh nghiệp đánh giá về chất lượng điều hành kinh tế và môi trường kinh doanh của tỉnh còn một số mặt chưa tốt. Điều này thể hiện ở kết quả xếp hạng PCI năm 2016 của tỉnh Cao Bằng đạt ở mức thấp. Cụ thể, theo kết quả VCCI công bố ngày 13.4.2017, Cao Bằng đạt 52,99 điểm (thấp hơn năm 2015 1,45 điểm), xếp hạng 63/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Một số chỉ số thành phần của PCI như: chi phí thời gian thực hiện các quy định của Nhà nước, chỉ số gia nhập thị trường, chỉ số tiếp cận đất đai, tính minh bạch và tiếp cận thông tin… đều tụt điểm so với với năm 2015.

Tại buổi tọa đàm, Trưởng ban Pháp chế VCCI Đậu Anh Tuấn đã phân tích, đánh giá kết quả PCI năm 2016 của Cao Bằng; đồng thời đề nghị tỉnh tạo thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường, tiếp cận đất đai và ổn định sử dụng đất, môi trường kinh doanh cần minh bạch, bình đẳng hơn. Bên cạnh đó, theo ông Đậu Anh Tuấn, Cao Bằng cần giảm bớt thủ tục hành chính, chi phí không chính thức cho doanh nghiệp; tăng cường tiếng nói và xây dựng niềm tin với doanh nghiệp; linh hoạt và sáng tạo hơn trong lãnh đạo; lưu ý công tác thanh tra, kiểm tra… cải thiện nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh những năm tiếp theo.

Ông Lê Đăng Doanh, Nguyên Viện trưởng CIEM đã đưa ra một số gợi ý để kinh tế Cao Bằng có thể phát triển bền vững như: Đổi mới tư duy, đón nhận thay đổi, công nghệ mới, trọng dụng nhân tài; xây dựng phân tích SWOT (mạnh - yếu - cơ hội - thách thức), khắc phục yếu kém phát triển doanh nghiệp tư nhân, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cạnh tranh. Tỉnh cũng tập trung phát triển du lịch tạo ra sự khác biệt của Cao Bằng; phát triển sản phẩm đặc trưng của Cao Bằng về nông – lâm – thủy sản, dược liệu; xây dựng những mô hình phát triển kinh tế điển hình…

Kết luận buổi tọa đàm, Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng Hoàng Xuân Ánh ghi nhận những ý kiến đánh giá xác thực của các chuyên gia, doanh nghiệp. Trong thời gian tới, UBND tỉnh sẽ tham vấn thêm mô hình từ các tỉnh, thành phố để vận dụng hiệu quả tại địa phương; quyết tâm đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp. Đồng thời, UBND tỉnh yêu cầu các sở, ban, ngành, địa phương nghiêm túc tiếp thu ý kiến của doanh nghiệp, chuyển thành nhận thức và hành động hàng ngày từ “quản lý” thành “phục vụ”, từ đó đề xuất những biện pháp cụ thể, thiết thực thực hiện các nhóm giải pháp cải thiện PCI. (Đại Biểu Nhân Dân 20/8) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Doanh nghiệp lại bức xúc tố hải quan “ăn” tiền không có hóa đơn

Sau hơn một năm đại diện Phòng Xuất nhập khẩu Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang tố phải trả chi phí ngoài không có hóa đơn cho cán bộ hải quan cảng Đình Vũ, ngày 18/8, đích thân Chủ tịch công ty, ông Đào Hữu Huyền lên tiếng cho biết doanh nghiệp vẫn phải trả chi phí ngoài cho hải quan với mức giảm từ 10 triệu đồng xuống còn 5 triệu đồng/container.

Nói về những khó khăn thách thức với doanh nghiệp tại Hội thảo “Cách mạng Công nghiệp 4.0 – những xu hướng và tác động đến xuất khẩu của Việt Nam” do Cục Xuất nhập khẩu, báo Công Thương tổ chức ngày 18/8, ông Đào Hữu Huyền, Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang nhắc lại câu chuyện hơn một năm rưỡi trước cán bộ công ty cực chẳng đã phải lên tiếng tố cáo và đề nghị Bộ Công Thương làm việc với Tổng cục Hải quan và Chi cục Hải quan ở Hải Phòng để can thiệp hỗ trợ doanh nghiệp không phải trả những “chi phí ngoài” khi làm thủ tục xuất khẩu hàng.

Theo ông Huyền, nhân viên của công ty khi đó đã phải “kêu” về việc cán bộ hải quan cảng Đình Vũ buộc doanh nghiệp phải trả những khoản tiền “không có hóa đơn” khiến chi phí của doanh nghiệp đội lên khá nhiều.

Theo tính toán của lãnh đạo Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang, mỗi một chuyến container đơn của công ty từ Lào Cai về Hải Phòng tính tất cả các chi phí khoảng 1,6 triệu đồng. Còn với container kép chi phí là 2,4 triệu đồng. Với một doanh nghiệp xuất khẩu như Bột giặt và Hóa chất Đức Giang những khoản chi phí như vậy là lớn.

“Tại hội nghị lần trước, sau khi nhân viên của tôi tố cáo phải trả phí ngoài cho cán bộ hải quan (hải quan cảng Đình Vũ) 10 triệu đồng/container thì nay chi phí ngoài giảm xuống còn 5 triệu đồng/container. Tính ra, mỗi tấn hàng xuất ở Hải Phòng, cộng phí nọ phí kia khoảng 3 USD, cộng các chi phí vận chuyển đường cao tốc 5 USD/tấn. Như vậy, mỗi tấn hàng chúng tôi bị mất thêm 8 USD”, ông Huyền cho hay.

Trao đổi với phóng viên Tiền Phong bên lề hội thảo về những khoản chi phí ngoài không chính thức phải trả cho hải quan ở cảng Đình Vũ, ông Huyền cho biết, chi phí ngoài cho hải quan là cả câu chuyện dài. Chưa nói, doanh nghiệp phải trả nhiều khoản không chính thức khác nữa, tuy nhiên, nói ra thì rất... “động chạm”.

“Hôm nay tôi chỉ “hé tí” về cảng Đình Vũ. Họ “trấn” doanh nghiệp mình lắm. Sau khi báo đăng, hải quan bắt bên tôi rút lại lời phát biểu đó nhưng tôi không rút. Giờ tình hình chỉ đỡ tí, giảm từ 10 triệu đồng/container xuống còn 5 triệu đồng/container”, ông Huyền nói.

Tuy nhiên, trao đổi qua điện thoại, ông Nguyễn Kiên Giang, Cục phó Cục Hải quan TP. Hải Phòng lại khẳng định chưa nhận được phản ánh chính thức từ doanh nghiệp này.

“Quan điểm của chúng tôi luôn hỗ trợ giải quyết nhanh chóng, tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp làm thủ tục hải quan, xuất nhập khẩu. Do vậy, đề nghị doanh nghiệp liên hệ trực tiếp với lãnh đạo Cục Hải quan TP. Hải Phòng để xác minh, giải quyết theo đúng pháp luật” – ông Giang nói t. Cũng theo Cục phó Cục Hải quan TP. Hải Phòng, nếu có đầy đủ căn cứ, khẳng định có việc cán bộ hải quan nhũng nhiễu, phiền hà cho doanh nghiệp, hải quan sẽ xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Trước đó, tại Hội nghị “Nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua kết nối doanh nghiệp xuất nhập khẩu và Hiệp hội chủ hàng” do Bộ Công Thương tổ chức ngày 14/1/2016, đại diện Phòng xuất nhập khẩu Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang bức xúc và đề nghị Bộ Công Thương làm việc với Tổng cục Hải quan và Chi cục Hải quan ở Hải Phòng để can thiệp hỗ trợ doanh nghiệp không phải trả những “chi phí ngoài” khi làm thủ tục xuất khẩu hàng.

Theo vị này, doanh nghiệp xuất khẩu rất nỗ lực mới tìm kiếm được các hợp đồng nhưng khi xuất khẩu buộc phải trả những khoản tiền “không có hóa đơn” khiến chi phí của doanh nghiệp đội lên khá nhiều. Tính trung bình doanh nghiệp phải chi khoảng 10 - 15 triệu đồng phí ngoài cho các khâu làm thủ tục hải quan cho mỗi container hàng xuất khẩu.

“Mỗi lô hàng khi nhập hay xuất khẩu, khi làm tờ khai hải quan ở cảng Đình Vũ ngoài thu phí cảng biển, chúng tôi phải trả thêm hơn 100 nghìn đồng/container tiền “phí kiểm tra tờ khai” với mỗi lô hàng nhỏ. Với những lô hàng lớn, khoảng 7.000-8.000 tấn, doanh nghiệp phải trả thêm 6,5 triệu đồng tiền phí ngoài.

Trước đây, hàng chúng tôi xuất khẩu đi thường bị xếp vào luồng đỏ (bị kiểm tra), mỗi lần như vậy lại phải mất thêm 5 triệu đồng nữa. Chúng tôi cũng đã phải gửi công văn lên Bộ Công Thương, Tổng cục Hải quan đề nghị can thiệp”, vị này cho biết.

Sau khi báo Tiền Phong đăng tải thông tin doanh nghiệp tố bị hải quan cảng Đình Vũ vòi vĩnh, ăn tiền không có hóa đơn, ngày 18/1/2016, Phó cục trưởng Hải quan Hải Phòng Nguyễn Hữu Thọ có văn bản gửi báo Tiền Phong cho hay đã kiểm tra, xác minh các thông tin và làm việc trực tiếp với đại diện cán bộ làm thủ tục xuất nhập khẩu của Công ty Cổ phần Bột giặt và Hóa chất Đức Giang Giang (không có sự chứng kiến của báo chí tại buổi làm việc) để chứng minh là không có chuyện phải chi tiền bồi dưỡng ngoài và thủ tục xuất khẩu hàng của doanh nghiệp luôn được tạo điều kiện thuận lợi. (Tiền Phong 21/8) Về đầu trang

Doanh nghiệp chỉ mất 45 giờ để hoàn thành thủ tục kê khai tham gia BHXH bắt buộc

Theo báo cáo của BHXH Việt Nam, những năm qua, toàn ngành BHXH đã có nhiều nỗ lực trong công tác cải cách thủ tục hành chính (TTHC) và ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong quản lý các hoạt động nghiệp vụ của ngành với mục tiêu phục vụ doanh nghiệp, người lao động và nhân dân ngày một tốt hơn. Các hoạt động ứng dụng CNTT của ngành đã đáp ứng yêu cầu của Chính phủ trong thực hiện cải cách TTHC và Chính phủ điện tử...

Ông Lê Anh Sơn - Giám đốc Trung tâm Công nghệ thông tin của BHXH Việt Nam cho biết, BHHX Việt Nam đã tiến hành cung cấp đầy đủ thông tin trên Cổng Thông tin điện tử. Ngành BHXH đã triển khai 14 dịch vụ công trực tuyến mức độ cao (mức độ 3, 4). Nhiều dịch vụ công có số lượng hồ sơ giao dịch cao như: Điều chỉnh đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp, đơn vị tham gia lần đầu là hơn 18,5 triệu hồ sơ; cấp thẻ BHYT của người chỉ tham gia BHYT là hơn 4,03 triệu; cấp thẻ BHYT của người chỉ tham gia BHYT (do xã/phường/thị trấn quản lý) là hơn 4,03 triệu;...

Trong năm 2015, BHXH Việt Nam đã thúc đẩy mạnh mẽ việc tiếp nhận hồ sơ và giải quyết TTHC theo cơ chế một cửa, triển khai GDĐT trên phạm vi toàn quốc đối với việc đăng ký, thu nộp BHXH. Để thực hiện có hiệu quả công tác cải cách TTHC, BHXH Việt Nam đã thành lập Tổ cán bộ chuyên trách, rà soát tổng thể 115 TTHC của ngành. Riêng trong năm 2015, số TTHC đã giảm từ 115 thủ tục xuống còn 33 thủ tục; giảm 56% số lượng hồ sơ; giảm 82% chỉ tiêu trên tờ khai, mẫu biểu; giảm 78% quy trình, thao tác thực hiện. Đồng thời, BHXH Việt Nam đã quy định nhiều hình thức tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả để doanh nghiệp lựa chọn như: GDĐT, giao dịch qua dịch vụ bưu chính,…

Năm 2016, BHXH tiếp tục cắt giảm thêm 1 TTHC, từ 33 thủ tục xuống còn 32 thủ tục; giảm 38% số lượng hồ sơ; giảm 42% chỉ tiêu trên tờ khai, mẫu biểu; giảm 54% quy trình, thao tác thực hiện. Đến năm 2017, BHXH tiếp tục cắt giảm thêm 4 TTHC, từ 32 thủ tục xuống còn 28 thủ tục. BHXH Việt Nam cũng rút ngắn thời gian hoàn thành thủ tục kê khai tham gia BHXH bắt buộc đối với doanh nghiệp xuống còn 45 giờ. (Sức Khỏe & Đời Sống 21/8) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Trung Quốc tiếp tục cải cách thuế VAT

Trung Quốc sẽ tiếp tục cải cách thuế giá trị gia tăng (VAT) trong nỗ lực nhằm thúc đẩy nền kinh tế thông qua cắt giảm thuế. Đây là thông báo vừa được Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đưa ra.

Chính sách này đang tạo ra động lực mới cho kinh tế tăng trưởng ở tốc độ trung bình hoặc cao hơn. Bắc Kinh dự kiến sẽ điều chỉnh thủ tục nộp thuế, áp dụng công nghệ thông tin để tạo điều kiện cho việc nộp thuế trở nên dễ dàng hơn.

Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc sẽ cải thiện tình hình trong các lĩnh vực như chế tạo, tài chính, xây dựng, nhằm tối ưu hóa hệ thống thuế và đưa ra mức thuế hợp lý. Các điều luật cũng sẽ được cân nhắc lại cho phù hợp với hệ thống mới.

Thống kê cho thấy việc cắt giảm thuế đã giúp các doanh nghiệp Trung Quốc tiết kiệm 1.600 tỷ Nhân dân tệ, tương đương với 244 tỷ USD trong những năm qua. (Kênh VTV8 – Tin tức ngày 20/8)Về đầu trang./.

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.053.612 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này