Bản tin cải cách hành chính ngày 20/4/2021

16:5, Thứ Ba, 20-4-2021

Xem với cỡ chữ : A- A A+

TIN TỨC – SỰ KIỆN

1. Công bố Báo cáo Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

2. Hà Nội: Xóa bỏ “xin - cho” giúp tăng hiệu quả phòng, chống tham nhũng

3. TPHCM đẩy mạnh cải cách hành chính

4. Bình Phước: Đến ngày 19/5 phải đồng bộ hóa 100% thủ tục hành chính điện tử

5. Đà Nẵng ký kết với Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán triển khai chuyển đổi số

6. Đồng Nai: Nỗ lực hơn trong cải thiện năng lực cạnh tranh

7. Thanh Hóa: Phòng họp không giấy – hướng tới xây dựng chính quyền điện tử

8. Điện Biên: Đẩy mạnh cải cách hành chính trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

9. Cải cách lương hưu

10. Tạo thuận lợi cho lao động nước ngoài tham gia BHXH

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

11. Tự kiểm tra nội bộ vẫn là khâu yếu!

 

TIN TỨC – SỰ KIỆN

Công bố Báo cáo Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam

Sáng 20-4, tại Hà Nội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội thảo công bố Báo cáo Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam.

Với sự hỗ trợ của Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) thông qua Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Chương trình Aus4Reform), VCCI đã thực hiện Báo cáo Chương trình cải cách môi trường kinh doanh Việt Nam: Góc nhìn từ doanh nghiệp (báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết 02 năm 2020 và Nghị quyết 35 năm 2016 của Chính phủ).

Báo cáo này phản ánh các hoạt động của các cơ quan nhà nước liên quan đến môi trường đầu tư kinh doanh trong thời gian qua và sự hài lòng của các doanh nghiệp đối với các hoạt động đó. Chất liệu cho việc xây dựng báo cáo là những thông tin thực tế của các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh trong mối quan hệ tương tác với các cơ quan nhà nước-những thông tin chân thực mà VCCI thu thập và chắt lọc từ nhiều cuộc điều tra, khảo sát, đối thoại chính sách... trong quá trình thực hiện vai trò là tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp ở Việt Nam. Ngoài phản ánh các trải nghiệm thực tiễn của doanh nghiệp, báo cáo cũng sẽ cố gắng xác định nguyên nhân và đưa ra kiến nghị đối với các cơ quan nhà nước liên quan để lựa chọn những giải pháp phù hợp nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Cải thiện môi trường kinh doanh và phát triển doanh nghiệp là một trong những trọng tâm chính sách của Chính phủ trong thời gian qua. Liên tục trong bảy năm qua, mỗi năm Chính phủ đã ban hành một Nghị quyết về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia (Nghị quyết số 19/NQ-CP các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 2018 và Nghị quyết số 02/NQ-CP năm 2019 và 2020). Loạt nghị quyết này tập trung vào những nội dung rất quan trọng như cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, cắt giảm kiểm tra chuyên ngành hàng hóa, đơn giản hóa thủ tục hành chính cho doanh nghiệp, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý nhà nước... Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 35/NQ-CP năm 2016 đặt ra những nguyên tắc và mục tiêu quan trọng cho việc phát triển các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam trong giai đoạn 5 năm 2016-2020.

Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI đã tổng hợp lại những thay đổi môi trường đầu tư kinh doanh tại Việt Nam trong thời gian qua, điểm lại những hoạt động mà Chính phủ đã đề ra cùng với kết quả tích cực đạt được thông qua doanh nghiệp. Có thể kể đến như môi trường kinh doanh đã trở nên an toàn hơn giữa các thành phần kinh tế, thủ tục hành chính đã được cải thiện, chi phí không chính thức có chiều hướng giảm...

Tuy nhiên, Chủ tịch VCCI cũng thẳng thắn chỉ ra những thách thức với việc cải thiện môi trường kinh doanh trong 5 năm tới sẽ khó khăn hơn so với những gì đã làm được. Đây chính là lúc cần có sự chung tay góp sức của các doanh nghiệp, các hiệp hội doanh nghiệp, các cơ quan, từng cán bộ trong bộ máy nhà nước, không chỉ bằng công sức mà còn bằng cả trí tuệ để có thể tiếp tục đưa môi trường kinh doanh của Việt Nam tiến lên. (Qdnd.vn 20/4, Băng Châu)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Xóa bỏ “xin - cho” giúp tăng hiệu quả phòng, chống tham nhũng

Theo đánh giá của UBND TP Hà Nội, trong những năm qua, Hà Nội đã tập trung thực hiện hiệu quả các nhóm giải pháp về phòng, chống tham nhũng (PCTN).

Trong đó, cùng với việc tăng cường công khai, minh bạch trong hoạch định chính sách, xây dựng và thực hiện pháp luật; nâng cao chất lượng thực thi công vụ, TP cũng tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; xử lý vi phạm.

Theo UBND TP Hà Nội, từ năm 2009 đến tháng 6/2020, qua công tác kiểm tra nội bộ, chưa phát hiện và xử lý trường hợp tham nhũng nào. Từ ngày 1/6/2009 đến 1/6/2020, qua thanh tra đã phát hiện sai phạm trên 3.597 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách Nhà nước trên 2.380 tỷ đồng, kiến nghị khác trên 1.185 tỷ đồng; kiến nghị thu hồi trên 2.000ha đất, xử lý hành chính 523 tập thể và 579 cá nhân; xử phạt vi phạm hành chính trên 375 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra 57 cuộc.

Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã kiến nghị thu hồi 22,5 tỷ đồng và 17,5ha đất; kiến nghị trả lại quyền lợi cho công dân 43,8 tỷ đồng và 3,7ha đất; kiến nghị điều chỉnh 109 phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng; bán bổ sung 8 nhà tái định cư, thu hồi và điều chỉnh 31 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; xử lý về hành chính 229 tập thể và 389 cá nhân; chuyển cơ quan điều tra 30 vụ. Số tài sản thất thoát trong các vụ án tham nhũng đã xét xử là trên 15.687 tỷ đồng, 52.221m2 đất, 1.774m2 đất phi nông nghiệp, 79.896 USD, 2.750 Euro. Số tiền tài sản trong các vụ án tham nhũng xét xử đã được thu hồi là hơn 7.623 tỷ đồng...

Phó Chánh Thanh tra TP Nguyễn Xuân Minh cho biết, dự báo tình hình tham nhũng trên địa bàn Hà Nội vẫn diễn biến phức tạp và tiềm ẩn trong nhiều lĩnh vực như: tín dụng, ngân hàng; quản lý, sử dụng đất đai, GPMB; đầu tư xây dựng; tài chính, thuế... với tính chất ngày càng phức tạp; thủ đoạn tinh vi hơn; phạm vi, lĩnh vực ngày càng rộng.

Đặc biệt, vẫn còn dư luận về tình trạng nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, nhiệm vụ. Một số vụ tham nhũng được phát hiện trong lĩnh vực y tế, thực hiện chế độ chính sách người có công đã gây bức xúc dư luận…

Theo Phó Chủ tịch UBND TP Nguyễn Trọng Đông, các cấp, các ngành phải quán triệt mục tiêu, quan điểm, nội dung và giải pháp trong các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và các quy định của pháp luật về PCTN trên tinh thần kiên quyết, kiên trì, quyết tâm thực hiện mục tiêu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí; tạo bước chuyển biến rõ rệt để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của Nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính”.

Cùng đó, tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, pháp luật trên các lĩnh vực, xóa bỏ tình trạng “xin - cho”, tập trung trong các lĩnh vực: Đầu tư xây dựng, quản lý đất đai, tài nguyên, tín dụng, mua sắm tài sản công, tổ chức cán bộ, quản lý DN Nhà nước. Cùng với đó là việc tăng trách nhiệm giải trình của cán bộ, công chức, viên chức… (Kinhtedothi.vn 20/4, Hồng Thái)Về đầu trang

TPHCM đẩy mạnh cải cách hành chính

UBND TP Hồ Chí Minh vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình cải cách hành chính (CCHC) và giải pháp nâng cao Chỉ số CCHC trên địa bàn thành phố giai đoạn 2020 - 2025.

Mục tiêu cụ thể mà thành phố đề ra là phấn đấu đưa Chỉ số CCHC của thành phố trong giai đoạn 2020 - 2025 thuộc nhóm năm địa phương dẫn đầu cả nước; có 90% sở, ngành, UBND thành phố Thủ Ðức và các quận, huyện được đánh giá Chỉ số CCHC đạt từ loại tốt trở lên. Ðồng thời, hoàn thiện tổ chức chính quyền đô thị và tiếp tục rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan thuộc UBND thành phố và các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã phù hợp với đặc điểm của thành phố; gắn công tác cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước với tham mưu phân cấp, ủy quyền, xây dựng và phát triển chính quyền điện tử; đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy trong từng nội bộ cơ quan, đơn vị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có chất lượng cao, có số lượng, cơ cấu hợp lý, chú trọng cải cách tiền lương cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Về tỷ lệ khảo sát ý kiến hài lòng, thành phố phấn đấu đến năm 2025, mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước ở từng lĩnh vực đạt 95% trở lên. Hơn 60% thủ tục hành chính (TTHC) thuộc thẩm quyền giải quyết của thành phố đủ điều kiện được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4. Tất cả văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên mạng điện tử trừ các văn bản thực hiện theo chế độ "mật". 100% các sở, ngành, UBND thành phố Thủ Ðức, quận, huyện ứng dụng thanh toán điện tử trong giải quyết TTHC...

Ðể thực hiện mục tiêu trên, thành phố tiếp tục ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động quản lý công tác CCHC, duy trì, phát triển và sử dụng có hiệu quả Hệ thống quản lý công tác CCHC thành phố đến phường, xã, thị trấn, kết nối với hệ thống dữ liệu dùng chung của thành phố. Song song đó, thành phố tập trung phát triển hạ tầng in-tơ-nét vạn vật (IoT), xây dựng lộ trình và triển khai tích hợp cảm biến và ứng dụng công nghệ số vào các hạ tầng thiết yếu như giao thông, môi trường, năng lượng, điện, nước... để chuyển đổi thành một bộ phận cấu thành quan trọng của hạ tầng số.

Ðến năm 2025, xây dựng hạ tầng IoT bao gồm cảm biến IoT theo các lĩnh vực khác nhau phục vụ nhu cầu về quản lý và phát triển đô thị. Cùng với đó, thành phố chú trọng tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, công chức ở các bộ phận liên quan đến giải quyết TTHC để thực hiện tốt nhiệm vụ trong bối cảnh công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay. (Nhân dân 20/4, Trang TPHCM)Về đầu trang

Bình Phước: Đến ngày 19/5 phải đồng bộ hóa 100% thủ tục hành chính điện tử

Phát biểu tại Hội nghị triển khai công tác chống thất thu và thu nộp ngân sách do Cục Thuế Bình Phước chủ trì mới đây, bà Trần Tuệ Hiền - Chủ tịch UBND tỉnh cho biết, tỉnh đang quyết tâm đến ngày 19/5 phải đồng bộ hóa 100% thủ tục hành chính theo phương thức điện tử liên thông.

Theo bà Hiền, sau một thời gian triển khai quyết liệt với quyết tâm cao của các cấp lãnh đạo, của cả hệ thống chính trị, các ngành chức năng Bình Phước đã nâng bậc xếp hạng cải cách thủ tục hành chính từ 47 lên 15 trong cả nước.

Đầu năm 2021, UBND tỉnh đã có văn bản chỉ đạo kèm theo nhiều cuộc họp triển khai lộ trình cải cách hành chính với quyết tâm đến ngày 19/5/2021 toàn tỉnh phải hoàn thành đồng bộ hóa 100% bộ thủ tục hành chính một cửa liên thông.

Cũng theo bà Hiền, trong khoảng 1 tuần đầu tháng 4/2021, các đơn vị sở, ngành, địa phương phải làm việc cật lực để hoàn thành đồng bộ hóa khoảng 500 bộ thủ tục hành chính, dịch vụ công.

Trong số đó, các ngành thuộc Bộ Tài chính gồm: Thuế, Hải quan, Kho bạc nhà nước… có số lượng thực hiện cải cách đồng bộ hóa thủ tục hành chính chiếm tỷ rất lớn, rất hiệu quả trong chương trình tổng thể. 

Hiện nay tại một số địa phương của tỉnh Bình Phước, thị trường bất động sản đang ấm lên cũng là thời điểm tỷ lệ người dân đến các cơ quan thuế, tài nguyên - môi trường, chính quyền UBND các cấp để làm thủ tục chuyển nhượng, cấp phép rất đông. Các đơn vị này đã phải bố trí tối đa nhân lực làm việc cả ngoài giờ, thêm giờ nhưng vẫn không thể đáp ứng nhu cầu.

Theo bà Hiền, nếu việc đồng bộ hóa thủ tục hành chính điện tử được áp dụng hoàn thành và thông suốt sẽ giải quyết một khối lượng công việc rất lớn, nhanh nhất, hiệu quả nhất, giúp giảm tải cho cả người dân và cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này. (Thoibaotaichinhvietnam.com.vn 19/4, Gia Cư)Về đầu trang

Đà Nẵng ký kết với Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán triển khai chuyển đổi số

Chiều 19-4, tại Hội thảo “Xu hướng ứng dụng công nghệ Blockchain cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp”, Sở Thông tin – Truyền thông (TT-TT) TP Đà Nẵng và Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác giữa hai đơn vị về “Chuyển đổi số giai đoạn 2021 - 2025” nhằm túc đẩy tiến trình chuyển đổi số tại địa phương.

Theo thoả thuận, hai bên sẽ tăng cường hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, hỗ trợ triển khai chuyển đổi số và chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học 2021-2030 tại TP Đà Nẵng. Các bên sẽ chia sẻ các mô hình ứng dụng toán học phục vụ chuyển đổi số, hỗ trợ giải quyết các bài toán mới trong quá trình chuyển đổi số tại Đà Nẵng.

Ngoài ra, Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán sẽ hỗ trợ chuyển giao và ứng dụng công nghệ số cho các cơ quan, doanh nghiệp của TP Đà Nẵng và chia sẻ những bài học thành công, thất bại trong chuyển đổi số tại một số địa phương trong ngoài nước.

Bên cạnh đó, hai bên sẽ phối hợp và hỗ trợ trong việc tập huấn, hướng dẫn, hội thảo về chuyển đổi số. Đặc biệt là tập huấn kỹ năng phân tích và xử lý dữ liệu cho cán bộ công chức viên chức TP Đà Nẵng, phối hợp và hỗ trợ trong việc xác định vấn đề và giải pháp xây dựng chính quyền số, kinh tế số và xã hội số của TP Đà Nẵng...

Tại hội thảo, Tiến sĩ Nguyễn Quang Thanh, Giám đốc Sở TT-TT TP Đà Nẵng cho hay, Đà Nẵng xác định chuyển đổi số là “chìa khóa chính” để chủ động tiếp cận cuộc cách mạng lần thứ tư theo chủ trương của Bộ Chính trị. Đây là bước chuyển tất yếu, mang tính bắt buộc, nhằm chuyển đổi căn bản, toàn diện hoạt động lãnh đạo của các cấp; hoạt động quản lý, điều hành của chính quyền…

Theo Tiến sĩ Thanh, cần có thêm nhiều hội thảo để Blockchain không chỉ dừng lại ở “đồng tiền kỹ thuật số”, mà sẽ có nhiều đề xuất hơn việc ứng dụng trong các chính quyền số, xã hội số để xây dựng nền kinh tế số phát triển và thành công. (Sggp.org.vn 19/4, Xuân Quỳnh)Về đầu trang

Đồng Nai: Nỗ lực hơn trong cải thiện năng lực cạnh tranh

Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2020 của 63 tỉnh, thành phố trên cả nước. Theo đó, 3 vị trí cao nhất là Quảng Ninh, Đồng Tháp, Long An. Đối với Đồng Nai, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2020 đã tăng 3 bậc so với năm 2019, 6 bậc so với 2018 và xếp thứ 20/63 tỉnh, thành phố.

Báo cáo PCI nhằm đánh giá, xếp hạng môi trường kinh doanh và chất lượng điều hành kinh tế của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Không chỉ có bảng xếp hạng PCI năm 2020, phân tích về chuyển động của môi trường kinh doanh năm 2020 và giai đoạn 2016-2020 vừa qua, Báo cáo PCI 2020 còn định vị sức hấp dẫn của Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư và phản ánh kỳ vọng về các nỗ lực cải cách trong 5 năm tới.  Theo VCCI, chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh tại Việt Nam cải thiện theo thời gian. Khoảng cách điểm số giữa tỉnh có kết quả PCI cao nhất và tỉnh có kết quả thấp nhất tiếp tục có xu hướng thu hẹp.

Trong vài năm trở lại đây, bộ chỉ số PCI đã trở thành thước đo không thể thiếu trong đánh giá sự phát triển của mỗi địa phương. Từ những điểm số thông qua đánh giá của các nhà chuyên môn đã cho thấy trách nhiệm, sự nỗ lực của các địa phương trong việc cải thiện thủ tục hành chính, tạo sự thông thoáng cho môi trường hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Với những địa phương được đánh giá cao trong bảng xếp hạng thì trên thực tế cũng là các ngôi sao đang lên trong bức tranh kinh tế chung. Quảng Ninh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Long An, Đồng Tháp, Bình Dương... năm nay đều thuộc tốp cao của cả nước và đó cũng là những địa phương hết sức năng động. Các tỉnh, thành nỗ lực để giữ vững, nâng hạng chỉ số PCI của mình bởi điều này còn tạo ra cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực về thu hút đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh.

Đối với Đồng Nai, kết quả xếp hạng PCI được VCCI công bố đã có chuyển biến tích cực. Những năm gần đây, năm sau cao hơn năm trước 3 bậc trên bảng xếp hạng, tuy nhiên so với vị thế về quy mô kinh tế, số lượng doanh nghiệp và tiềm năng phát triển thì tốc độ cải thiện chỉ số PCI vẫn còn chậm.

Kinh tế Đồng Nai đứng nhóm đầu nhưng chỉ số PCI đang còn đứng ở nhóm hạng khá cho thấy vẫn còn cần sự nỗ lực rất nhiều. Những cam kết, quyết định, chỉ đạo từ cấp lãnh đạo địa phương rất quan trọng nhưng quan trọng hơn là trách nhiệm, thái độ của bộ phận thừa hành, cán bộ cấp cơ sở, bởi đây là những người gần gũi nhất với doanh nghiệp. Chất lượng điều hành của bộ máy chính quyền vì thế là yếu tố đầu tiên, cần được chú ý chứ không chỉ những yếu tố có sẵn khác như: vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng hay quy mô thị trường... (Baodongnai.com.vn 19/4, Văn Gia)Về đầu trang

Thanh Hóa: Phòng họp không giấy – hướng tới xây dựng chính quyền điện tử

Giảm văn bản hành chính trong mỗi cuộc họp, tiết kiệm chi phí in ấn tài liệu, rút ngắn thời gian chuẩn bị họp, tăng cường sự tương tác giữa các thành viên dự họp, nâng cao chất lượng công tác chỉ đạo điều hành... là những hiệu quả bước đầu kể từ khi các địa phương triển khai hệ thống “Phòng họp không giấy”. Với nhiều ưu điểm nổi trội, “Phòng họp không giấy” cần được nhân rộng, tạo bước tiến mới trong công tác cải cách hành chính.

TP Thanh Hóa là địa phương đầu tiên trong tỉnh áp dụng hệ thống “Phòng họp không giấy”. Trước đây, để chuẩn bị cho cuộc họp giao ban giữa chủ tịch, các phó chủ tịch với các phòng, ban chuyên môn, văn phòng UBND TP Thanh Hóa phải thực hiện rất nhiều công đoạn như tập hợp tài liệu, photo, phân loại tài liệu. Số lượng tài liệu phải photo, in ấn rất nhiều, một số trường hợp nhầm lẫn văn bản khi chia bộ tài liệu; có trường hợp nhầm trang, có trường hợp thiếu văn bản, có trường hợp lẫn nội dung các văn bản với nhau... Từ tháng 8-2019 đến nay, những công đoạn đó đã được thay thế bằng hệ thống “Phòng họp không giấy”.

Mỗi cán bộ UBND TP Thanh Hóa đều có một tài khoản riêng để tự đưa tài liệu lên hệ thống. Trước mỗi cuộc họp, dự thảo nội dung và tài liệu liên quan đến cuộc họp được bộ phận phụ trách tổng hợp gửi lãnh đạo phê duyệt. Sau đó, bộ phận phụ trách cập nhật lên hệ thống để các thành viên tham dự cuộc họp tham chiếu, ghi chú và chuẩn bị ý kiến đóng góp. Khi bắt đầu cuộc họp, trên màn hình của người chủ trì cuộc họp sẽ thấy được những người có mặt thông qua vị trí chỗ ngồi của từng đại biểu, ai vắng người chủ trì sẽ biết ngay. Chức năng này giống như điểm danh tức thời, thay vì phải mất thời gian điểm danh như những cuộc họp trước đây.

Với mô hình này, nguồn tài liệu mở và luôn sẵn sàng để các đại biểu tra cứu trên hệ thống. Sau khi họp xong, kết quả biểu quyết, ý kiến chỉ đạo, kết luận sẽ được tổng hợp và thông báo đến các đơn vị, cá nhân liên quan. Gần 2 năm thực hiện, TP Thanh Hóa đã tổ chức rất nhiều cuộc họp theo hình thức này và đã mang lại nhiều tiện ích thiết thực.

Trước sự phát triển công nghệ thông tin, việc chuyển đổi từ phòng họp truyền thống sang “Phòng họp không giấy” là rất cần thiết. Mô hình nếu được ứng dụng đồng loạt sẽ rất thiết thực, hiệu quả. Đến nay, Thanh Hóa đã có 18 sở, ngành, huyện, thị xã, thành phố triển khai hệ thống “Phòng họp không giấy”. Hướng đến cải cách thủ tục hành chính toàn diện, chuyên nghiệp, hiện đại, tạo lập môi trường làm việc ngày càng công khai, minh bạch và tiện lợi, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị cần vào cuộc quyết liệt, tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để nhân rộng “Phòng họp không giấy”. Việc hình thành nền hành chính không giấy tờ là cơ sở quan trọng để xây dựng thành công đề án chính quyền điện tử tỉnh Thanh Hóa. (Baothanhhoa.vn 19/4, Minh Khôi) Về đầu trang

Điện Biên: Đẩy mạnh cải cách hành chính trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch

Đối với một tỉnh miền núi, biên giới như Điện Biên, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số là chủ yếu thì công tác đăng ký, quản lý hộ tịch càng có ý nghĩa quan trọng.

Có mặt tại phòng Tiếp nhận hồ sơ và Trả kết quả của Sở Tư pháp Điện Biên những ngày tháng 4/2021, rất đông người ra vào. Nét mặt niềm nở, cử chỉ nhẹ nhàng là điều dễ nhận thấy của những cán bộ tư pháp đang tận tình hướng dẫn người dân cách điền thông tin để đăng ký hộ tịch. Không phải chờ đợi lâu, khoảng 15 – 20 phút người dân đến đây đã cầm trên tay tờ giấy cần thiết để ra về. Nhờ đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch nên khi người dân đến phòng một cửa của Sở chỉ cần điền đầy đủ thông tin và nộp các giấy tờ liên quan theo quy định. Mọi thủ tục sẽ được làm nhanh chóng, sớm có kết quả mà không phải chờ đợi lâu hay đi lại nhiều lần như trước đây.

Theo ông Phạm Đình Quế, Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên thông tin: Nhờ được trang bị cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử nên việc đăng ký và quản lý hộ tịch đã trở nên thuận tiện, khoa học, hiệu quả, chính xác, hạn chế sai sót, tiết kiệm thời gian giải quyết thủ tục hành chính, góp phần giảm tải công việc cho cán bộ chuyên môn, thuận tiện cho việc tra cứu, thống kê hộ tịch, nâng cao công tác cải cách hành chính. Để nâng cao hiệu quả công tác đăng ký quản lý hộ tịch, Sở Tư pháp đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan, các huyện, thành phố trên địa bàn, đẩy mạnh công tác tuyên truyền các quy định của Luật Hộ tịch, quyền và nghĩa vụ khi đăng ký hộ tịch.

Chỉ đạo, hướng dẫn Phòng Tư pháp các huyện và UBND cấp xã cập nhật tên đơn vị trên hệ thống cổng thông tin điện tử của Sở; cập nhật, số hóa dữ liệu hộ tịch từ sổ hộ tịch, tạo ra hệ thống thông tin hộ tịch đồng bộ, thông suốt giữa các cơ quan; nhất là thực hiện Đề án liên thông thủ tục hành chính đăng ký khai tử, xóa đăng ký thường trú, hưởng chế độ tử tuất, hưởng chi phí mai táng ở cấp xã… Cùng với đó, đội ngũ công chức tư pháp hộ tịch các cấp thường xuyên được củng cố kiện toàn, đảm bảo số lượng, chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Theo thống kê, hiện trên địa bàn tỉnh Điện Biên có 238 công chức tư pháp hộ tịch thuộc 129 xã, phường, thị trấn.

Hàng năm, Sở Tư pháp chủ động phối hợp với các huyện, thành phố tổ chức hội nghị tập huấn chuyên sâu về pháp luật hộ tịch, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ về đăng ký, quản lý hộ tịch cho lãnh đạo, công chức tư pháp hộ tịch các cấp. Chú trọng bố trí cán bộ có năng lực, kinh nghiệm, trình độ trong thực hiện nhiệm vụ. Từ năm 2020 đến nay, toàn tỉnh đăng ký khai sinh trên 18.000 trường hợp, đăng ký khai tử cho hơn 2.400 trường hợp, đăng ký kết hôn hơn gần 5.000 trường hợp. Trong đó, đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn có yếu tố nước ngoài cho 8 trường hợp.

Ông Phạm Đình Quế chia sẻ: Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, công tác đăng ký, quản lý hộ tịch trên địa bàn ngày càng có chuyển biến tích cực. Đến nay, hầu hết công tác đăng ký, quản lý hộ tịch ở các huyện, thành phố và các xã, phường, thị trấn đã ứng dụng phần mềm liên thông ở cả 3 cấp (xã, huyện, tỉnh). Nhờ đó, các thủ tục hành chính trong lĩnh vực hộ tịch được giải quyết nhanh gọn, không gây phiền hà cho người dân, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, khẳng định vai trò trong quản lý nhà nước và bảo đảm quyền của công dân. (Pháp luật Việt Nam 20/4, Quốc Định)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Cải cách lương hưu

Trong báo cáo về chính sách lương hưu mới công bố, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH) thừa nhận có tình trạng chênh lệch khá lớn về lương hưu, có người hưởng mức lương hưu hằng tháng quá thấp và có người hưởng mức lương hưu hằng tháng quá cao, từ đó làm giảm niềm tin của người tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH). Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến gia tăng số người nhận BHXH một lần.

Theo số liệu của BHXH Việt Nam, đến cuối năm 2017, mức lương hưu bình quân là 4,26 triệu đồng/người/tháng; mức lương hưu cao nhất: 101,3 triệu đồng/tháng; có hơn 4.100 người hưởng mức lương hưu dưới 1,3 triệu đồng/tháng; hơn 3.989 người hưởng mức từ 13 triệu đồng/tháng trở lên. Bình quân mỗi năm có khoảng 600.000 người nhận BHXH một lần và rời khỏi hệ thống BHXH.

Trong lộ trình cải cách chính sách tiền lương sẽ tiến tới việc bãi bỏ mức lương cơ sở, trong khi đó Luật BHXH có đến 11 nội dung gắn với mức lương cơ sở. Do vậy, phải sửa Luật BHXH và hoàn thiện các chế độ BHXH hiện hành, khuyến khích người tham gia BHXH có mức tiền lương thấp bảo lưu thời gian đóng BHXH để được hưởng lương hưu thay vì nhận BHXH một lần.

Theo dự thảo đề xuất tăng lương hưu, trợ cấp BHXH, Bộ LĐ-TB-XH đề xuất 2 phương án. Một là điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp từ ngày 1-7-2021 với mức tăng dự kiến là 10%. Hơn 2,15 triệu người được thụ hưởng từ nguồn quỹ BHXH với mức dự kiến kinh phí tăng thêm khoảng 144.585 tỉ đồng. Hai là điều chỉnh tăng từ ngày 1-1-2022 với mức dự kiến là 15%. Hơn 2,28 triệu người được điều chỉnh từ nguồn quỹ BHXH chi trả với mức dự kiến kinh phí tăng thêm trong năm 2022 là 168.045 tỉ đồng.

Phân tích của các chuyên gia lao động cho thấy nếu tăng theo tỉ lệ % sẽ đơn giản, dễ hiểu; đóng góp nhiều sẽ được điều chỉnh tăng nhiều hơn. Tuy nhiên, tăng theo phương án này không bù được trượt giá. Đối với một bộ phận người về hưu trước năm 1995, do không tính về số năm đóng BHXH mà phụ thuộc vào mức lương khi về hưu, cho nên nhiều người có mức lương hưu quá thấp, không bảo đảm mức sống tối thiểu. Bên cạnh đó, sẽ xảy ra tình trạng người hưởng lương cao sẽ cao mãi và người hưởng lương thấp suốt đời vẫn khó khăn.

Trường hợp tăng theo giá trị tuyệt đối có ưu điểm là khi điều chỉnh tăng, người được hưởng lương hưu sẽ đều đạt mức lương hưu trên mức tối thiểu. Tuy nhiên, nếu tăng theo giá trị tuyệt đối sẽ khó tính toán, có thể gây ra tâm lý người đóng góp ít được điều chỉnh nhiều, người đóng góp nhiều lại được điều chỉnh ít.

Do vậy, nên thấu suốt quan điểm tăng lương hưu có ý nghĩa bù chi phí trượt giá; điều chỉnh tăng theo chiều tăng của mức sống và tăng trưởng kinh tế, cần thiết tăng mức tiền lương tối thiểu cho những người có lương hưu thấp. Một phương án có thể chậm hơn một chút nhưng tỉ lệ được hưởng cao hơn, có lợi hơn cho người hưu trí thì sẽ hợp lý, một chuyên gia lao động nói.

Là khoản chi phí trả cho những nhu cầu sống cơ bản và chăm sóc sức khỏe, lương hưu luôn phải đạt 2 yêu cầu: phải bảo đảm trang trải được cho những nhu cầu thiết thân nhất và phải bảo đảm công bằng. Vì vậy, phải cải cách thực sự để không có tình trạng lương hưu quá thấp, người lao động không muốn tham gia, rời hệ thống BHXH khi tuổi đời còn trẻ. (Người lao động 20/4, Hiền Minh)Về đầu trang

Tạo thuận lợi cho lao động nước ngoài tham gia BHXH

BHXH Việt Nam cho biết đến tháng 3-2021, tổng số doanh nghiệp (DN) có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tham gia BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) là 26.987 DN, tăng 3,53% so với năm 2019, với tổng số người tham gia là 4.979.354 người (tăng 5,9% so với năm 2019).

Mức lương bình quân tham gia BHXH, BHYT, BHTN là hơn 6 triệu đồng/người/tháng, tăng 5% so với năm 2019. Tính riêng khối DN Hàn Quốc, tại Việt Nam đang có 4.559 DN với số lao động tham gia BHXH là 1,31 triệu người (trong đó có 1,29 triệu người Việt Nam và trên 12.000 người nước ngoài) với số thu BHXH chiếm gần 25% tổng thu của khối DN có vốn đầu tư nước ngoài.

Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như DN, đồng thời thực hiện có hiệu quả công cuộc cải cách thủ tục hành chính, nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện tốt nhất cho DN FDI, trong những năm qua, chính sách BHXH, BHYT, BHTN của Việt Nam đã có những bước hoàn thiện căn bản, hướng tới bảo đảm ngày một tốt hơn quyền lợi an sinh xã hội của người tham gia, thể hiện trong những nội dung mới của Luật BHXH sửa đổi; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT; Luật Việc làm và Luật An toàn - vệ sinh lao động. Trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động toàn diện tới mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, BHXH Việt Nam đã triển khai hiệu quả các giải pháp như: tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí, tử tuất nhằm hỗ trợ các DN giảm bớt khó khăn do dịch bệnh gây ra; bảo đảm chi trả kịp thời, đẩy đủ chế độ BHTN cho người tham gia.

Tại hội nghị đối thoại giữa BHXH Việt Nam và các DN Hàn Quốc về thực hiện chính sách BHXH, BHYT tổ chức tại tỉnh Đồng Nai mới đây, BHXH Việt Nam cho biết Luật BHXH năm 2014 và Nghị định số 143/2018/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam có quy định người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc. Đây là mối quan tâm chung của nhiều DN FDI tại Việt Nam, trong đó có DN Hàn Quốc.

Để tối ưu hóa quyền lợi cho người lao động, Việt Nam và Hàn Quốc đang tiến hành đàm phán để đi tới ký kết hiệp định song phương về BHXH giữa Chính phủ hai nước và trên cơ sở đó, BHXH Việt Nam và Cơ quan Hưu trí quốc gia Hàn Quốc cũng sẽ ký kết thỏa thuận thực hiện nhằm tạo cơ sở và hành lang pháp lý cho việc thực hiện và bảo đảm quyền lợi an sinh xã hội của người lao động mỗi nước. BHXH Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội làm việc với các cơ quan đối tác của Hàn Quốc để sớm hiện thực hóa mục tiêu này theo tinh thần thỏa thuận cấp cao của Chính phủ hai nước. (Người lao động 20/4, T.Ngôn)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Tự kiểm tra nội bộ vẫn là khâu yếu!

Tổng kết Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 và kế hoạch thực hiện Công ước Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng trên địa bàn Hà Nội, UBND TP. Hà Nội cho biết, trong 12 năm qua (từ 1.6.2009 đến 1.6.2020), qua công tác tự kiểm tra nội bộ chưa phát hiện và xử lý tham nhũng trường hợp nào. Nếu chỉ nhìn nhận tình hình tham nhũng căn cứ vào kết quả tự kiểm tra nội bộ, thì có lẽ đây là một tin vui.

Thế nhưng, chúng ta đừng vội mừng, bởi cũng trong khoảng thời gian này, các đơn vị thanh tra trên toàn TP. Hà Nội đã tổ chức triển khai 3.136 cuộc thanh tra. Qua thanh tra đã phát hiện sai phạm trên 3.597 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 2.380 tỷ đồng…

Không chỉ thanh tra, Công an thành phố trong giai đoạn này cũng đã thụ lý điều tra 256 vụ với 627 bị can, trong đó khởi tố 240 vụ với 610 bị can, chuyển Viện Kiểm sát đề nghị truy tố 206 vụ với 578 bị can. Tòa án Nhân dân thành phố đã xét xử 265 vụ với 777 bị cáo. Số tài sản thất thoát trong các vụ án tham nhũng đã xét xử là trên 15.687 tỷ đồng. Số tiền, tài sản trong các vụ án tham nhũng xét xử đã được thu hồi là hơn 7.623 tỷ đồng. Những số liệu này cũng cho thấy, nỗ lực rất lớn của các cơ quan chức năng TP. Hà Nội trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Rõ ràng, nhìn vào bức tranh phòng, chống tham nhũng có thể thấy, giữa kết quả công tác tự kiểm tra nội bộ và công tác thanh tra đang có khoảng “vênh” khá lớn. Cử tri và dư luận đặt câu hỏi, 12 năm không phát hiện bất kỳ vụ tham nhũng nào qua tự kiểm tra nội bộ, trong khi cơ quan chức năng phát hiện có sai phạm là do năng lực tự kiểm tra của cán bộ làm công tác này còn hạn chế, yếu kém hay là còn vì lý do nào khác?

Chỉ thị số 50-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng đã nêu rõ, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, Nhà nước, đoàn thể, cơ quan, đơn vị phải gương mẫu thực hiện và có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; chủ động tự phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình. Coi kết quả công tác phòng, chống tham nhũng là thước đo đánh giá phẩm chất, năng lực, trách nhiệm và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu. Xử lý kịp thời, nghiêm minh người đứng đầu để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình trực tiếp lãnh đạo, quản lý nhưng không chủ động phát hiện, xử lý, nhất là đối với trường hợp bao che, ngăn cản việc phát hiện, xử lý tham nhũng.

Quy định là vậy, nhưng thực tế, không ít cơ quan, bộ, ngành địa phương cả năm, thậm chí có Bộ trong thời gian dài từ năm 2016 - 2020, qua tự kiểm tra chưa phát hiện trường hợp nào tham nhũng. Nhưng cơ quan chức năng vào cuộc vẫn phát hiện những vụ tham nhũng lớn lên tới hàng chục, hàng trăm tỷ đồng.

Không phát hiện tham nhũng có thể do cơ quan, đơn vị, địa phương đã làm tốt công tác phòng ngừa. Người dân và các cơ quan có thẩm quyền đã phát huy hiệu quả chức năng giám sát của mình. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp công tác tự kiểm tra chỉ thực hiện một cách qua loa, hình thức, do trách nhiệm của người đứng đầu không cao, dẫn đến không muốn phát hiện, xử lý tham nhũng, ngại va chạm.

Không phủ nhận rằng, hành vi tham nhũng thường có độ ẩn cao, không dễ phát hiện, nếu không chủ động, có nghiệp vụ và không sâu sát thì không thể phát hiện. Tất nhiên, cũng không loại trừ từ yếu tố chủ quan, bản thân người đứng đầu cũng dính vào tiêu cực. Khi tay đã “nhúng chàm” thì muốn “né” xử lý tham nhũng.

Khâu yếu trong phát hiện tham nhũng qua kiểm tra nội bộ là một “điểm nghẽn” rất lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả đấu tranh với tham nhũng. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp gửi đến Quốc hội, Kỳ họp thứ Mười, Khóa XIV thẩm tra về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2020 của Chính phủ cũng nhận định, việc phát hiện tham nhũng thông qua công tác tự kiểm tra nội bộ, kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới là khâu yếu tồn tại nhiều năm, nhưng vẫn chưa được khắc phục.

Cần nhấn mạnh rằng, trong phòng, chống tham nhũng, thì phòng mới là quan trọng. Do đó, phải coi trọng công tác tự kiểm tra nội bộ để phát hiện và sớm có biện pháp ngăn chặn kịp thời hành vi tham nhũng. Muốn vậy, phải gắn rõ trách nhiệm, hiệu quả công tác tự kiểm tra nội bộ phát hiện tham nhũng để làm căn cứ đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người đứng đầu. Kiên quyết xử lý nghiêm người đứng đầu khi để “lọt” hành vi tham nhũng. Đừng để nhận định “việc phát hiện tham nhũng thông qua công tác tự kiểm tra nội bộ vẫn là khâu yếu” trở thành điệp khúc hàng năm trong các báo cáo về tình hình tham nhũng. (Đại biểu nhân dân 20/4, Hà An)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.014.904 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này