Bản tin cải cách hành chính ngày 23/4/2021

15:18, Thứ Sáu, 23-4-2021

Xem với cỡ chữ : A- A A+

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

1. Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, đổi mới thực hiện cơ chế một cửa

2. Đổi mới thanh, kiểm tra nhằm tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

3. Hà Nội thí điểm mô hình chính quyền đô thị: Chủ tịch phường tự quyết, tự chịu trách nhiệm

4. Sở Xây dựng Bắc Giang: Hơn 95% văn bản được xử lý trên môi trường mạng

5. Hiệu quả từ cải cách thủ tục hành chính ở Hải quan Quảng Ninh

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

6. VCCI: 68% doanh nghiệp phải hoãn, hủy kế hoạch kinh doanh vì vướng thủ tục đất đai

7. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong ngành Kiểm sát nhân dân

8. Bộ Tài chính cải cách đồng bộ thủ tục hành chính, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin 

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

9. Đồng Nai: Khảo sát việc thực hiện văn phòng phục vụ chung

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

10. Kết quả của Đề án 896 tạo nền tảng để quản lý dân cư theo hướng hiện đại

 

CHỦ TRƯƠNG CẢI CÁCH

Thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, đổi mới thực hiện cơ chế một cửa

Chính phủ vừa có văn bản gửi các bộ, ngành và địa phương chỉ đạo tiếp tục thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Theo đó, Phó Thủ tướng Thưởng trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo:

1. Thực hiện nghiêm, có hiệu quả việc cắt giảm, đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ.

Các bộ, cơ quan ngang bộ và Bảo hiểm xã hội Việt Nam chủ động thống kê, cập nhật toàn bộ các quy định, chi phí tuân thủ liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan, cập nhật đầy đủ, chính xác vào phần mềm thống kê, rà soát các quy định tại địa chỉ https://nq68.baocaochinhphu.gov.vn, bảo đảm tiến độ được giao.

Xây dựng phương án cắt giảm đơn giản hóa các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh và tổ chức tham vấn các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp để hoàn thiện, trình Thủ tướng Chính phủ theo yêu cầu của Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ (đợt 1 trước ngày 30/5 và đợt 2 trước ngày 30/9). Yêu cầu đặt ra cần phải lượng hóa được lợi ích, chi phí mang lại đổi với từng phương án do bộ, cơ quan đề xuất.

2. Triển khai hiệu quả Đề án đổi mới thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính theo Quyết định số 468/QĐ-TTg ngày 27/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm hoàn thành các mục tiêu đã được Thủ tướng Chính phủ giao.

Các bộ, ngành, địa phương khẩn trương triển khai đổi mới cơ chế một shih-theo nội dung, nhiệm vụ và giải pháp nêu tại Đề án trong năm 2021 phải hoàn thành các mục tiêu cụ thể sau:

Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.

Hoàn thành kết nối, chia sẻ dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và đăng ký doanh nghiệp với Công Dịch vụ công quốc gia, Hệ thống thông tin một cửa điện tử cấp bộ, cấp tỉnh phục vụ xác thực, định danh và cắt giảm, đơn giản hóa hồ sơ, giấy tờ công dân, doanh nghiệp trong giải quyết thủ tục hành chính tại bộ phận một cửa các cấp.

Hoàn thành việc số hóa kết quả giải quyết thủ tục hành chính còn hiệu lực đạt tối thiểu tương ứng 40%, 30%, 20%, 15% đối với kết quả thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã để đảm bảo việc kết nối chia sẻ dữ liệu trong giải quyết thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Tổ chức triển khai quy trình số hóa hồ sơ, giấy tờ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính tại 100% Trung tâm phục vụ hành chính công.

3. Về công tác xây dựng Chính phủ điện tử phục vụ chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử.

Các bộ, ngành, địa phương: Tiếp tục mở rộng việc sử dụng văn bản điện tử (trừ văn bản mật), chữ ký số, xử lý công việc trên môi trường điện tử, bảo đảm đồng bộ trong triển khai, thực hiện ở cả 4 cấp chính quyền, không gửi kèm bản giấy, thực hiện lưu trữ điện tử và hoàn thành các chỉ tiêu tại Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ năm 2021.

Hoàn thành việc xây dựng các chế độ báo cáo điện tử của bộ, ngành, địa phương theo yêu cầu tại Nghị định số 09/2012/NĐ-CP và hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ để tích hợp với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ phục vụ công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

Rà soát, chuẩn hóa dữ liệu tại các Hệ thống thông tin, Cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành cũng như các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của bộ, ngành, địa phương để tích hợp với Trung tâm thông tin, chỉ đạo điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm hiển thị theo thời gian thực. (TTXVN/Baotintuc.vn 22/4, V.T)Về đầu trang

Đổi mới thanh, kiểm tra nhằm tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển

Nhằm tạo thuận lợi hơn nữa cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển, một trong những giải pháp trọng tâm đó là đổi mới công tác thanh, kiểm tra doanh nghiệp. Đây là đề xuất của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Dự thảo Đề án đổi mới toàn diện quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam vừa được trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Nhìn lại gần 35 năm đổi mới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng, đã có sự thay đổi nhận thức về mô hình, nguyên tắc quản lý nhà nước trong phát triển kinh tế; trong đó, có kinh tế tư nhân.

Ông Phan Đức Hiếu, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cho biết, những đổi mới phương thức quản lý nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp kinh doanh được thay đổi từ tư duy tiền kiểm sang hậu kiểm giúp đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh và cấp phép kinh doanh, nhưng đòi hỏi quản lý nhà nước ở khâu hậu kiểm được tổ chức và triển khai khoa học hơn, hiệu quả hơn.

Dự thảo Đề án cũng chỉ ra hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Cải cách các quy định về quản lý, kiểm tra chuyên ngành đạt kết quả bước đầu ở một số bộ, trong một số lĩnh vực nhưng còn quá ít so với yêu cầu đề ra. Những bất cập như danh mục mặt hàng nhiều, quản lý chồng chéo, quản lý không theo nguyên tắc rủi ro, chi phí kiểm tra chuyên ngành lớn… vẫn đang gây nhiều trở ngại cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Cùng với đó, số lượng văn bản điều chỉnh hoạt động quản lý, kiểm tra chuyên ngành nhiều, gây khó khăn cho doanh nghiệp và cơ quan hải quan trong việc theo dõi, cập nhật và áp dụng. Thậm chí, có quy định còn mâu thuẫn, chồng chéo trong quản lý. Ngoài ra, phạm vi mặt hàng phải kiểm tra chuyên ngành quá rộng, hiện vào hơn 78.000 mặt hàng.

Chính vì vậy, thời gian thực hiện vẫn còn dài, dẫn tới nhiều rủi ro cho doanh nghiệp (chi phí lưu kho bãi, phạt hành chính do chậm thông quan, lỡ cơ hội kinh doanh…); chi phí kiểm tra chuyên ngành quá lớn gây ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, hệ thống khung pháp lý khó thực hiện do có xu hướng các văn bản pháp luật thể hiện sự chia phần quản lý giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, dẫn đến thanh tra, kiểm tra, kiểm toán còn chồng chéo, trùng lặp, ảnh hưởng đến doanh nghiệp…

Theo ông Hiếu, việc kiện toàn hệ thống, tăng cường thanh kiểm tra, thực hiện công khai, minh bạch không chỉ giúp đảm bảo chính sách phát triển các thành phần kinh tế đạt hiệu quả, mà còn phòng, chống các mặt tiêu cực như lợi ích nhóm, thao túng chính sách, cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp.

Cùng với đó, các bộ, ngành cần tiếp tục rà soát, bãi bỏ, đơn giản hóa các điều kiện kinh doanh, quy định kiểm tra chuyên ngành không rõ ràng, không cụ thể, không khả thi, chồng chéo, trùng lặp về đối tượng, phạm vi và thẩm quyền; đồng thời, điều chỉnh các quy định về chế độ kế toán, kiểm toán đơn giản hơn, phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, xây dựng các chính sách về thuế, phí nhằm khuyến khích các hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp; trong đó, nghiên cứu áp dụng thuế khoán cho các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ.

Mặt khác, Bộ sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là hệ thống văn bản pháp quy về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các văn bản quản lý chất lượng của các bộ, ngành để làm cơ sở cho hậu kiểm… (TTXVN/Baotintuc.vn 23/4, Thúy Hiền)Về đầu trang

CẢI CÁCH ĐỊA PHƯƠNG

Hà Nội thí điểm mô hình chính quyền đô thị: Chủ tịch phường tự quyết, tự chịu trách nhiệm

Từ ngày 1/7/2021 Hà Nội sẽ tiến hành thí điểm mô hình chính quyền đô thị. Điểm đặc biệt chú ý của việc thí điểm này chính là cấp phường sẽ thực hiện theo chế độ thủ trưởng tự quyết, tự chịu trách nhiệm.

Phó Vụ trưởng Vụ Chính quyền địa phương, Bộ Nội vụ Nguyễn Ánh Dương cho biết, Nghị định số 32 gồm 6 chương, 33 điều. Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Nghị quyết số 97 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại TP Hà Nội.

Nghị định gồm các nội dung: Tổ chức và hoạt động, chế độ trách nhiệm của UBND, chủ tịch UBND phường; tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức làm việc tại UBND phường; tổ chức thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác…

Vấn đề phân cấp để tự quyết, tự chịu trách nhiệm là điều thấy rõ nhất khi thực hiện Nghị định này. Cụ thể, để bảo đảm các hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn phường được thực hiện thông suốt khi thực hiện mô hình chính quyền đô thị, UBND phường sẽ làm việc theo chế độ thủ trưởng. Trong đó, quy định trách nhiệm của Chủ tịch, Phó Chủ tịch phường và các công chức khác của phường trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.

Vì vậy, Chủ tịch phường lãnh đạo, quản lý, điều hành công việc của UBND phường và các công chức phường theo quy chế làm việc của phường, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và tuân thủ các quy định của pháp luật. Phó Chủ tịch phường giúp Chủ tịch phường giải quyết các công việc theo phân công của Chủ tịch phường, chịu trách nhiệm trước Chủ tịch phường và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi Chủ tịch đi vắng, một Phó Chủ tịch được Chủ tịch ủy nhiệm thay mặt Chủ tịch điều hành và giải quyết công việc của UBND phường.

Thậm chí, để giảm tải khối lượng công việc, nâng cao trách nhiệm của công chức và phục vụ người dân nhanh chóng, Nghị định cho phép chủ tịch UBND phường được ủy quyền cho công chức giữ chức danh tư pháp - hộ tịch thực hiện ký chứng thực và đóng dấu của UBND phường đối với việc chứng thực bản sao từ bản chính...

Kỳ vọng rất nhiều vào việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị trong đó có nội dung Chủ tịch phường tự quyết, tự chịu trách nhiệm để có thể giải quyết nhanh chóng những vấn đề của đô thị, bà Bùi Thị An- nguyên ĐBQH Hà Nội đồng tình chủ trương thí điểm chế độ thủ trưởng ở các phường trên địa bàn. Theo đó, nếu Chủ tịch phường được quyết nhiều vấn đề sẽ giúp việc giải quyết nhanh hơn, gọn gàng hơn.

Tuy nhiên, điều đặc biệt yêu cầu chính là công tác chọn cán bộ phải bài bản hơn, làm sao để chọn được người xứng đáng đủ tâm, đủ tầm giải quyết việc một cánh nhanh gọn, hiệu quả và công tâm nhất. Tuy nhiên, muốn tạo điều kiện cho người đứng đầu phường làm tốt công việc của mình cũng cần làm rõ vấn đề phân cấp?

Phân cấp đến đâu, trách nhiệm là gì có như vậy mới tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt chức trách của mình. Điểm cần lưu ý khi thực hiện vấn đề này theo bà An cần có sự giám sát của các cấp và từ phía người dân để tránh lạm quyền khi mà quyền lực được giao cho một số người.

Theo Phó Viện trưởng, Viện Khoa học Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ Lê Anh Tuấn, việc thực hiện thí điểm mô hình tổ chức chính quyền sẽ làm cho bộ máy chính quyền thành phố tinh gọn, phản ứng nhanh nhạy, hoạt động thông suốt hơn; cơ quan hành chính  cấp phường, xã sẽ tích cực, chủ động điều hành, quyết định nhanh chóng những vấn đề cấp bách ở địa phương trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm, rõ người, rõ việc. (Đại đoàn kết 23/4, Nguyên Khánh)Về đầu trang

Sở Xây dựng Bắc Giang: Hơn 95% văn bản được xử lý trên môi trường mạng

Ngày 22/4, Tổ kiểm tra số 1 của UBND tỉnh gồm đại diện các sở: Nội vụ, Khoa học và Công nghệ, Thông tin và Truyền thông tiến hành kiểm tra nhiệm vụ cải cách hành chính (CCHC), thực hiện ISO, ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) tại Sở Xây dựng.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, ngay từ đầu năm, Sở Xây dựng đã xây dựng và ban hành kế hoạch về CCHC, bố trí kinh phí và cán bộ chuyên trách về công tác CCHC. Toàn bộ các văn bản liên quan đến CCHC và chuyên môn đều được đăng tải đầy đủ, công khai trên trang thông tin điện tử theo đúng quy định.

Từ đầu năm đến nay, Sở Xây dựng đã giải quyết gần 200 hồ sơ theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông. Không có hồ sơ giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; giải quyết TTHC qua dịch vụ bưu chính công ích 9 hồ sơ.

Sở đã tham mưu với UBND tỉnh ban hành quyết định về công bố danh mục TTHC ngành Xây dựng; thực hiện tiếp nhận, xử lý phản ánh của cá nhân, tổ chức đối với quy định hành chính theo đúng quy định tại Trung tâm Hành chính công của tỉnh.

Hệ thống hạ tầng CNTT đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, ứng dụng đầy đủ các phần mềm dùng chung và chuyên ngành, bảo đảm hoạt động hiệu quả. 100% hồ sơ sử dụng phần mềm quản lý văn bản; tỷ lệ chữ ký số đạt hơn 90%; hơn 95% văn bản được xử lý hoàn toàn trên môi trường mạng; 100% cán bộ, công chức được cấp tài khoản hộp thư điện tử công vụ.

Hiện nay, Sở Xây dựng có một TTHC dịch vụ công trực tuyến mức độ 3; đang triển khai hai dịch vụ công mức độ 4 về cung cấp thông tin quy hoạch và cấp phép xây dựng nhà ở riêng lẻ theo yêu cầu của Bộ Xây dựng. Đơn vị đã áp dụng hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9001:2015 từ năm 2020 theo đúng quy định. (Baobacgiang.com.vn 22/4, Quốc Phương)Về đầu trang

Hiệu quả từ cải cách thủ tục hành chính ở Hải quan Quảng Ninh

Những năm qua, Cục Hải quan Quảng Ninh đã nỗ lực đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa hải quan, chủ động đổi mới toàn diện các mặt công tác nhằm rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa. Đặc biệt, Cục Hải quan Quảng Ninh đã ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước về hải quan và cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho doanh nghiệp; mở rộng hệ thống một cửa quốc gia, một cửa ASEAN bảo đảm đúng lộ trình, an ninh, an toàn, đường truyền thông suốt phục vụ thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK).

Coi cải cách thủ tục hành chính là nhiệm vụ trọng tâm, nhằm kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, minh bạch cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất, nhập khẩu, Cục Hải quan Quảng Ninh luôn tích cực triển khai các giải pháp nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính, đẩy nhanh tốc độ và rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa cho doanh nghiệp. Đồng thời, chủ động rà soát, đề xuất bãi bỏ các thủ tục hành chính rườm rà, gây phiền hà.

Hiện nay, Cục Hải quan Quảng Ninh triển khai nhiều mô hình cải cách thủ tục hành chính đem lại hiệu quả cao trong công tác quản lý và hoạt động XNK; trong đó mô hình thủ tục và quản lý hải quan tập trung tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu Móng Cái đã rút ngắn thời gian làm thủ tục, đi lại cho doanh nghiệp. Cùng với đó là hệ thống giám sát hải quan tự động tại cảng Cái Lân đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mỗi khi thông quan hàng hóa tại cảng.

Chi cục trưởng Chi cục Hải quan cửa khẩu Móng Cái Nguyễn Văn Hoàn cho biết: Sau hơn ba năm đi vào hoạt động, đến tháng 2-2021, lối mở cầu phao Km3+4 đã có lô hàng nhập khẩu đầu tiên từ Trung Quốc về Việt Nam với tổng số 24 tấn hàng hóa. Việc thực hiện thông quan thêm nhóm hàng nhập khẩu sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy hoạt động XNK qua khu vực biên giới, giảm tình trạng quá tải lưu lượng hàng hóa qua cầu Bắc Luân II. Đồng thời đẩy mạnh cạnh tranh, giảm chi phí logistics. (Nhân dân 23/4, tr3, Quang Thọ)Về đầu trang

LĨNH VỰC CẢI CÁCH

VCCI: 68% doanh nghiệp phải hoãn, hủy kế hoạch kinh doanh vì vướng thủ tục đất đai

Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) cho biết, thủ tục đất đai là chỉ số hầu như không có sự cải thiện qua nhiều năm.

Cụ thể, số liệu từ Báo cáo về góc nhìn của doanh nghiệp đối với chương trình cải cách môi trường kinh doanh của Chính phủ do VCCI thực hiện công bố mới đây cho biết, tỷ lệ doanh nghiệp không gặp khó khăn về thủ tục đất đai trong 2 năm qua giảm từ 39% năm 2019 xuống 29% năm 2020.

Các khó khăn có thể kể đến là cán bộ không hướng dẫn đầy đủ, chi tiết (với 18% doanh nghiệp gặp phải); việc xác định giá trị quyền sử dụng đất mất nhiều thời gian (16%) và quy trình, thủ tục giải quyết hồ sơ không đúng quy định (12%). Khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp gặp phải là thời hạn giải quyết hồ sơ lâu hơn so với quy định (với 38% doanh nghiệp gặp vấn đề).

Đặc biệt, nhóm nghiên cứu cũng đề nghị các doanh nghiệp cho biết những trải nghiệm trong quá trình thực hiện thủ tục đất đai có ảnh hưởng như thế nào đối với kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ, như việc phải hủy bỏ kế hoạch sản xuất kinh doanh, trì hoãn, không có ảnh hưởng gì, đến góp phần đẩy nhanh kế hoạch kinh doanh nếu doanh nghiệp không gặp khó khăn.

“Kết quả là vẫn có tới 70% doanh nghiệp trả lời họ gặp khó khăn trong quá trình thực hiện thủ tục này và 68% doanh nghiệp cho biết phải hủy bỏ hoặc trì hoãn kế hoạch sản xuất kinh doanh khi gặp các khó khăn trong quá trình làm thủ tục đất đai”, ông Đậu Anh Tuấn, Trưởng ban Pháp chế VCCI, đồng thời là trưởng nhóm thực hiện báo cáo nói và nhấn mạnh rằng: “Đây là một tỷ lệ rất cao nếu như so sánh với các lĩnh vực thủ tục khác như khởi sự kinh doanh, thuế, bảo hiểm xã hội”. (Đầu tư chứng khoán 23/4, trang Bất động sản, Linh Việt)Về đầu trang

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong ngành Kiểm sát nhân dân

Ngày 22/4, tại Hà Nội, VKSND tối cao đã có buổi làm việc với Bộ Thông tin và Truyền thông về ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành Kiểm sát nhân dân. Đồng chí Lê Minh Trí, Uỷ viên Trung ương đảng, Viện trưởng VKSND tối cao và đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Uỷ viên Trung ương đảng, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì buổi làm việc.

Đánh giá về các ứng dụng CNTT của ngành KSND cho thấy, trong những năm qua, VKSND tối cao đã xây dựng các phần mềm góp phần hiệu quả trong công tác quản lý, chỉ đạo điều hành và các hoạt động nghiệp vụ. Tuy nhiên, việc ứng dụng các phần mềm vẫn còn nhiều hạn chế.

Cụ thể, đối với phần mềm sử dụng chung của toàn Ngành một số chức năng còn chậm, đặc biệt các phần mềm có dữ liệu lớn, nghiệp vụ phức tạp, số lượng kết nối nhiều, dữ liệu dạng ảnh, dữ liệu video...

Các phần mềm trong Ngành được đầu tư các thời kỳ khác nhau với công nghệ khác nhau, kinh phí đầu tư còn hạn chế, do đó các phần mềm còn rời rạc, không có sự liên thông. Hạ tầng CNTT để vận hành các phần mềm ứng dụng mới chỉ đáp ứng yêu cầu cơ bản chưa đáp ứng được các yêu cầu mới của Ngành; một số nghiệp vụ cần thiết chưa được đầu tư xây dựng phần mềm. Bên cạnh đó, trình độ tin học, ý thức trách nhiệm về ứng dụng CNTT của công chức, Kiểm sát viên kể cả kỹ sư CNTT tại Viện kiểm sát các cấp còn hạn chế.

Về hạ tầng CNTT phần lớn máy chủ của VKSND cấp tỉnh trang bị từ năm 2014 đã hết khấu hao, công nghệ lạc hậu thường xuyên hỏng hóc; riêng tại Trung tâm dữ liệu được đầu tư mới một số máy chủ từ năm 2018 đáp ứng được nhu cầu cơ bản trong Ngành. Nhìn chung, hạ tầng CNTT tại VKSND tối cao mới chỉ đáp ứng được một phần hoạt động của các ứng dụng dùng chung trong ngành KSND.

Giai đoạn 2021 - 2030, nhu cầu  ứng dụng CNTT được VKSND tối cao xác định đó là: Bảo đảm 100% các văn bản (trừ tài liệu mật) trao đổi giữa các đơn vị trong và ngoài Ngành được thực hiện dưới dạng điện tử; Viện trưởng VKSND các cấp theo dõi được 100% các phiên tòa cùng cấp và cấp dưới bằng hình thức trực tuyến; 80% các cuộc họp giữa các cấp được tổ chức dưới hình thức trực tuyến; 100% các vụ án, đơn thư được quản lý bằng phần mềm; triển khai chứng thư số, chữ ký số...

Sau khi nghe đại diện Cục 2 - VKSND tối cao báo cáo thực trạng và định hướng phát triển công nghệ thông tin trong ngành KSND và các ý kiến bổ sung, phát biểu tại buổi làm việc, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã phát biểu trả lời, làm rõ thêm những nội dung đề nghị tư vấn của VKSND tối cao.

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số đóng vai trò rất quan trọng và nó phải được triển khai toàn diện. Đối với VKSND tối cao cần xây dựng chiến lược chuyển đổi số trong toàn ngành KSND. Trong đó, để thực hiện chuyển đổi số trong toàn ngành Kiểm sát đòi hỏi phải có chiến lược, tầm nhìn, cách tiếp cận đột phá cùng quyết tâm chính trị của người đứng đầu. (Baovephapluat.vn 23/4, Đắc Thái)Về đầu trang

Bộ Tài chính cải cách đồng bộ thủ tục hành chính, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin

Để tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức và nâng cao hiệu quả quản lý của cơ quan nhà nước, Bộ Tài chính đã tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào các hoạt động của Ngành.

Trong quý I/2021, Bộ Tài chính tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các thủ tục hành chính thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý nhằm mục tiêu cải cách thủ tục hành chính một cách toàn diện và hiệu quả, nhằm tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp để cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Từ ngày 01/01/2020 đến hết ngày 10/3/2020, Bộ Tài chính đã ban hành 01 Quyết định công bố bãi bỏ 05 thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực quản lý công sản. Trên cơ sở Quyết định công bố thủ tục hành chính, Bộ Tài chính đã thực hiện việc công khai và cập nhật đầy đủ và kịp thời lên Cổng dịch vụ công quốc gia theo đúng quy định.

Cơ chế một cửa trong giải quyết thủ tục hành chính được Bộ Tài chính triển khai hiệu quả. Trong quý I/2021, Bộ Tài chính tiếp tục vận hành mô hình tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa tại trụ sở cơ quan Bộ đảm bảo ổn định và hiệu quả.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang triển khai dự án “Nâng cấp Cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử Bộ Tài chính” nhằm đáp ứng các yêu cầu, kỹ thuật theo quy định tại Thông tư số 18/2019/TT-BTTTT ngày 25/12/2019 và Thông tư số 22/2019/TT-BTTTT ngày 31/12/2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông góp phần phục vụ công chức trong thực hiện giải quyết thủ tục hành chính được hiệu quả, tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức.

Cùng với cải cách hiệu quả thủ tục hành chính, Bộ Tài chính đã chú trọng đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động. Trong đó, triển khai phần mềm quản lý văn bản (eDocTC), Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện việc gửi, nhận văn bản điện tử đảm bảo thông suốt và đồng bộ.

Lũy kế từ thời điểm triển khai (ngày 01/12/2015) đến nay, số lượng văn bản điện tử được quản lý, lưu trữ trên chương trình eDocTC là 1.707.477 văn bản, trung bình số lượng văn bản điện tử được quản lý, lưu trữ là 426.862 văn bản/năm.

Bộ Tài chính bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, giải pháp kết nối liên thông giữa hệ thống quản lý văn bản và điều hành của Bộ Tài chính với Trục liên thông văn bản quốc gia theo đúng hướng dẫn của Văn phòng Chính phủ. Hiện nay, Bộ Tài chính đã nhận được 39.572 văn bản và đã gửi 12.254 văn bản thông qua Trục liên thông văn bản quốc gia với 95 cơ quan, đơn vị. 

Đẩy mạnh triển khai cung cấp dịch vụ công trực tuyến, hiện nay, Bộ Tài chính đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến 946 thủ tục, trong đó bao gồm: 101 dịch vụ công trực tuyến mức độ 1; 295 dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; 214 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 336 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Tổng số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 của ngành Tài chính là 550 dịch vụ (đạt tỷ lệ 58%).

Trong triển khai xây dựng Hệ thống thông tin báo cáo, Bộ Tài chính đã hoàn thành thử nghiệm kết nối, chia sẻ dữ liệu báo cáo về kê khai định kỳ tài sản công từ Hệ thống thông tin báo cáo Bộ Tài chính với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ. Đồng thời, đã rà soát và bổ sung 04 báo cáo thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước, đầu tư, giá và hải quan để thử nghiệm và kết nối với Hệ thống thông tin báo cáo Chính phủ.

Việc cải cách thủ tục hành chính cũng như ứng dụng công nghệ thông tin của Bộ Tài chính đã mang lại những hiệu quả tích cực, đáng ghi nhận, góp phần tiết kiệm thời gian thực hiện các thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức, phù hợp với khả năng của cơ quan thực hiện thủ tục hành chính. (Tapchitaichinh.vn 23/4, Trần Huyền)Về đầu trang

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

Đồng Nai: Khảo sát việc thực hiện văn phòng phục vụ chung

Sáng 22-4, đoàn công tác của Văn phòng Trung ương Đảng do đồng chí Bùi Văn Thạch, Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng làm trưởng đoàn đã có buổi khảo sát tại Tỉnh ủy Đồng Nai về việc thực hiện Quy định 04-QĐi/TW ngày 25-7-2018 của Ban Bí thư Trung ương về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy.

Theo lãnh đạo các ban Đảng Tỉnh ủy, trong Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư chỉ quy định cụ thể tên gọi các phòng trực thuộc của Văn phòng Tỉnh ủy, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Ban Dân vận Tỉnh ủy và Ban Nội chính Tỉnh ủy mà không quy định tên gọi các phòng trực thuộc Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nên đơn vị này lúng túng khi cụ thể hóa, quy định chức năng, nhiệm vụ của các phòng trực thuộc. Hướng dẫn 37-HD/BTCTW của Ban Tổ chức Trung ương về một số nội dung tuyển dụng công chức, viên chức cơ quan Đảng, MTTQ và các tổ chức chính trị- xã hội có quy định, khi tuyển dụng công chức làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu trong các cơ quan Đảng từ cấp tỉnh đến cấp huyện phải là đảng viên, dẫn đến thực trạng các ban Đảng thiếu biên chế nhưng khó tuyển được công chức đủ tiêu chuẩn làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu.

Đối với thực hiện văn phòng phục vụ chung, về lĩnh vực tài chính đã gây nhiều áp lực cho phòng chuyên môn của Văn phòng Tỉnh ủy vì khối lượng công việc tăng lên rất nhiều; trong khi đó ở các ban Đảng dù việc kế toán đã chuyển về Văn phòng Tỉnh ủy, không còn biên chế cho nhiệm vụ này nhưng các ban Đảng vẫn phải bố trí 1 công chức để phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy, thực hiện kiêm nhiệm một số nội dung công việc của kế toán để thực hiện nhiệm vụ tài chính của đơn vị mình, như lập dự toán hàng năm, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chi theo dự toán được duyệt, tạm ứng kinh phí cho các hoạt động của ban mình, lập chứng từ đề xuất và đề nghị thanh toán…Đồng thời, khi thực hiện văn phòng phục vụ chung, ở bộ phận lái xe, một số ban Đảng thường phát sinh công việc đột xuất, phải làm việc nhiều nhưng khi cần xe đi công tác thì không chủ động được xe, do phải phụ thuộc vào việc điều xe từ khâu trung gian là Văn phòng Tỉnh ủy.

Trước những thuận lợi và bất cập từ việc thực hiện Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư, có ý kiến cho rằng, nên trở lại mô hình hoạt động của các ban Đảng như trước đây để chủ động trong thực hiện nhiệm vụ; nhưng cũng có ý kiến nêu, mô hình văn phòng phục vụ chung như hiện nay là tốt, tuy nhiên phải khắc phục ở lĩnh vực tài chính, giao hết nhiệm vụ này về Văn phòng Tỉnh ủy, không còn khâu trung gian ở các ban Đảng với Văn phòng Tỉnh ủy, như thế để các ban Đảng chỉ tập trung làm nhiệm vụ chuyên môn ở lĩnh vực công tác của đơn vị mình.

Qua các ý kiến phát biểu tại buổi làm việc, Phó bí thư thường trực Tỉnh ủy Hồ Thanh Sơn cho rằng, có 2 xu hướng đặt ra trong việc thực hiện Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư, là: trở lại mô hình cũ và thực hiện như quy định mới, song quan trọng là phải trả lời được vấn đề bản chất ở đây là cái gì, làm sao phát huy được vai trò và nguồn lực của các ban Đảng trong việc tham mưu, giúp việc Tỉnh ủy. Tới đây Tỉnh ủy sẽ sơ kết việc thực hiện Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư để đánh giá sâu hơn những ưu điểm, khó khăn, bất cập trong vấn đề này, qua đó cái tốt thì phát huy, những bất cập thì phải tháo gỡ, từ đó để các đơn vị chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Chia sẻ tại buổi làm việc, Phó chánh Văn phòng Trung ương Đảng Bùi Văn Thạch cho biết, Đồng Nai đã thực hiện tốt Nghị quyết 39-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư. Nếu Đồng Nai thấy việc thực hiện như Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư là tốt thì tiếp tục thực hiện, nhưng cần khắc phục ở công tác kế toán chung cho các ban Đảng. Đồng chí cũng cho biết, Quy định 04-QĐi/TW của Ban Bí thư có độ “mở”, có những quy định “mềm”, vì thế mỗi địa phương đang có cách làm khác nhau. Sau đợt khảo sát ở các địa phương, Văn phòng Trung ương Đảng sẽ báo cáo Ban Bí thư để có chỉ đạo thực hiện thống nhất trong cả nước. (Baodongnai.com.vn 22/4, Phương Hằng)Về đầu trang

PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN – NHẬN ĐỊNH

Kết quả của Đề án 896 tạo nền tảng để quản lý dân cư theo hướng hiện đại

Qua 8 năm triển khai, các nhiệm vụ của Đề án 896 đã hoàn thành, quá trình triển khai thực hiện Đề án đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, để lại dấu ấn nổi bật, nhất là nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và nhiệm vụ rà soát đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến giấy tờ công dân.

Kết quả của Đề án 896 đã tạo nền tảng để nâng cao hiệu quả quản lý dân cư theo hướng hiện đại, triển khai các phương án cải cách hành chính, xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, xã hội số.

Ngày 6/8/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 896/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu có liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 - 2020 (gọi tắt là Đề án 896).

Sự ra đời của Đề án 896 đã tạo sự đổi mới căn bản về tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước về dân cư theo hướng hiện đại, phù hợp với điều kiện của Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thông lệ quốc tế. Đề án giúp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm giấy tờ công dân, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; phục vụ quản lý Nhà nước và giao dịch của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đẩy mạnh thực hiện dịch vụ công trực tuyến tại các bộ, ngành, địa phương, tiến tới xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam.

Những nội dung của Đề án 896 là cơ sở để Chính phủ, Quốc hội xem xét trong quá trình thông qua Luật Hộ tịch và Luật Căn cước công dân.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư đối với 2 dự án Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (ngày 11/3/2020) và dự án Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân (ngày 3/9/2020), Bộ Công an đã xác định việc thực hiện 2 dự án là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách của toàn lực lượng và tập trung, chỉ đạo thực hiện rất quyết liệt, với lộ trình, bước đi cụ thể kèm theo các mốc thời gian phải hoàn thành tính theo từng ngày. Phương châm chỉ đạo xuyên suốt là phải bảo đảm hiện đại, đồng bộ, bảo mật cao, tránh lãng phí; đồng thời, với tinh thần "vừa chạy, vừa xếp hàng" để phấn đấu cơ bản hoàn thành 2 dự án trước ngày 1/7/2021.

Đến nay, về cơ bản, nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và sản xuất, cấp Căn cước công dân đã được thực hiện theo đúng tiến độ. Những kết quả nổi bật là: đã cơ bản hoàn thành việc rà soát, xây dựng, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến triển khai 2 dự án. Trong đó, Bộ Công an đã phối hợp với các bộ, ngành rà soát 5 luật, 2 nghị định, 12 thông tư cần sửa đổi; đã xây dựng, đề xuất Quốc hội thông qua Luật Cư trú (sửa đổi) tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV với nhiều nội dung đổi mới quan trọng.

Bộ Công an đã cơ bản hoàn thành việc thu thập, cập nhật, bổ sung thông tin dân cư và nhập liệu vào hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Bộ hướng dẫn, chỉ đạo Công an các địa phương tổ chức 6.000 lượt kiểm tra, phúc tra, bảo đảm dữ liệu thông tin dân cư “đúng, đủ, sạch, sống".

Ngày 25/2/2021, Chính phủ, Bộ Công an đã bấm nút khai trương hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và hệ thống Sản xuất, cấp và quản lý Căn cước công dân. Hiện nay, Bộ Công an đang chỉ đạo hoàn thiện, bổ sung, cập nhật dữ liệu để hệ thống chính thức đi vào hoạt động; đồng thời với việc triển khai quyết liệt chiến dịch cấp 50 triệu thẻ căn cước công dân hoàn thành trước ngày 1/7/2021, cùng với thời điểm Luật Cư trú sửa đổi có hiệu lực thi hành.

Đến nay, trong tổng số 1.934 thủ tục hành chính có yêu cầu thông tin công dân để giải quyết, các bộ, ngành đã đề xuất đơn giản hóa đối với 1.126 thủ tục hành chính, chiếm 58,2%. Trong đó đề xuất bãi bỏ, hủy bỏ 34 thủ tục hành chính; đơn giản hóa trình tự thực hiện đối với 28 thủ tục hành chính; cắt giảm thành phần hồ sơ của 1.042 thủ tục hành chính; sửa nội dung 812 mẫu đơn, 201 tờ khai và đơn giản hóa 22 giấy tờ công dân.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Văn phòng Ban Chỉ đạo 896 đã thực hiện rà soát độc lập và đề xuất rà soát bổ sung đối với 399 thủ tục hành chính, đề xuất các phương án đơn giản hóa mạnh mẽ hơn đối với 406 thủ tục hành chính, nâng tổng số thủ tục có phương án lên 1.525 thủ tục hành chính.

Chính phủ đã thông qua 19 nghị quyết đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư trên các lĩnh vực quản lý Nhà nước. Sau khi Chính phủ ban hành các nghị quyết này, các bộ, ngành đã khẩn trương ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện, giao nhiệm vụ cụ thể của các đơn vị trực thuộc với mục tiêu sửa đổi văn bản, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành các văn bản có quy định liên quan đến việc yêu cầu thông tin công dân tại mẫu đơn, tờ khai và yêu cầu nộp giấy tờ công dân. Các bộ, ngành đã phối hợp với Công an các địa phương xây dựng dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật, trình các cấp có thẩm quyền ban hành theo đúng lộ trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Chính phủ, các bộ, ngành và UBND các địa phương, nhất là Ban Chỉ đạo 896 các cấp đã chỉ đạo quyết liệt triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ của Đề án.

Tuy nhiên, theo Văn phòng Ban Chỉ đạo Đề án, vẫn còn một số vấn đề tồn tại như việc xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử chưa đồng bộ, thống nhất với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; việc khai thác, kết nối giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành chưa có sự chuyển động đồng bộ. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư đã sẵn sàng, nhưng nhiều bộ ngành, UBND địa phương chưa có phương án khai thác, sử dụng hiệu quả... Hiện nay, nhiều đơn vị, địa phương chưa chủ động chuẩn bị hạ tầng kỹ thuật để bảo đảm việc sẵn sàng kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư

Từ đó, Văn phòng Ban Chỉ đạo 896 kiến nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, UBND các địa phương tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt và hoàn thành việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đên quản lý dân cư trên các lĩnh vực quản lý Nhà nước (theo 19 nghị quyết Chính phủ đã ban hành).

Văn phòng Ban Chỉ đạo 896 cũng đề nghị Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; khai thác, sử dụng có hiệu quả Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ xây dựng Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số. (TTXVN/Baotintuc.vn 23/4, Xuân Tùng)Về đầu trang./.

 

Trung tâm Tin học - Công báo

Các tin khác

Lượt truy cập: 12.016.812 Ghi rõ nguồn "Trang TTĐT Văn phòng UBND tỉnh Quảng Trị" khi phát hành lại thông tin từ nguồn này