Bản tin cải cách hành chính ngày 07/04/2017

Font size : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH. 1

1.  Kiện toàn Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính. 1

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH. 2

2.  Thủ tục hành chính phải thông thoáng. 2

3.  Doanh nghiệp “toát mồ hôi” vì không “bôi” thì không “trơn”. 3

4.  Ngưỡng chịu đựng của dân nhìn từ chỉ số PAPI 4

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG.. 6

5.  Hà Nội: Cải cách hành chính để phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn. 6

6.  Quảng Bình: 1.736 thủ tục hành chính đang có hiệu lực thi hành. 7

7.  Sơn La: Cải cách hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự. 7

8.  Bình Dương: Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách thủ tục hành chính. 8

LĨNH VỰC CẢI CÁCH. 9

9.  40 dịch vụ công trực tuyến mức 3 lĩnh vực hàng không được cung cấp trong quý II 9


CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Kiện toàn Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc vừa ký Quyết định kiện toàn Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng.

Theo đó, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ là Chủ tịch Hội đồng. Các Phó Chủ tịch Hội đồng gồm: Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam; Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam; Cục trưởng Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ (Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký Hội đồng), cùng một số thành viên.Hội đồng có nhiệm vụ tư vấn, đề xuất với Thủ tướng các sáng kiến cải cách về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân; đánh giá việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tại các bộ, ngành, địa phương.

Văn phòng Chính phủ là cơ quan thường trực Hội đồng, có trách nhiệm điều phối, bảo đảm các điều kiện làm việc của Hội đồng và huy động các cơ quan, đơn vị khác có liên quan tham gia các hoạt động của Hội đồng; nghiên cứu các sáng kiến cải cách quy định hành chính do các thành viên Hội đồng đề xuất trước khi Chủ tịch Hội đồng báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Cục Kiểm soát thủ tục hành chính, Văn phòng Chính phủ là cơ quan giúp việc của Hội đồng, thực hiện nhiệm vụ thư ký Hội đồng. (Đại Biểu Nhân Dân 7/4; Quân Đội Nhân Dân 7/4) Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Thủ tục hành chính phải thông thoáng

Trong hệ thống pháp luật hiện hành đã có những quy định hỗ trợ cho doanh nghiệp (DN) theo ngành nghề đầu tư như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, các Luật về thuế, Luật về khoa học và công nghệ, công nghệ cao, chuyển giao công nghệ.  Tuy nhiên các chính sách trên vẫn tản mạn, chưa tạo được sự đột phá cho DN phát triển theo định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và tự chủ của nền kinh tế.

Theo ông Bùi Sỹ Lợi- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội,  chính vì vậy trong Luật Hỗ trợ cho DN nhỏ và vừa cần gom lại một số chính sách có tác động trực tiếp, có tính chất thúc đẩy cho DN phát triển. Nhưng vấn đề quan trọng nhất là quy định được thủ tục hành chính phải thông thoáng thuận lợi tránh việc tiếp cận với chính sách gặp khó khăn

Ông Lợi cho rằng, hầu hết các chính sách hỗ trợ cho DN đã có ở trong các chính sách khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Thuế..., tuy nhiên tính khả thi của các Luật đến giờ phút này chưa cao, chưa thực sự đi vào cuộc sống.

Theo ông Lợi, hiện chính sách của ta có quá nhiều nhưng tính khả thi không cao,  cần đánh giá lại việc thực hiện các chính sách hỗ trợ cho DN trong thời gian qua. Nhưng có một thực trạng cần nghiên cứu là hiện nay chúng ta có khoảng 600 ngàn DN đăng ký với cơ quan nhà nước nhưng bản chất hoạt động có thể đánh giá qua 2 con số. Con số thứ nhất là 470 ngàn DN nộp thuế, tức là chỉ DN hoạt động có hiệu quả mới nộp thuế, hoặc có thể có một số DN hoạt động nhưng không hiệu quả nên không nộp thuế, hoặc trốn thuế. Nhưng điều đáng suy nghĩ nằm ở con số thứ hai đó là chỉ có 180 ngàn DN đóng bảo hiểm xã hội. Cho nên đây chính là lỗ hổng của chúng ta trong công tác quản lý.

Tính cấp thiết của Luật này thể hiện mục tiêu của Đảng đến năm 2020 chúng ta có 1 triệu DN và đây là sự cố gắng lớn nhưng băn khoăn khi trong chính sách hỗ trợ ưu tiên nhưng lại có quá nhiều chính sách. “Tôi nghĩ nếu chúng ta thu gom lại một số chính sách có tác động trực tiếp, có tính chất thúc đẩy, có tính chất làm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển và có tính chất thu hút thì sẽ có hiệu quả hơn vì chúng ta rất nhiều chính sách nhưng không phát huy hiệu quả, không tác động được”- ông Lợi nhấn mạnh.

Ông Lợi cũng cho rằng, nên sắp xếp, xem xét lại tập trung vào một số chính sách có thể tác động lớn trong hiệu quả thực thi đối với DN nhỏ và vừa để tạo ra sự thúc đẩy, tạo cơ hội cho các hộ gia đình chuyển thành DN trong đấu thầu, tiếp cận thị trường vì hiện nay đây là điểm yếu, kém và DN nhỏ và vừa không có khả năng.

Ông Lợi nói: “Trong  vấn đề đào tạo, DN nhỏ và vừa không thể đào tạo nhân sự và trình độ quản lý, rồi cung cấp thông tin để chuyển hóa tạo ra thị trường,  tức là không phải là sản xuất tự cung tự cấp mà tạo ra chiến lược thị trường. Cho nên nếu ta tập trung vào các vấn đề trên sẽ tốt hơn, tác động hiệu quả tới hoạt động của DN”.

Ông Lợi cũng lưu ý rằng, trong Luật Hỗ trợ DN nhỏ và vừa vấn đề quan trọng nhất là quy định được thủ tục hành chính phải thông thoáng thuận lợi tránh việc tiếp cận với chính sách gặp khó khăn. “Ví dụ như vấn đề nhà ở xã hội, chúng ta nói rất thông thoáng nhưng tìm được nhà đầu tư rất là khó. Cho nên cần cải cách hành chính để tránh cơ chế xin cho là vấn đề quan trọng”- theo ông Lợi. (Đại Đoàn Kết 7/4) Về đầu trang

Doanh nghiệp “toát mồ hôi” vì không “bôi” thì không “trơn”

Mặc dù Chính phủ đã đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển nhưng thực trạng phí “bôi trơn” vẫn tồn tại dai dẳng và chưa có dấu hiệu thuyên giảm. Đã đến lúc cần “chỉ mặt, đặt tên”, làm rõ những cơ quan, đơn vị, cá nhân nào gây nhũng nhiễu, có như thế mới hi vọng sẽ trị dứt điểm căn bệnh phí “bôi trơn”.

Mới đây, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa công bố Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016. Điều đáng nói là sau mỗi lần công bố, tỷ lệ chi phí không chính thức (phí “bôi trơn”) của doanh nghiệp (DN) không giảm bớt mà tăng qua các năm. Cụ thể, mức tăng từ 50% (2013), lên tới 64,5% (2014) và 66% (2015).

Riêng trong năm 2016, có khoảng 66% DN cho biết, thường xuyên chi trả các khoản không chính thức, cao hơn 12 - 15% so với giai đoạn 2008 - 2013. 9% - 11% DN tham gia điều tra từ năm 2014 - 2016 cho biết, các khoản chi cho riêng mục này chiếm tới hơn 10% tổng doanh thu của họ, cao hơn hẳn mức 6 - 8% giai đoạn 5 năm trước đó.

Khoảng 25% các doanh nghiệp FDI thừa nhận rằng họ đã trả tiền bôi trơn để có được giấy phép đầu tư và 13,6% trả hoa hồng khi cạnh tranh giành các hợp đồng của cơ quan nhà nước.

Đáng chú ý, trả lời câu hỏi khảo sát, có tới 88% DN cho biết ít nhiều đều gặp bất lợi khi từ chối chi tiền hoa hồng trong quá trình đấu thầu. Kết quả này cho thấy, “văn hóa chi trả hoa hồng” trong ký kết hợp đồng với cơ quan nhà nước có thể cản trở việc lựa chọn được nhà cung cấp dịch vụ tốt nhất, dẫn đến chi phí cao hơn và chất lượng kém hơn.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI, phí “bôi trơn” giai đoạn 2014 - 2016 chưa có dấu hiệu cải thiện so với mốc năm 2006. Điều này là gánh nặng đè lên DN, khiến môi trường kinh doanh thiếu minh bạch, tạo ra nhiều cơ hội cho nhũng nhiễu, tham nhũng.

Đồng thời, những con số được công bố cho thấy, nhiều tiêu cực tồn tại trong cơ quan công quyền, cơ quan quản lý Nhà nước. Phí “bôi trơn” làm giảm năng lực cạnh tranh của DN, làm xấu môi trường kinh doanh đầu tư. Các khoản chi “bôi trơn” làm nản lòng các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước, giảm sức thu hút đầu tư của địa phương nói riêng và quốc gia nói chung.

Các chuyên gia cho rằng, sỡ dĩ tình trạng này vẫn tồn tại là do lỗi của cả DN và cơ quan quản lý. Về phía cơ quan quản lý, do không kiểm soát được nên dẫn đến tình trạng một số công chức, viên chức biến chất lợi dụng kiếm tiền bằng phí “bôi trơn”. Nếu không có phí thì hồ sơ của DN sẽ bị “ngâm”, kéo dài hoặc bị hạch sách đủ điều…

Còn về phía DN thì muốn được việc, nên đa phần đành chịu chi tiền, bởi DN phải vay vốn kinh doanh nên lãi suất tính hàng ngày, nếu kéo dài thủ tục hành chính, thì tiền lãi có thể đội thêm cả tỷ đồng... Thậm chí, dù không bị cơ quan quản lý đòi hỏi, vòi vĩnh, nhưng nhiều DN vẫn tự động chi tiền.

Cho tới nay, nội dung có tỉ lệ trả lời cao nhất là các DN tin rằng hành vi này là phổ biến, “luật bất thành văn”, và 59% DN chủ động đưa quà cáp dù không bị đòi hỏi.

Mục đích lớn nhất khi đưa hối lộ, với tỉ lệ gần 80% DN trả lời, là nhằm tạo lập mối quan hệ. DN chọn phương án này coi khoản chi này như một hợp đồng bảo hiểm, theo đó, một món quà nhỏ hôm nay có thể giúp họ giải quyết những vụ việc nảy sinh trong tương lai.

Sự phổ biến của hoạt động này chỉ ra mức độ nghiêm trọng của tham nhũng ở Việt Nam, minh họa mức độ khó khăn của cuộc chiến chống tham nhũng. Hối lộ đã trở nên quá phổ biến tới mức thậm chí hai bên cũng không cần phải trao đổi với nhau. (Pháp Luật Việt Nam 7/4) Về đầu trang

Ngưỡng chịu đựng của dân nhìn từ chỉ số PAPI

Chỉ số PAPI vừa công bố cho thấy, dường như không có gì thử thách độ kiên trì và mức chịu đựng của người dân bằng các thủ tục hành chính.

Sáng nay, khi chuẩn bị đi làm, bà dì mới về hưu của tác giả bảo, chở dì qua phòng tài nguyên huyện để hoàn thiện nốt giấy tờ sổ đỏ căn nhà. Đây là lần thứ tư trong tháng, dì phải đến phòng tài nguyên để làm thủ tục. Lần một nghe hướng dẫn, mang hồ sơ về điền. Lần hai, sửa vài điểm trong hồ sơ vì bảng hướng dẫn không rõ. Lần thứ ba bổ xung giấy tờ công chứng. Dì bảo “hy vọng hôm nay không phải quay về”.

Ở nước ta, dường như không có gì thử thách độ kiên trì và mức chịu đựng của người dân bằng các thủ tục hành chính cho dù nhà nước đã tìm rất nhiều phương thức để thay đổi. Vẫn còn nhiều thủ tục đến mức một người tháo vát cũng phải cần rất nhiều thời gian để có thể giải quyết công việc liên quan.

Với dì của tác giả, tiếc rằng, tới lần thứ tư, vẫn chưa xong thủ tục giấy tờ. Dì thở dài, “giá như việc đi làm dịch vụ hành chính trở thành một loại hợp đồng”. Tức là, khi có một việc cần giải quyết, người dân sẽ ký một hợp đồng mua dịch vụ của cơ quan nhà nước theo biểu giá, và căn cứ vào đó, bên cung cấp dịch vụ sẽ có trách nhiệm để đảm bảo hợp đồng được thực hiện khi đầy đủ các yếu tố đầu vào.

Không khó để tìm thấy một ví dụ về chưa hài lòng của người dân khi tiếp xúc với các cơ quan công quyền, nhất là khi họ phải cậy nhờ để giải quyết một số công việc hành chính.

Ngày 4/4, Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc UNDP và Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng đồng đã công bố Chỉ số PAPI 2016. Được triển khai từ năm 2009, PAPI trở thành một công cụ hữu hiệu phản ánh tiếng nói người dân về mức độ hiệu quả điều hành, quản lý nhà nước, thực thi chính sách và cung ứng dịch vụ công của chính quyền các cấp.

Phát biểu trong buổi công bố, ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú của UNDP tại Việt Nam cho biết “Chỉ số này cho thấy một bức tranh phức tạp về tính hiệu quả trong quản trị hành chính công, theo đó, hầu hết các địa phương đều có thể làm tốt hơn nữa để cải thiện tình hình thực thi và đạo đức công vụ hướng tới mục tiêu minh bạch, hiệu quả của các cơ quan hành chính”.

Điểm sáng nhìn từ khảo sát này có thể thấy rõ, là mức độ quan tâm của người dân đối với môi trường. Trả lời câu hỏi “vấn đề hệ trọng nhất năm 2016” thì môi trường chỉ xếp sau đói nghèo, với lượng người trả lời tăng thêm 10% so với năm 2015.

Năm nay, có 54% số người được hỏi trả lời rằng họ biết phải chạy chọt để có thể có việc làm trong các cơ quan nhà nước, năm 2015, con số đó là 51%, và trước đó 5 năm, năm 2011, con số chỉ là 46%. Cùng xu thế đó, có tới 38% số người được hỏi cho rằng phải chi thêm tiền để hoàn thiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tăng 8% so với năm 2011.

Báo cáo PAPI cũng cho biết nếu như năm 2011, có tới hơn 9% số người đứng ra tố cáo các hành vi nhũng nhiễu, thì năm 2016, con số đó chỉ còn 3%. Năm 2011, nếu bị vòi vĩnh số tiền trên 5 triệu đồng, người dân đã đứng ra tố giác, tới 2016, số tiền phải trên 25 triệu mới bị nạn nhân xem là quá sức.

Theo định nghĩa của cơ quan tiến hành khảo sát, PAPI được xây dựng dựa trên triết lý cơ bản là coi người dân như người sử dụng dịch vụ hay khách hàng, còn cơ quan công quyền là bên cung ứng dịch vụ. Triết lý này không khác nhiều so với mong muốn ký hợp đồng dịch vụ của bà dì nghỉ hưu được nói ở phần đầu bài viết. Giao dịch chỉ trở nên thông đồng bén giọt, nếu như hai bên cam kết với nhau về mức độ hoàn thành và chi phí hai bên cùng thực hiện.

Trên thực tế, khi người dân đến cửa công để sử dụng một dịch vụ công, họ phải xin và chờ được cho, chứ không phải là họ “mua” và được “bán”. Và chỉ số PAPI xét cho cùng, cũng chỉ là một bản báo cáo dùng để tham khảo cho những bài viết như thế này. (Thời Báo Doanh Nhân 7/4) Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội: Cải cách hành chính để phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn

Quý I năm nay, việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội đạt kết quả khá toàn diện. Môi trường đầu tư được cải thiện rõ nét. Thu ngân sách, tổng đầu tư xã hội tăng cao. Trong quý II, thành phố sẽ tiếp tục cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo bước chuyển biến mạnh về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.

Một điểm sáng đáng ghi nhận trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội quý I năm nay là kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm và chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp của đội ngũ cán bộ công chức có chuyển biến. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành của các cơ quan quản lý ngày càng được đẩy mạnh và thực hiện phần mềm dữ liệu dùng chung áp dụng ở cả ba cấp, giúp thời gian giải quyết thủ tục hành chính ngắn gọn. Nhờ đó, cải cách hành chính ngày càng hiệu quả.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2016 của thành phố tăng 10 bậc, xếp thứ 14 trong số 63 tỉnh, thành phố, đạt thứ hạng cao nhất từ trước đến nay. Đây cũng là năm thứ tư liên tiếp chỉ số PCI của thành phố tăng hạng và cũng là năm đầu tiên Hà Nội bước vào nhóm địa phương có chất lượng điều hành tốt… Tuy nhiên, đại diện UBND thành phố thừa nhận, công tác quản lý, điều hành vẫn còn hạn chế, một số quy trình thủ tục hành chính còn rườm rà, một bộ phận cán bộ thực thi nhiệm vụ có thái độ nhũng nhiễu, kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp. Chất lượng tham mưu, giải quyết công việc tại các lĩnh vực quy hoạch - kiến trúc, đầu tư xây dựng, tài nguyên - môi trường chưa đạt yêu cầu. Công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm còn hạn chế. Ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của một số người dân chưa cao, vẫn còn tình trạng xả rác thải bừa bãi.

Để tiếp tục thực hiện hiệu quả nhiệm vụ kinh tế- xã hội quý II và những tháng cuối năm, UBND thành phố đề ra sáu nhóm giải pháp chính, gồm: cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư; đẩy mạnh sản xuất; đầu tư; thực hiện các nhiệm vụ quản lý trật tự đô thị, trật tự xây dựng, bảo vệ môi trường; các chính sách xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Trong đó, thành phố hết sức coi trọng giải pháp về cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư.

Thành phố yêu cầu các ngành, các cấp rà soát, chỉnh sửa và bổ sung cơ chế, chính sách theo hướng minh bạch, thông thoáng, tạo thuận lợi hơn nữa và cắt giảm triệt để chi phí không cần thiết cho người dân, doanh nghiệp. Tập trung cải thiện, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, tập trung vào chỉ số tiếp cận đất đai, môi trường cạnh tranh lành mạnh, tính minh bạch và tiếp cận thông tin. Thực hiện các giải pháp để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ngân hàng với lãi suất hợp lý, nhất là tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. (Nhân Dân 7/4) Về đầu trang

Quảng Bình: 1.736 thủ tục hành chính đang có hiệu lực thi hành

Thời gian qua, các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh đã triển khai, thực hiện có hiệu quả các chương trình, kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020.

Riêng trong 3 tháng đầu năm 2017, UBND tỉnh đã ban hành 13 quyết định, công bố 161 thủ tục sửa đổi, bổ sung, thay thế và 50 thủ tục bãi bỏ, huỷ bỏ. Đến nay, có 1.736 thủ tục hành chính được công bố đang có hiệu lực thi hành trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh đã thực hiện đánh giá tác động đối với 6 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có quy định liên quan đến 28 thủ tục hành chính.

Được biết, trong tháng 3 vừa qua, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch kiểm tra việc xây dựng, áp dụng, duy trì và cải tiến Hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008 tại các cơ quan hành chính Nhà nước tỉnh năm 2017. Việc tăng cường các giải pháp về cải cách hành chính, đổi mới công nghệ trong quản lý hành chính đã góp phần thực hiện có hiệu quả công tác phòng ngừa tham nhũng trên địa bàn tỉnh. (Báo Quảng Bình 7/4) Về đầu trang

Sơn La: Cải cách hành chính trong lĩnh vực thi hành án dân sự

Cục THADS tỉnh Sơn La vừa ban hành các công văn, quyết định, hướng dẫn, thông báo thực hiện thí điểm cơ chế một cửa đối với một số thủ tục hành chính trong THADS và được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng; niêm yết công khai nội quy, quy chế tiếp công dân và các loại hồ sơ, thủ tục hành chính, thời hạn giải quyết, phí, lệ phí (nếu có) đối với từng thủ tục hành chính tại các cơ quan THADS tỉnh và đơn vị trực thuộc.

Xác định bộ phận tiếp nhận - trả kết quả tại Cục và các Chi cục THADS là đầu mối để tổ chức tiếp công dân, tổ chức, doanh nghiệp khi đến làm việc tại các cơ quan THADS; tiếp nhận, hướng dẫn tổ chức, cá nhân về thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa; nhận, chuyển hồ sơ đến các cơ quan chuyên môn có liên quan để giải quyết theo đúng quy trình và trả kết quả cho tổ chức, cá nhân đúng thời gian quy định, Cục THADS tỉnh và Chi cục THADS các huyện, thành phố đã bố trí mỗi đơn vị 1 cán bộ kiêm nhiệm công tác tiếp nhận - trả kết quả, có trình độ chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững các quy định về pháp luật, nắm vững quy trình thủ tục giải quyết công việc; có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao; tác phong thái độ chuẩn mực, khả năng giao tiếp tốt với cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Từ khi áp dụng cơ chế một cửa, bộ phận này đã tham mưu, giúp lãnh đạo của các đơn vị tổ chức thực hiện tốt công tác tiếp công dân, tiếp nhận, hướng dẫn tổ chức, cá nhân thực hiện các thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa; giải quyết theo đúng quy trình và trả kết quả cho cá nhân, tổ chức theo đúng thời gian quy định. Đồng thời, giúp lãnh đạo nắm bắt toàn diện, cụ thể quá trình tiếp nhận hồ sơ, kết quả giải quyết công việc tại bộ phận một cửa, đảm bảo chính xác và quản lý chặt chẽ hơn.

Bộ phận một cửa tại Cục và các đơn vị trực thuộc đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp khi đến giao dịch các thủ tục hành chính trong lĩnh vực THADS; đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, thuận tiện, hạn chế đến mức thấp nhất việc đi lại và thời gian chờ đợi của cá nhân, tổ chức khi đến giao dịch, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết công việc. Bộ phận một cửa đảm bảo là đầu mối liên thông giữa các bộ phận, công chức thực hiện nhiệm vụ đảm nhiệm giải quyết công việc một cách nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật.

Chỉ tính từ ngày 15/7/2016 đến 15/2/2017, Cục THADS tỉnh và Chi cục THADS các huyện, thành phố đã quyết định thi hành án dân sự theo yêu cầu 193 hồ sơ (100% hồ sơ được giải quyết đúng hạn); xác nhận kết quả thi hành án dân sự 162 hồ sơ, đều được giải quyết đúng hạn. (Báo Sơn La 7/4) Về đầu trang

Bình Dương: Đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách thủ tục hành chính

Thực hiện quyết định của UBND tỉnh về việc phê duyệt dự án “Ứng dụng công nghệ thông tin tại Khu hành chính mở tỉnh Bình Dương”, thời gian qua, Sở Thông tin - Truyền thông đã triển khai và bàn giao nhiều thiết bị công nghệ thông tin và phần mềm cho các sở, ban, ngành. Việc triển khai này đã mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân, tổ chức.

Báo cáo của Sở Thông tin - Truyền thông cho biết, thời gian qua, sở đã phối hợp với Công ty FPT để tổ chức mua sắm, triển khai trang thiết bị công nghệ thông tin và cài đặt phần mềm cho 19 cơ quan và 2 đơn vị trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Về thiết bị công nghệ thông tin, gồm: Máy ki-ốt bốc số, tra cứu, máy in nhiệt, máy quét mã vạch, hệ thống giám sát (camera), màn hình tivi, máy, vật tư thi công hệ thống và một số thiết bị công nghệ thông tin...

Cùng với đó, Sở Thông tin - Truyền thông đã trang bị hệ thống phần mềm, gồm 2 phần mềm. Trong đó phần mềm một cửa điện tử tập trung cấp tỉnh, gồm 7 phân hệ: Tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ theo mô hình một cửa; thống kê và báo cáo; tra cứu hồ sơ bằng mã vạch, ki-ốt thông tin; tra cứu hồ sơ thủ tục qua SMS; tổng hợp báo cáo phục vụ lãnh đạo tỉnh; hệ thống quản lý hàng đợi và mời công dân; hệ thống đánh giá chất lượng dịch vụ của cán bộ, công chức (đánh giá cán bộ, công chức).

Với quyết tâm xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, UBND tỉnh đã yêu cầu các sở, ban, ngành đẩy mạnh việc ứng dụng CNTT, tăng cường công khai, minh bạch TTHC thông qua đồng bộ hóa, chuẩn hóa bộ TTHC trên trang thông tin dichvucong. binhduong.gov.vn. Tập trung liên thông các TTHC; kết nối với cấp huyện trong việc liên thông ngành dọc, tra cứu kết quả giải quyết TTHC và việc thực hiện mô hình một cửa hiện đại.

Tỉnh sẽ xây dựng, ban hành và triển khai Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Bình Dương phù hợp với khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam. Từ đó, tạo nền tảng kết nối, chia sẻ giữa các cơ quan cấp tỉnh, liên thông với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia. Song song đó, hạ tầng kỹ thuật tiếp tục được đầu tư phát triển, chuẩn hóa khai thác hạ tầng mạng trục tốc độ cao giữa các cơ quan. Mạng truyền số liệu chuyên dùng của tỉnh tiếp tục nâng cấp với tốc độ cao, ổn định, an toàn phục vụ nhu cầu kết nối truyền tải dữ liệu giữa các cơ quan… (Báo Bình Dương 6/4) Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

40 dịch vụ công trực tuyến mức 3 lĩnh vực hàng không được cung cấp trong quý II

Bộ Giao thông Vận tải dự kiến quý II/2017 sẽ đưa vào sử dụng 40 dịch vụ công trực tuyến mức 3 lĩnh vực hàng không. Tính từ đầu năm đến nay, Bộ này đã hoàn thành, đưa vào thử nghiệm 55/145 dịch vụ công trực tuyến ưu tiên thực hiện năm 2017.

Bộ Giao thông Vận tải vừa cho biết, trong 3 tháng đầu năm nay, về công tác cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính, Bộ đã ban hành và triển khai kế hoạch cải cách hành chính, kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính năm 2017.

Cũng trong quý I/2017, cùng với việc tổ chức tập huấn điều tra xã hội học và lấy ý kiến đánh giá chỉ số cải cách hành chính năm 2016, Bộ Giao thông vận tải đã tổng hợp, xây dựng báo cáo chấm điểm chỉ số cải cách hành chính năm 2016, tổng kết thực hiện Nghị quyết 17 Hội nghị lần thứ 5, Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước (giai đoạn 2007 - 2016).

Đáng chú ý, từ ngày 1/1/2017, hệ thống dịch vụ công trực tuyến cấp, đổi giấy phép kinh doanh vận tải; cấp, đổi biển hiệu, phù hiệu xe ô tô đã chính thức được mở rộng đến 63 Sở Giao thông vận tải. Trước đó, từ giữa tháng 11/2016, 10 dịch vụ công trực tuyến mức 4 về cấp, đổi giấy phép kinh doanh vận tải và cấp, đổi biển hiệu, phù hiệu xe ô tô sẽ được triển khai cung cấp thí điểm tại 5 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM, Cần Thơ.

Cùng với đó, Bộ Giao thông vận tải đã báo cáo Chính phủ danh sách 145 dịch vụ công ưu tiên thực hiện trong năm 2017. Theo thống kê, tính từ đầu năm 2017 đến nay, đã có 55 dịch vụ công trực tuyến được hoàn thành và đưa vào thử nghiệm.

Ngoài ra, trong quý I/2017, Bộ Giao thông vận tải đã ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN của Bộ đến năm 2020.

Trong quý II/2017, Bộ Giao thông vận tải đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là đưa vào sử dụng 40 dịch vụ công trực tuyến mức 3 trong lĩnh vực hàng không; tổ chức rà soát, hoàn thiện báo cáo đánh giá, đề xuất giải pháp tạo đột phá trong lĩnh vực xã hội hóa dịch vụ công của ngành Giao thông vận tải. (ICTNews.vn 6/4)Về đầu trang./.

More

Lượt truy cập: 12.055.369 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này