Bản tin cải cách hành chính ngày 10/7/2019

Font size : A- A A+

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1. An Giang cải thiện Chỉ số hài lòng về phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước

2. TP Hạ Long thí điểm ứng dụng Ezlife kết nối người dân và chính quyền

3. Đà Nẵng triển khai hệ thống ghi âm, ghi hình tại các điểm tiếp công dân

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

4. Tổng cục Hải quan: Nhiều thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được điện tử hóa

5. Kho bạc Nhà nước: Dịch vụ công trực tuyến ngày càng hoàn thiện

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

6. Minh bạch để loại bỏ “tham nhũng vặt”

7. Cải cách kiểm tra chuyên ngành… chưa đáng kể

TIN THẾ GIỚI

8. Chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi quan chức không lười biếng, “ăn không ngồi rồi”

         

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

An Giang cải thiện Chỉ số hài lòng về phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước

Ngày 9/7, UBND tỉnh An Giang tổ chức hội nghị phân tích kết quả đánh giá xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính tỉnh năm 2018; công bố Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng đối với sự phục vụ của các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh năm 2018.

Theo đó, trong năm 2018 Chỉ số cải cách hành chính của tỉnh đạt 80,77 điểm, xếp hạng 8/63 tỉnh, thành phố của cả nước. Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh An Giang xếp hạng 4/13 tỉnh, thành phố, sau Long An, Đồng Tháp và Cần Thơ. Kết quả Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính của 18 cơ quan chuyên môn của tỉnh, Sở Ngoại vụ đứng đầu với 95,83 điểm; đứng đầu các huyện, thị xã, thành phố là thị xã Tân Châu với 96,38 điểm. Kết quả Chỉ số cải cách hành chính năm 2018 cho thấy, Sở Giao thông Vận tải đứng đầu các sở, ban ngành tỉnh với 9479 điểm; UBND thành phố Châu Đốc đứng đầu các huyện, thị xã, thành phố với 93,58 điểm.

Ông Nguyễn Long Hồ, Phó Giám đốc Sở Nội vụ tỉnh An Giang, cho biết: Đề án xác định Chỉ số cải cách hành chính giai đoạn 2018-2020 có nhiều thay đổi tiêu chí đánh giá so với năm 2017 nên nhiều sở, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn trong quá trình triển khai đề án. Một số cơ quan, đơn vị địa phương trên địa bàn tỉnh còn chưa quan tâm đến công tác cải cách hành chính, công tác xác định Chỉ số cải cách hành chính hàng năm của tỉnh nên việc triển khai, hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu cải cách hành chính chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Đây cũng là lý do khiến kết quả xếp hạng Chỉ số cải cách hành chính năm 2018 còn thấp.

Trong thời gian tới tỉnh sẽ yêu cầu, các sở, ngành, địa phương trên địa bàn nghiên cứu, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung các lĩnh vực, tiêu chính đánh giá của đề án; tăng cường nghiên cứu các mô hình hay, các giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính, trong đó nâng cao chất lượng thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận một cửa các cấp, nhất là hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Để nâng cao Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của các sở, ban, ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, Trưởng Ban Chỉ đạo chương trình cải cách hành chính tỉnh An Giang, lưu ý thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh thực hiện nghiêm túc quyết định của UBND tỉnh về quy trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước trong thực hiện cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh; các sở, ngành, địa phương tích cực nghiên cứu, đề xuất các giải pháp, sáng kiến, mô hình hay trong công tác cải các hành chính để tham mưu UBND tỉnh triển khai trên địa bàn tỉnh và đề xuất khen thưởng... Các sở, ngành, các địa phương trên địa bàn tỉnh sớm đưa vào vận hành hệ thống camera giám sát tại Bộ phận một cửa và giải quyết hiệu quả thủ tục hành chính; nâng cao tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ với người dân, tổ chức, doanh nghiệp để cải thiện và nâng cao Chỉ số hài lòng về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước, góp phần nâng cao Chỉ số cải cách hành chính của tỉnh An Giang trong năm 2019.

UBND tỉnh chỉ đạo các sở, ngành tiếp tục tham mưu cho UBND tỉnh thực hiện tốt công tác kiểm soát thủ tục hành chính; công bố, công khai thủ tục hành chính và kết quả giải quyết hồ sơ đúng quy định. Các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh tập trung rà soát những ưu điểm, hạn chế, yếu kém trong công tác cải cách hành chính của cơ quan, đơn vị, từ đó đề ra các giải pháp cụ thể để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, đồng thời khắc phục triệt để những hạn chế, yếu kém để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách hành chính theo đúng kế hoạch đề ra.../. (TTXVN 9/7, Thanh Sang) Về đầu trang

TP Hạ Long thí điểm ứng dụng Ezlife kết nối người dân và chính quyền

Sáng 9/7, tại TP Hạ Long, Sở Thông tin và Truyền thông, Học viện Bưu chính viễn thông, UBND TP Hạ Long phối hợp tổ chức tập huấn sử dụng ứng dụng kết nối người dân và chính quyền (Ezlife) cho các hộ dân phường Bạch Đằng, Hồng Gai.

Ezlife là giải pháp do Viện Công nghệ thông tin và truyền thông (Học viện Bưu chính viễn thông) phát triển nhằm tạo ra tương tác giữa người dân và chính quyền thông qua môi trường mạng. Ứng dụng được cài đặt trên nền tảng số của điện thoại thông minh. Đối với chính quyền, đây sẽ là kênh thông tin chuyển tải các thông báo, tin tức, thủ tục hành chính… đến người dân một cách nhanh nhất và đúng đối tượng. Đồng thời, qua Ezlife, người dân có thể phản ánh các vấn đề về giao thông, môi trường, an ninh trật tự, vệ sinh an toàn thực phẩm, dịch vụ hành chính… với chính quyền một cách dễ dàng, thuận tiện hơn.

Tại buổi tập huấn, người dân đã được giới thiệu về ứng dụng Ezlife trên điện thoại thông minh và những tiện ích của ứng dụng; cách thức sử dụng phần mềm trong việc tiếp nhận, phản hồi thông tin đến chính quyền…

Được biết, lợi thế của ứng dụng Ezlife là có thể triển khai trên diện rộng với mức chi phí thấp, các cơ quan chính quyền hầu như không phát sinh chi phí. Quy trình vận hành khai thác đơn giản, dễ sử dụng. Ứng dụng được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả tương tác giữa chính quyền và người dân, giúp người dân luôn nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền mọi lúc mọi nơi, đồng thời chính quyền cũng sẽ nắm bắt, chia sẻ, xử lý các thông tin một cách nhanh chóng.

Đây cũng được xem là giải pháp để xây dựng mô hình thành phố thông minh của tỉnh. Theo lãnh đạo Sở Thông tin và Truyền thông, trước mắt, ứng dụng được thực hiện thí điểm tại 2 phường Hồng Gai và Bạch Đằng (TP Hạ Long), quá trình vận hành hiệu quả sẽ triển khai nhân rộng ra toàn tỉnh. (Báo Quảng Ninh 9/7, Nguyên Ngọc) Về đầu trang

Đà Nẵng triển khai hệ thống ghi âm, ghi hình tại các điểm tiếp công dân

Ngày 10/7, Văn phòng UBND TP Đà Nẵng cho biết, UBND thành phố vừa ban hành Công văn 4500/UBND-TTTP về triển khai thực hiện các biện pháp phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng trong hoạt động công vụ.

Theo đó, Đà Nẵng cương quyết đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất, vi phạm pháp luật.

Cụ thể, lãnh đạo Đà Nẵng yêu cầu người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải gương mẫu, đi đầu trong việc thực hiện các quy định của Đảng, Nhà nước về phòng, chống tham nhũng.

Bên cạnh đó, Đà Nẵng đẩy mạnh phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu cực, có cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với cán bộ, công chức khi thực thi nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra, điều tra, bảo đảm ngăn chặn cho được tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, vòi vĩnh, chung chi.

UBND TP Đà Nẵng cũng yêu cầu triển khai rộng rãi hệ thống ghi âm, ghi hình, camera trực tuyến tại các địa điểm có tiếp xúc trực tiếp với người dân, doanh nghiệp và có bộ phận thường trực để theo dõi, giám sát thường xuyên.

Trong báo cáo của UBND TP Đà Nẵng trình HĐND thành phố tại Kỳ họp thứ 11, Khóa IX đang diễn ra, UBND thành phố cho biết, theo báo cáo của các đơn vị, địa phương, 6 tháng đầu năm 2019 chưa phát hiện trường hợp tặng quà, nhận quà trái quy định và sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi.

Qua hoạt động tự kiểm tra nội bộ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa phát hiện vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. (VTCNews 10/7, Xuân Tiến) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

Tổng cục Hải quan: Nhiều thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được điện tử hóa

Với vai trò là đơn vị đầu mối, phối hợp với các bộ liên quan triển khai thực hiện các giải pháp cải cách công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành, thời gian qua, Tổng cục Hải quan đã tích cực, chủ động cùng với các bộ triển khai các giải pháp đạt nhiều kết quả đáng chú ý.

Bộ Tài chính (Tổng cục Hải quan) tiếp tục chủ động phối hợp với các bộ, ngành trong việc rà soát các quy định pháp luật, tổng hợp những vướng mắc của doanh nghiệp để kịp thời kiến nghị các bộ, ngành nghiên cứu, tháo gỡ.  Cụ thể các bộ, ngành đã sửa đổi 84/87 văn bản chiếm 97% (theo Quyết định số 2026/QĐ-TTg), đã sửa đổi, bổ sung 9/29 văn bản chiếm 31% (theo Quyết định số 1254/QĐ-TTg).

Đáng chú ý việc điện tử hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành đạt kết quả nổi bật, tính đến nay, đã có 13 bộ, ngành tham gia kết nối; 174 thủ tục hành chính được đưa lên Cơ chế một cửa quốc gia với tổng số hồ sơ hành chính đã được xử lý trên Cổng thông tin một cửa quốc gia trên 2,2 triệu bộ hồ sơ và trên 29,8 nghìn doanh nghiệp tham gia.

Tỉ lệ hàng hóa kiểm tra chuyên ngành đã giảm đáng kể, số liệu cập nhật đến tháng 3/2019 các mặt hàng thuộc diện quản lý và kiểm tra chuyên ngành đã giảm 12.600 mặt hàng (từ 82.698 năm 2015 xuống còn 70.087).

Bên cạnh việc cắt giảm Danh mục, các bộ ngành cũng đã triển khai nhiều giải pháp như: Thay đổi phương thức kiểm tra, áp dụng quản lý rủi ro trong kiểm tra, nhiều mặt hàng đã được chuyển thời điểm kiểm tra từ giai đoạn trước thông quan sang sau thông quan, tăng đối tượng được miễn kiểm tra, minh bạch hóa danh mục hàng hóa kèm mã số HS, bãi bỏ những quy định không phù hợp.

Bên cạnh đó, để chỉ ra những tồn tại hiện nay công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành, Tổng cục Hải quan đã rà soát, thống kê các sản phẩm, hàng hóa phải chịu sự kiểm tra chuyên ngành của nhiều cơ quan, đơn vị. Kết quả đã thống kê được 25 nhóm sản phẩm, hàng hóa còn chồng chéo trong kiểm tra chuyên ngành tương đương với 1.012 dòng hàng tính theo mã số HS ở cấp độ 8 chữ số, và tương ứng với 1.501 mặt hàng được chi tiết theo tên hàng hóa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, Tổng cục Hải quan cho rằng công tác kiểm tra chuyên ngành vẫn còn nhiều hạn chế, vướng mắc, chưa đạt được mục tiêu đề ra, cụ thể: Một số bộ, ngành còn thiếu quyết liệt và khẩn trương trong triển khai các nhiệm vụ; việc phối hợp rà soát các Danh mục chuyên ngành cũng tồn tại nhiều hạn chế; văn bản quy phạm pháp luật quy định về quản lý và kiểm tra chuyên ngành còn nhiều, phạm vi quản lý và kiểm tra rộng. Một số bộ, ngành chậm ban hành các Thông tư hướng dẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp và các cơ quan liên quan trong quá trình thực hiện. (Hải Quan 10/7, N. Linh) Về đầu trang

Kho bạc Nhà nước: Dịch vụ công trực tuyến ngày càng hoàn thiện

Để đáp ứng mục tiêu cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa công tác kiểm soát chi ngân sách Nhà nước và tạo thuận lợi cho các cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách, chương trình dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) của Kho bạc Nhà nước đang liên tục được hoàn thiện, nâng cấp, đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa.   

Trên cơ sở, mục tiêu Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 thành Kho bạc điện tử trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, cung cấp ngày càng nhiều các DVCTT cho các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN, việc triển khai DVCTT đang được KBNN tích cực tuyên truyền, đẩy mạnh đến từng đơn vị sử dụng ngân sách.

Tại KBNN Phú Thọ, đơn vị này chính thức mở rộng DVCTT diện rộng trên địa bàn tỉnh theo chỉ đạo của KBNN từ tháng 4/2019. Theo ông Trần Mạnh Hùng, Giám đốc KBNN Phú Thọ, ngay từ khi bắt đầu triển khai, đơn vị đã chủ động báo cáo chính quyền địa phương về chủ trương của KBNN về triển khai diện rộng DVCTT. KBNN Phú Thọ cũng ban hành văn bản gửi các sở, ngành, UBND huyện, UBND thị xã, các chủ đầu tư để chủ động triển khai. Đồng thời đơn vị cũng bố trí cán bộ hỗ trợ, tập huấn cho các đơn vị tham gia DVCTT của KBNN.

Theo thống kê, đến thời điểm hiện tại, toàn tỉnh Phú Thọ đã có 785 đơn vị sử dụng ngân sách đăng kí tham gia DVCTT của KBNN (chiếm 40% đơn vị giao dịch trên địa bàn tỉnh). Tổng số hồ sơ được chuyển qua hệ thống DVC là 14.835 hồ sơ. Trong đó, số hồ sơ hoàn thành giao dịch là 11.151 hồ sơ. Từ khi triển khai đến nay chưa phát hiện sai sót có nguy cơ mất tiền.

"Lợi ích của DVCTT là tạo sự công khai, minh bạch hóa thủ tục hành chính, hướng tới tăng độ hài lòng, thuận lợi và giảm thời gian, chi phí đi lại, giảm chi phí hoạt động của các đơn vị sử dụng ngân sách. Theo đó, các đơn vị sử dụng ngân sách có thể thực hiện gửi hồ sơ và nhận kết quả của kho bạc ngay tại đơn vị. Chính vì vậy, ngay từ khi bắt đầu thực hiện, dịch vụ này đã nhận được sự phản ứng tích cực từ phía đơn vị sử dụng ngân sách", ông Trần Mạnh Hùng chia sẻ.

Chỉ sau 3 tháng triển khai, kết quả có tới 40% đơn vị tham gia sử dụng DVCTT thay thế phương thức cũ. Theo đại diện KBNN Phú Thọ, để làm được điều đó, ngoài việc tham mưu UBND tỉnh có công văn chỉ đạo các đơn vị thực hiện, đơn vị còn sử dụng phương thức "lan tỏa" từ đơn vị sử dụng ngân sách này đến đơn vị sử dụng ngân sách kia.

"Lợi ích của DVCTT quá rõ ràng nên với những đơn vị đã sử dụng, chúng tôi coi đây là kênh truyền thông, hỗ trợ hữu hiệu với những đơn vị còn lại. Ngoài ra, do nguồn nhân lực hạn hẹp, KBNN Phú Thọ cũng phối hợp với đơn vị cung cấp dịch vụ chứng thực chữ kí số để tăng cường công tác hỗ trợ. Nhờ vậy, sự lan tỏa lợi ích của DVCTT nhanh chóng hơn bao giờ hết", Giám đốc Trần Mạnh Hùng chia sẻ.

Là một trong những đơn vị đi đầu trong việc sử dụng DVCTT trên toàn tỉnh, Trường Đại học Hùng Vương được KBNN Phú Thọ đánh giá cao về công tác phối hợp cũng như độ nhanh nhạy, tích cực tham gia.

Theo ông Lê Quang Hưng, Kế toán trưởng Nhà trường, ngay từ khi bắt đầu sử dụng, đơn vị không gặp bất cứ vướng mắc gì đáng kể. Trước đây, khi giao dịch chứng từ giấy, phải mất nhiều thời gian để theo dõi xem chứng từ đã được ký duyệt chưa, nhưng khi thực hiện DVCTT, ngay khi đưa chứng từ lên hệ thống, kế toán có thể nắm rõ bộ hồ sơ đang ở khâu nào, có sai sót gì không và khi có sai sót, ngay lập tức được hệ thống báo trả. Hầu như chứng từ đưa lên hệ thống được xử lý, giải quyết ngay trong ngày.

"Phần mềm đơn giản, giao diện dễ nhìn, dễ sử dụng, giúp tiết kiệm khá nhiều thời gian cho người làm công tác kế toán. Trong thời đại công nghệ 4.0, DVCTT, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với cán bộ Kho bạc là hết sức cần thiết", ông Hưng nhận định.

Góp ý cho dịch vụ này, ông Lê Quang Hưng cho rằng, thời gian tới, KBNN cần tăng dung lượng cho các tài liệu đính kèm (hiện là 5 Megabyte) bởi với những hồ sơ có số lượng chứng từ lớn từ 20-30 trang như bảng lương thì không thể đính kèm lên ứng dụng DVC mà vẫn phải mang trực tiếp đến KBNN.

Qua một thời gian triển khai DVCTT (từ năm 2018 đến nay), qua nhận xét của KBNN các tỉnh, thành, về cơ bản hệ thống DVCTT hoạt động thông suốt, bảo đảm an toàn, quy định chi tiết cho từng dịch vụ, dễ dàng cho các đơn vị tham gia dịch vụ. Nếu như thời gian đầu, có nhiều ý kiến phản ánh về tốc độ đường truyền thì nay không còn. Qua nhiều lần nâng cấp, Chương trình đã có giao diện thân thiện, dễ sử dụng, hiệu năng xử lý nhanh và hiệu quả. Đây là những yếu tố quan trọng tác động tích cực đến các tổ chức, cá nhân có quan hệ giao dịch với KBNN hướng tới việc sử dụng ngày càng nhiều các dịch vụ công trực tuyến KBNN. (Hải Quan 10/7, Thùy Linh) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Minh bạch để loại bỏ “tham nhũng vặt”

Cải cách thủ tục hành chính theo hướng minh bạch, công khai, tăng cường kiểm tra công vụ, sắp xếp, luân chuyển cán bộ, công chức ở những vị trí dễ có nguy cơ xảy ra "tham nhũng vặt"… là những giải pháp được đưa ra để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, DN.

Như đánh giá của Thanh tra Chính phủ, trước đây, khi nói đến tham nhũng, phải có 2 yếu tố: Lòng tham và phải là người có quyền lực. Tuy vậy, các sự việc xảy ra thời gian qua cho thấy, tham nhũng không chỉ khu biệt ở những người có quyền lực, mà còn ở cấp dưới, người được giao nhiệm vụ. Những vụ việc là biểu hiện của “tham nhũng vặt” không phải là chuyện vặt nữa, mà xảy ra ở khắp mọi nơi…

Qua khảo sát của MTTQ Việt Nam tại hơn 9.000 DN trong năm 2018, có 18% DN phản ánh còn tình trạng bôi trơn, "tham nhũng vặt" trong lĩnh vực thuế, hải quan. Bộ Tài chính coi kết quả này làm tiêu chuẩn đánh giá, điều chuyển cán bộ, xử lý trách nhiệm những đơn vị hải quan, thuế khi có DN phản ánh có tình trạng tham nhũng xảy ra.

Thực tế, tình trạng DN, người dân có tâm lý khi giao dịch, tiếp xúc với cơ quan Nhà nước, cán bộ công chức thì cần “lót tay”, chấp nhận tiêu cực, tham nhũng nhằm được giải quyết nhanh chóng công việc của mình không phải ít.

Nhấn mạnh đến thực trạng người dân phải đối diện hàng ngày với nạn "tham nhũng vặt", Trưởng ban Dân nguyện của Quốc hội Nguyễn Thanh Hải cho rằng, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng "tham nhũng vặt", trong đó có một nguyên nhân là trách nhiệm người đứng đầu chưa thực hiện chưa tốt, chưa đề cao việc nêu gương. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra công vụ chưa được chú trọng, chưa kịp thời phát hiện vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ. Điều đáng nói, khi phát hiện vi phạm, có trường hợp xử lý chưa nghiêm, thậm chí có nơi còn bao che, dung túng cho hành vi sai trái của nhân viên. Ngoài ra, vẫn còn kẽ hở của cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực, thiếu công khai minh bạch, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc còn yếu kém…

Do "tham nhũng vặt" dường như có nguy cơ xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực nên việc ngăn chặn tình trạng này không thể khoanh vùng ở một bộ, ngành hay lĩnh vực mà cần có sự vào cuộc của tất cả các bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị và của chính người dân, DN. Như Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã nêu rất rõ, phải xử lý trách nhiệm người đứng đầu nếu để xảy ra "tham nhũng vặt" ở cơ quan, đơn vị mình phụ trách. Đẩy mạnh việc thực hiện đánh giá sự hài lòng của người dân và DN đối với hoạt động của cơ quan hành chính…

Để sớm phát hiện vi phạm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2019, Bộ đã tổ chức 661 cuộc thanh tra, kiểm tra công vụ và đã chuyển 2 hồ sơ sang công an để điều tra đối với 8 cán bộ, công chức thuế, hải quan; xử lý hành chính 38 công chức. Đồng thời, thực hiện luân chuyển, điều chuyển công tác đối với những cán bộ, công chức ở những vị trí “nhạy cảm”. Căn cứ vào phản ánh của DN, kết quả giám sát của MTTQ Việt Nam và kết quả kiểm tra công vụ, trong 6 tháng đầu năm 2019, Bộ đã chuyển đổi vị trí công tác gần 5.700 công chức, chủ yếu ở lĩnh vực thuế, hải quan. Trong 6 tháng cuối năm 2019, Bộ dự kiến điều chuyển, luân chuyển vị trí khoảng 6.200 cán bộ, công chức trong toàn ngành.

Thứ trưởng Bộ Công an Nguyễn Văn Sơn cũng cho biết, Bộ đã có nhiều biện pháp xử lý, ngăn chặn tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân và DN trong giải quyết công việc, đặc biệt là trong các lĩnh vực công tác có liên quan trực tiếp đến người dân, DN như cấp phát chứng minh Nhân dân; quản lý xuất nhập cảnh; tuần tra, kiểm soát giao thông… Hàng năm, Bộ đã chỉ đạo và tổ chức các hoạt động thanh tra, kiểm tra, thanh tra đột xuất các lĩnh vực dễ có điều kiện phát sinh tiêu cực, tham nhũng, gây phiền hà cho người dân và DN. Qua đó, ngành đã phát hiện, kiến nghị xử lý nghiêm nhiều tập thể, cá nhân có sai phạm.

Với quan điểm thiết lập được cơ chế phòng ngừa, phòng chống tham nhũng tốt, mà tiền đề là tạo lập được một nền tảng xã hội tốt, nhiều ý kiến cho rằng, cùng với những quy định của Luật, việc công khai, minh bạch thông tin, cải cách thủ tục hành chính cần tích cực hơn nữa. Đồng thời, nên xử lý nghiêm một số vụ “tham nhũng vặt” điển hình để tạo sức răn đe. (Kinh Tế & Đô Thị 10/7, Nguyễn Vũ) Về đầu trang

Cải cách kiểm tra chuyên ngành… chưa đáng kể

Cắt giảm thủ tục, hàng hoá kiểm tra chuyên ngành nếu không thực chất thì không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp mà còn đẩy Việt Nam vào nguy cơ bị loại khỏi cuộc chơi thương mại toàn cầu.

Mặc dù cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục kiểm tra chuyên ngành đã được Chính phủ nỗ lực thúc đẩy, tuy nhiên, việc “rút gọn” các thủ tục được đánh giá vẫn còn chủ yếu là cơ học, hình thức, chưa đáp ứng được kỳ vọng của doanh nghiệp về một môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng.

Theo thống kê hiện vẫn còn hơn 77.400 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành thuộc diện quản lý và kiểm tra chuyên ngành. Bên cạnh đó, thời gian kiểm tra chuyên ngành trung bình là 76 giờ/1 thủ tục, gấp gần 3 lần so với các nước Asean 4.

Hiện vẫn còn hơn 77.400 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành, thời gian kiểm tra chuyên ngành trung bình là 76 giờ/1 thủ tục, gấp gần 3 lần so với các nước Asean 4.

Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong 6 tháng đầu năm 2019 của Bộ KH&ĐT nổi lên nội dung đáng chú ý về công tác kiểm tra chuyên ngành. “Nhìn chung trong quý II năm 2019, công tác quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu chưa có chuyển biến, cải cách nào đáng kể”, Bộ KH&ĐT nhận định.

Trên thực tế, nội dung này cũng đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh tại Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương vừa diễn ra cuối tuần trước. “Nhiều ý kiến còn cho rằng, việc cắt giảm điều kiện kinh doanh cho doanh nghiệp chưa có bước tiến mới so năm 2018, nhất là kiểm tra chuyên ngành còn bất cập, ảnh hưởng ảnh hưởng phát triển. Tình hình sản xuất kinh doanh tiếp tục còn nhiều khó khăn, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa khi số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh tăng 17,4%, giải thể tăng 18,1%...”, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh.

Cụ thể, phân tích của báo cáo từ Bộ KH&ĐT cho thấy, Nghị quyết số 02 nhấn mạnh trước tháng 6 năm 2019, các bộ, ngành hoàn thành rà soát, cắt giảm thực chất 50% số mặt hàng thuộc danh mục hàng hóa quản lý, kiểm tra chuyên ngành.

“Tuy nhiên, nhiệm vụ này chuyển biến chậm, chủ yếu chuyển từ kiểm tra trước thông quan sang giai đoạn sau thông quan, chứ không phải cắt giảm số lượng mặt hàng kiểm tra chuyên ngành như yêu cầu của Chính phủ”, báo cáo của Bộ KH&ĐT chỉ rõ.

Đáng chú ý, theo Bộ KH&ĐT, các yêu cầu về quản lý, kiểm tra chuyên ngành trong một số lĩnh vực của Bộ Công Thương như kiểm tra formaldehyte trên sản phẩm dệt may, kiểm tra hiệu suất năng lượng, yêu cầu xin giấy phép bổ sung về phân phối rượu… đang gây khó khăn, tốn kém thời gian và chi phí của doanh nghiệp. “Những nội dung này đã được kiến nghị nhiều lần, nhưng chưa được Bộ quan tâm giải quyết”, báo cáo nêu rõ.

Đơn cử, tại Thông tư số 21/2017/TT-BCT của Bộ Công Thương ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về mức giới hạn hàm lượng formaldehyte trong sản phẩm dệt may đã yêu cầu doanh nghiệp thực hiện kiểm tra hợp quy theo lô. Quy định này không những không giảm gánh nặng cho doanh nghiệp mà thậm chí còn gây tốn kém hơn nhiều so với trước.

“Doanh nghiệp nói với chúng tôi là họ tốn kém và chờ đợi hơn trước nhiều”, bà Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh quốc gia, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) - cơ quan được giao nhiệm vụ rà soát các văn bản quy phạm liên quan đến điều kiện kinh doanh cho biết.

Bà Thảo phân tích, theo Thông tư 21, doanh nghiệp không chỉ mất chi phí kiểm tra mẫu, mà còn chi phí in tem QR. Tem QR thì chỉ in khi có kết quả kiểm tra theo lô. Thời gian chờ đợi để có kết quả hợp quy khoảng 15 - 20 ngày.

Một ví dụ khác, theo quy định tại Nghị định 105/2017/NĐ-CP về quản lý kinh doanh rượu, thương nhân muốn nhập khẩu rượu trực tiếp phài có giấy phép phân phối rượu. Tuy nhiên, mỗi lần muốn nhập thêm rượu từ một nhà cung cấp mới, doanh nghiệp lại phải làm thêm thủ tục xin Bộ Công Thương cho cấp sửa đổi bổ sung. Yêu cầu này không có ý nghĩa về quản lý nhà nước, song lại tạo ra rào cản khó khăn cho doanh nghiệp.

Theo thống kê hiện vẫn còn hơn 77.400 mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành thuộc diện quản lý và kiểm tra chuyên ngành. Bên cạnh đó, thời gian kiểm tra chuyên ngành trung bình là 76 giờ/1 thủ tục, gấp gần 3 lần so với các nước Asean 4.

“Cắt giảm rào cản cho doanh nghiệp hiện chưa có bước tiến mới nào so với thời điểm cuối năm 2018. Từ đầu năm đến nay, các bộ, ngành gần như chưa làm gì, trong khi Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ liên tục có những chỉ đạo rất quyết liệt”, Trưởng ban Môi trường kinh doanh và Năng lực cạnh tranh CIEM nhấn mạnh. Ghi nhận việc cắt giảm điều kiện kinh doanh, thủ tục kiểm tra chuyên ngành thời gian qua đã định ra được một “đường ray”, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM cho rằng, vấn đề hiện nay là cần tăng tốc, liên tục. “Nếu không tăng tốc, không kiên trì cải cách thì nền kinh tế sẽ không thể phát triển cũng như khơi dậy được những động lực tăng trưởng mới, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển với tốc độ rất nhanh, và nguy cơ tụt hậu là hiện hữu”, ông Nguyễn Đình Cung nhận định.

Do đó, Viện trưởng CIEM nhấn mạnh yêu cầu vào cuộc quyết liệt, sát sao của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trong việc thúc đẩy thực hiện Nghị quyết 02. Các bộ, cơ quan tiếp tục rà soát, trình Chính phủ bãi bỏ, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi. Đẩy nhanh tiến độ soạn thảo luật sửa đổi các luật có liên quan trình Chính phủ để trình Quốc hội bãi bỏ, đơn giản hóa các thủ tục. Tập trung một đầu mối duy nhất thực hiện thủ tục kiểm tra chuyên ngành đối với một sản phẩm, hàng hóa…

Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập với hàng loạt các Hiệp định thương mại được ký kết, các chuyên gia cho rằng, nỗ lực cắt giảm thủ tục kiểm tra chuyên ngành càng trở nên cấp bách. Theo đó, các hiệp định thương mại với các cam kết về tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại xuất nhập khẩu… Trong bối cảnh đó, mục tiêu của Chính phủ là sẽ giảm từ 30 - 35% tỷ lệ hàng hóa phải thực hiện kiểm tra chuyên ngành khi thông quan xuống còn khoảng 15%.

Nếu mục tiêu này không được thực hiện hiệu quả, theo đúng lộ trình cam kết thì nguy cơ bị loại khỏi cuộc chơi thương mại toàn cầu của Việt Nam là rất lớn. Trách nhiệm của từng bộ ngành cần được chính phủ quy định cụ thể để tăng cường tính chủ động vào cuộc thực hiện cắt giảm hàng hóa, thủ tục kiểm tra chuyên ngành một cách thực chất. (Diễn Đàn Doanh Nghiệp 9/7, Anh Duy) Về đầu trang

TIN THẾ GIỚI

Chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi quan chức không lười biếng, “ăn không ngồi rồi”

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi các quan chức phải biết gánh vác trách nhiệm thay vì lấy cớ để “ăn không ngồi rồi”.

Tân Hoa xã dẫn lời nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt rạch ròi giữa liêm chính và tinh thần trách nhiệm. Ông kêu gọi các quan chức lãnh đạo cần dũng cảm gánh vác trách nhiệm thay vì không dám đưa ra quyết định nhằm tránh bị kỷ luật nếu hành động đó gây ra hậu quả tiêu cực.

“Tuyệt đối không thể coi chống tham nhũng là cái cớ để trốn tránh trách nhiệm hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ”, ông Tập nói.

Ông kêu gọi các quan chức đừng là những người u mê, có thái độ thờ ơ về chính trị và làm việc một cách nửa vời. “Đừng lười biếng, suốt ngày ăn không ngồi rồi và lãng phí thời gian”, nhà lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh.

Kể từ khi nhậm chức hồi cuối năm 2012, Chủ tịch Tập tiến hành chính sách chống tham nhũng “đả hổ, diệt ruồi”, khiến hàng trăm ngàn quan chức bị kỷ luật, trong đó chứng kiến không ít quan chức cấp cao bị “ngã ngựa”.

Chiến dịch không chỉ chống lại những hành vi nhận hối lộ, lạm dụng công quỹ mà còn nhắm đến những người không trung thành hoặc thiếu niềm tin về chính sách, đường lối của đảng. (Thanh Niên 10/7, Vi Trân) Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

More

Lượt truy cập: 12.038.343 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này